Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tả Phụ Hữu Bật, Khôi Việt, Tam Thai Bát Tọa: Bộ Sao Phò Trợ

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn16/09/202620 phút đọc6 lượt đọc
Tả Phụ Hữu Bật, Khôi Việt, Tam Thai Bát Tọa: Bộ Sao Phò Trợ

Có những sao tự thân không làm nên chuyện nhưng quyết định một lá số được phò trợ đến đâu. Tả Phụ và Hữu Bật tuy đi thành đôi mà bản chất khác nhau, có vị trí phối trí đẹp nhất và mối liên hệ riêng với duyên phận. Thiên Khôi và Thiên Việt là hai sao quý nhân, phân biệt rõ vai trò, lại có lưu Khôi, lưu Việt ứng theo vận hạn. Tam Thai và Bát Tọa mang bản chất văn mặc, giúp Thái Dương, Thái Âm thêm quang huy. Mỗi cặp sao đều đi kèm những câu phú luận riêng về quý nhân, khoa danh và phúc ấm theo từng cung vị. Riêng Khôi Việt, theo vận hạn, có lúc lại chuyển sang mang tính chất Đào Hoa.


Tả Phụ Hữu Bật

Tiền nhân khi luận mệnh bảo số trai cần Tả Phụ, số gái cần Hữu Bật. Điều này không đúng. Tả Hữu là hai sao đi cặp, thường phải đủ cả hai thì mới hoàn hảo, dù rằng mỗi sao có một đặc tính riêng biệt. Tả và Hữu đều an qua tháng sinh.

Tả Phụ thuộc dương Thổ, hóa khí là "hỉ". Thổ của Tả Phụ là Thìn thổ hay đông phương thổ, đất mầu mỡ, xốp, cho nên tính tình đôn hậu, ẩn trọng, phân minh, rộng rãi, nhưng cũng có mưu lược. Thìn cung là thủy khố, nên thổ lúc nào cũng nhuận thuần, nên tài hoa mà không bừa bãi.

Tả Phụ ẩn trọng, không hợp với thương trường xông xáo — khởi nghiệp không giỏi bằng giữ nghiệp. Tả Phụ giao thiệp dễ được lòng người bởi thái độ khoan dung, ăn nói trầm ấm. Bởi vậy Tả Phụ rất sợ bị sát tinh xung phá.

Tả Phụ đứng với Liêm Trinh là phá cách, thường gặp quan tụng bất chợt, thêm Kình Dương càng rắc rối. Tả Phụ không hợp với Cự Môn và Phá Quân, vì Cự Môn chủ thị phi còn Phá Quân chủ bạo loạn. Gặp Phá Quân Kình Dương sẽ theo con đường phản loạn, như cổ nhân nói: "Phá Kình Tả Hữu chớ ngờ, gặp thời biến động ắt là loạn quân." Gặp Cự Môn thì thành nhiều sự; gặp Kình Dương trở nên xung động, kém sáng suốt, dễ bị lợi dụng.

Hữu Bật và sự khác biệt với Tả Phụ

Hữu Bật thuộc âm Thủy, giữ chế lệnh, chủ về thiện. Hữu Bật khởi từ cung Tuất, vì Tuất ở Tây Bắc phương, vào buổi thu, thời tiết thâu liễm — Hữu Bật chấp hành trách nhiệm thâu liễm ấy nên mới nói giữ thế lệnh. Khi đã bảo là chế lệnh, tất phải ép buộc. Tuất là hỏa khố, Hữu Bật lại thuộc Thủy — thủy hỏa giao chiến không dung hòa dễ dàng. Cho nên tính tình Hữu Bật nóng nảy, kiên cường, ưa can thiệp, khác với Tả Phụ vốn ẩn trọng. Nhưng khi có cả Tả lẫn Hữu thì tùy theo sao chủ, Tả Hữu sẽ biến đổi bản chất để thi thố.

Trên khả năng thì Tả với Hữu giống nhau. Ở điểm này, Tả Phụ lực chủ động mạnh hơn Hữu Bật — ẩn trọng tất nhiên chủ động hơn nóng nảy. Tả Hữu là hai sao phò tá, cần phải tựa vào chủ tinh để hành động.

Tiền nhân coi Tả Hữu là hai quan lộc tinh. Tả Phụ chính, Hữu Bật phó — Tả Phụ tiến thân theo đường chính, Hữu Bật theo dị lộ. Trung Châu phái bên Trung Quốc đưa ra lập luận: Tả Phụ chủ về sang quý, trong khi Hữu Bật chủ về giàu có.

Vị trí phối trí đẹp nhất

Đẩu Số Toàn Thư viết: "Tả Hữu đồng cung, phi la y tử" (Mệnh có Tả Hữu đứng cùng, áo tía lọng vàng) — câu trên rõ ràng hình ảnh công danh. Vấn đề áo tía lọng vàng không phải chỉ Tả Hữu đồng cung mà thành, còn tùy thuộc đồng cung với sao chủ nào, và có bị hung sát tinh đánh phá hay không.

Sự phối trí của Tả Hữu đẹp nhất là vào các cung Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc. Nếu các chủ tinh ưu tú thì cuộc đời hanh thông với địa vị, với phú quý. Hay nhất, Tả Hữu đứng cùng hoặc hội hiệp với Tử Vi, Phá Quân — nếu không bị hung sát phá, thường là người sáng tạo sự nghiệp.

Trường hợp vừa Tả Hữu vừa Xương Khúc hội tụ lại càng cần có chủ tinh của Mệnh cung hợp cách mới tốt — chủ tinh xấu thì cuộc đời thành thăng trầm, mà số nữ biến ra hồng nhan mệnh bạc.

Trường hợp Tả Hữu gặp Khôi Việt vẫn tiếp tục xem chủ tinh tại Mệnh thế nào — nếu hợp cách thì chỉ sang quý về địa vị thôi, không giàu có. Ta thấy rằng Tả Hữu hội tụ với Khôi Việt tốt hơn hội hợp với Xương Khúc.

Tả Hữu hội hiệp — một đứng ở Tài Bạch và một đứng ở Quan Lộc chiếu về Mệnh — tốt hơn đồng cung tại Mệnh, vì đồng cung vất vả hơn hội hiệp: đồng cung phải tự mình, hội hiệp thì được người giúp và hoàn cảnh đỡ nâng. Tả Hữu từ cung Tài Bạch gặp Hóa Lộc thì giàu có; Tả Hữu từ cung Quan Lộc gặp Hóa Quyền, Hóa Khoa thì sang quý — vẫn tiếp tục theo quy luật tùy thuộc chủ tinh.

Tả Hữu và chuyện gia đạo, duyên phận

Trường hợp Mệnh không chính tinh, chỉ có Tả Phụ Hữu Bật thủ, mà nhìn sang cung Phụ Mẫu thấy Hỏa Linh, qua kinh nghiệm thường là con nuôi hay con của dòng thứ thất, hoặc có cha kế mẹ kế.

Cung Phu Thê mà chỉ thấy có một Tả Phụ hay một Hữu Bật thôi, kể như xấu, hay đưa đến cuộc duyên tay ba. "Hữu Bật hội Phu cung, vi nhân hữu tiền tình chi phận" (Hữu Bật đóng cung, hoặc mình có chồng trước hoặc chồng có vợ trước). Nếu cung Phu Thê có Cự Môn, và Cự Môn Hóa Kỵ, tình hình duyên phận càng nghiêm trọng cho sự băng hoại hơn nữa.

Tả Hữu rất không ưa Hỏa Linh. Mệnh cung hoặc cung Phu mà thấy Tả Hữu, Hỏa Linh, dễ làm thứ, làm lẽ mọn — tuy nhiên vẫn còn cần tham khảo chủ tinh trước đã.

Trường hợp Tả Hữu — một ở Mệnh, một ở Phu Thê cung — mà thấy cả sát tinh, Hóa Kỵ, thì bất luận nam hay nữ đều vài bận kết hôn; nếu có thêm Đào Hoa thì đưa tới ngoại tình. Có câu phú rằng: sao Tả Hữu đồng cung, gặp gỡ Mệnh Đào Hoa thì "trước dở sau hay", ý nói hai bận lấy chồng — tuy nhiên nguyên nhân tan vỡ thường là một vụ ngoại tình do chồng hay vợ.

Trường hợp Tả Hữu — một vào Mệnh cung, một vào Phúc Đức cung — gặp sát tinh, Hóa Kỵ, thì hôn nhân không suôn sẻ do bị ép uổng, hoặc vợ hay chồng đau ốm triền miên; ta vẫn thường gọi là "bạc phước" vậy. Trường hợp này, tính hay dở của chủ tinh vẫn giữ vai trò quan trọng cho luận đoán.

Với số nữ, Tả Hữu không nên đứng cùng với Tham Lang, Phá Quân, Thất Sát, dù ba sao này đắc địa, vì như thế tình cảm không chuyên nhất. Về câu phú "Tả Hữu Xương Khúc ngộ Kình Dương Đà đương sinh dị chí" (Tả Hữu Xương Khúc gặp Kình Dương, Đà La thì có nốt ruồi lạ) — điều này qua kinh nghiệm không mấy chính xác, đôi khi "dị chí" là cái bớt chứ chẳng phải nốt ruồi.

Những câu phú cần biết về Tả Phụ Hữu Bật

Hữu Bật phùng Quả Tú tất dã trường sinh. Tả Phụ phùng Cát tinh bất vi yểu chiết.

Sao Hữu Bật hội Quả Tú ở Mệnh thì sống thọ.

Phụ Bật phùng Thiên Tướng đích thị lương y.

Thiên Tướng gặp Tả Hữu làm nghề thầy thuốc giỏi.

Tả Hữu đơn thủ, chiếu Mệnh ly tông thứ xuất.

Một sao Tả hay Hữu ở Mệnh hay chiếu Mệnh vô chính diệu thì là con bà thứ và phải xa rời quê quán.

Tả Hữu Trinh Dương tạo hình lực.

Liêm Trinh hội Tả Hữu, Kình Dương hay vướng tù tội.

Hữu Bật Thiên Tướng phúc lai lâm.

Thiên Tướng tại Mệnh được Hữu Bật thường gặp may mắn.

Phụ Bật ái nhập mộ cung, nhược phùng đế tượng, văn đoàn, võ cách hoạnh phát tài danh.

Tả Hữu đóng Thìn Tuất Sửu Mùi gặp Tử Vi, hay Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc Sát Phá Tham, có cơ hoạnh phát công danh tài lộc.

Tả, Phụ đồng cung tôn cư vạn thừa.

Tả Phụ đứng cùng Thiên Phủ là người có chức vị cao.

Tả Hữu Tài Quan kiêm hiệp cùng, y lộc phong doanh.

Tả Hữu hội hiệp ở Tài, Quan thì tiền tài sung túc.

Phụ Bật giáp Đế phúc lai lâm.

Tả Hữu giáp Mệnh cung có Tử Vi thì vinh hiển.

Phụ Bật vị Phu cung vi nhân hữu tiền tình chi phận.

Hữu Bật đóng cung Phu, làm vợ bé.

Tả Hữu tại Phu cung, vô môi tự giá.

Cung Phu thấy Tả Hữu thì theo trai mà thành chồng vợ.

Phụ Bật Thiên Phúc đồng viên
Ngôi cao chính viện danh truyền y quan.

Phụ Bật gặp Thái Âm nhàn
Số làm bà đỡ cứu phường sơ sinh.

Mộ phùng Tả Hữu đồng lai
Thăng quan tiến chức miếu đài rạng danh.

Giáp Long giáp Phượng đôi nơi
Tả Hữu Thai Tọa lâu đài thiếu niên.

Tả Hữu đắc vị đồng sang
Ấy là được cách thanh nhàn hiển vinh.

Cự Cơ hợp Khúc Xương Tả Hữu
Ở Mão cung rạng rỡ công danh.

Lộc Tồn ám tật miên trường
Khúc Xương Tả Hữu tai ương phải phòng.

(Nói về Tả Hữu Khúc Xương ở cung Tật Ách.)

Vũ Tướng Tả Hữu đồng lưu
Nhất hô bách nặc ai đâu dám bì.

(Cung Nô Bộc có Vũ Tướng, Tả Hữu thì tay em đắc lực.)

Thiên Khôi Thiên Việt

Thiên Khôi Thiên Việt còn có một tên gọi khác là Thiên Ất Quý Nhân. Những tên gọi này thường dùng trong khoa Tử Bình, ít nhất trong khoa Tử Vi. Cả hai chủ về khoa danh, nhưng còn nên hiểu theo một ý nghĩa khác nữa, như là cơ hội để khỏi bị bó hẹp.

Nếu Xương Khúc chủ khoa danh, rồi lại Khôi Việt cũng khoa danh, thì ý nghĩa trở thành lẫn lộn. Thật ra cổ nhân có phân biệt: Xương Khúc thì thông minh tài trí, văn chương học vấn; còn Khôi Việt thì tạo đất dụng võ cho thông minh tài trí và văn chương học vấn ấy. Thi cử thì Xương Khúc có lợi, nhưng ra làm việc thì Khôi Việt mới thuận.

Có câu phú rằng: "Khoa Quyền ngộ Khôi Việt dị thành công, Xương Khúc hữu Âm Dương nhi đắc lực" — nghĩa là Hóa Khoa, Hóa Quyền được Khôi Việt dễ thành công hơn, và Xương Khúc gặp Nhật Nguyệt đắc lực hơn.

Phân biệt Thiên Khôi và Thiên Việt

Thiên Khôi đi theo đường chánh. Thiên Việt đi với dị lộ (dị lộ không phải đường tà mà là đường khác người). Qua bảng thần thoại, theo truyền thuyết Thiên Khôi cầm bút chu sa ghi tên những ai đăng khoa, xuất sĩ — bởi thế khi các sĩ tử đi thi thường làm cỗ cúng Thiên Khôi tinh; thi đỗ rồi, con đường trước mắt là xuất sĩ. Phần Thiên Việt nếu đi cặp được với Thiên Khôi thì mới vào chánh đạo — Thiên Việt đứng một mình thường chỉ gặp những cơ hội nhỏ thôi.

Thiên Khôi thuộc dương Hỏa, tốt hơn với người sinh ban ngày, vì Thiên Khôi là nhật quý — Thiên Khôi tạo gương mặt sáng sủa cho con người. Thiên Việt thuộc âm Hỏa, tốt hơn với người sinh ban đêm, có phong thái đĩnh đạc. Thiên Việt mang thêm tính chất đào hoa — gặp Thiên Riêu, Đào Hoa càng đa tình. Nhưng Thiên Việt gặp Hồng Loan, cổ nhân gọi bằng "hồ đồ đào hoa", hay yêu sảng, nhất là phái nữ.

Khôi Việt và duyên phận

Khôi Việt một đóng ở Mệnh, một đóng ở Thê mà Thân cư Thê, gia hội các cát tinh khác thì đỗ đạt sớm, lấy vợ đẹp xinh; nếu không hội hợp cát tinh thì khoa danh lận đận, nhưng chuyện vợ đẹp xinh vẫn không thay đổi.

Sách có câu: "Tuy phú quý nhi bất miễn dâm dật" để nói về Khôi Việt đối với nữ mạng. Trên thực tế kinh nghiệm, chỉ có gặp ác sát, Địa Không, Địa Kiếp thì mới dâm dật, chứ không phải cứ Khôi Việt là dâm dật.

Khôi Việt một ở Sửu một ở Mùi, Mệnh với Thiên Di, cách gọi bằng "tọa quý hướng quý". Tốt hay xấu còn phải tùy thuộc chính tinh tại Mệnh cung — nếu có các sao tốt thì bất luận trai hay gái đều giàu sang. Nhưng cách tọa hướng quý kể như một cách đào hoa vậy.

Lưu Khôi, lưu Việt theo vận hạn

Khôi Việt còn có lưu Khôi lưu Việt theo vận hạn mỗi năm. Ví dụ người tuổi Giáp, Thiên Khôi đóng Sửu, Thiên Việt đóng Mùi, gặp lưu niên vận hạn Giáp, Mậu, Canh tất nhiên được thêm lưu Khôi lưu Việt, hỷ khánh tăng lên tùy theo cung nào có chúng. Như ở cung Thê mà gặp năm lưu Khôi lưu Việt thì chuyện lấy vợ càng rõ ràng; nếu cung Tử Tức thì chuyện có con càng chắc chắn — được Khôi Việt hiệp cũng cần có lưu Khôi lưu Việt thì lực lượng mới phát huy.

Ví dụ người tuổi Đinh, Thiên Khôi đóng Hợi, Thiên Việt đóng Dậu; Thìn, Tuất là cung Khôi Việt hiệp; vận năm Bính, Khôi lưu đến Hợi, Việt lưu đến Dậu, gọi bằng "lưỡng trùng Khôi Việt" thì cơ hội tốt đẹp đến nhiều hơn.

Khôi Việt cần đi đôi, đi đôi rồi lại cần trùng điệp mới hay. Khôi Việt hiệp Mệnh rất hợp với hai sao Tử Vi, Thiên Tướng — người Mệnh Tử Vi Thiên Tướng vốn đã mang sẵn lắm khuyết điểm, nhưng nếu có Khôi Việt hiệp sẽ hóa giải những khuyết điểm ấy. Khôi Việt đứng đối nhau rất hợp với Thái Âm, Thái Dương — Nhật Nguyệt tọa Mệnh cung vốn có nhiều khuyết điểm, cuộc đời khó thuận buồm xuôi gió, nhưng gặp Khôi Việt đối nhau tất thi cử dễ dàng hơn, đồng thời gặp quý nhân đề bạt, đẩy chức phận lên cao.

Khôi Việt tại các cung vị

Khôi Việt đóng Thân, Tí rất hợp với sao Vũ Khúc — Vũ Khúc đi cùng Hóa Lộc càng tốt nữa, ắt thành công trên mặt kinh doanh. Khôi Việt ở Dần, Ngọ rất hợp với Cự Môn ở Tuất, sách gọi bằng cách "phản bối" — cách này thường gặp những kỳ ngộ về may mắn.

Khôi Việt không bao giờ đóng ở Thìn và Tuất — cổ nhân viện lẽ rằng quý nhân không đi vào đất la võng, tính chất tế nhị của Khôi Việt không chịu đựng nổi sức ép của lưới trời lưới đất.

Một điều cần chú ý: Khôi Việt ở Sửu Mùi — hai cung này chỉ kể làm vượng địa chứ không phải miếu địa cho quý nhân. Sách Đẩu Số Toàn Thư viết nếu ngoài bốn chục tuổi mà gặp hạn Khôi Việt Sửu Mùi thì gọi bằng "quý nhân nhập mộ" — chẳng những không là cơ hội tốt mà biến ra những cái họa mai phục, ẩn giấu. Câu: "Khôi Việt trùng phùng kiêm sát tấu, cố tật vưu đa" (gặp trùng điệp Khôi Việt mà thêm sát tinh nữa ắt sẽ bị bệnh thành tật không khỏi). Như vậy ngoài tuổi bốn chục, lưu niên và đại hạn đi vào Sửu Mùi, có Khôi Việt rồi lại lưu Khôi Việt thêm Hỏa Linh, Kình Dương, Đà La thì bệnh tật triền miên.

Đời xưa tuổi thọ trung bình so với đời nay ngắn hơn, bởi vậy cổ nhân mới lấy bốn chục làm chuẩn; thời đại nay tuổi thọ trung bình cao hơn nên tính từ ngoài năm mươi mới đúng.

Khôi Việt chuyển thành Đào Hoa

Ngoài bốn chục, gặp Khôi Việt trùng phùng đi cặp với những sao Đào Hoa thì Khôi Việt hóa thân thành đào hoa — nam hay nữ đều gặp những cuộc tình ngoại hôn, hoặc bấy giờ mới lấy chồng, lấy vợ. Khôi Việt chủ về Đào Hoa, nhưng chỉ vào Phúc Đức hay Phu Thê mới kể, còn vào Mệnh cung thì không phải.

Ví dụ Phúc Đức ở Tí, Phu Thê ở Thân, người tuổi Ất, tuổi Kỷ, Khôi Việt đóng Tí Thân — nếu hai cung này xuất hiện Thiên Riêu, Mộc Dục, Đào Hoa, đương nhiên Khôi Việt chuyển thành đào hoa tinh. Sau đó mới phối hợp chính diệu của các cung Phối với Phúc mà đoán định — giả như cung Phúc có Thiên Đồng, Thái Âm thì đoán rằng do ý chí mềm yếu mà gặp đau khổ duyên tình; nếu có Vũ Khúc, Thiên Phủ thì đoán rằng có quan hệ với một người đã có gia đình.

Trường hợp chính tinh vững vàng lại có Lộc thì thành cách lấy vợ giàu — ví dụ Phúc Đức là Tử Vi, cung Phối là Vũ Khúc Hóa Lộc, rồi Mệnh cung lại gặp Lộc Tồn. Trường hợp Mệnh vô chính diệu, Khôi Việt đơn thủ mà gặp hung sát tinh, ắt bị thương hoặc có tật. Khôi Việt gặp Hỏa Linh lắm tai ương; Khôi Việt gặp Không Kiếp trở nên vô dụng.

Những câu phú cần biết thêm về Thiên Khôi Thiên Việt

Khôi Việt Mệnh Thân vi trưởng tử.

Mệnh Thiên Khôi, Thân Thiên Việt thường là con trưởng hoặc nắm quyền trưởng.

Khôi Việt nhập Thân ư gia quốc tất vi nhân trưởng.

Khôi Việt đóng Thân, thường ở địa vị đàn anh.

Khôi Việt Mệnh Thân đa triết quế.

Có Khôi Việt ở Mệnh Thân thì đỗ đạt cao.

Thiên Khôi Thiên Việt cái thế văn chương.

Khôi Việt vào Mệnh học hành uyên bác.

Khôi Việt Xương Khúc Lộc Tồn phù hình, sát vô xung, đa phú quý.

Mệnh phù trợ bởi Khôi Việt, Xương Khúc, Lộc Tồn mà không bị sát tinh xung phá ắt giàu sang.

Khôi Việt đa văn ngộ Đà Kỵ thiên di đạt sĩ.

Khôi Việt gặp Kình Dương, Đà La từ cung Thiên Di thì tài giỏi, nhưng ẩn dật.

Khôi Xương Tả Hữu tương hội hợp, phụ long phan phượng thượng cửu trùng.

Thiên Khôi, Văn Xương, Tả Phụ, Hữu Bật hội tụ vào Mệnh, được người đề bạt mà hiển vinh.

Tả Hữu Khôi Việt vi phúc thọ.

Mệnh có Tả Hữu, Khôi Việt vừa có phúc vừa thọ.

Khôi Việt đan thủ tử, hữu quý.

Cung Tử Tức có Khôi Việt đơn thủ thì sinh con tài giỏi.

Thiên Khôi Thiên Việt, phu phụ mỹ lệ.

Cung Phối có Khôi Việt thì hoặc vợ đẹp hoặc chồng bảnh.

Khôi Việt đan thủ Tài Bạch thanh cao, nhất sinh toại ý.

Cung Tài Bạch có Khôi Việt thì thanh cao, sang trọng mà không giàu có.

Sao Quan Phúc cùng Khôi tinh
Đóng vào Thân Mệnh đề danh bảng rồng.

(Quan Phúc đây là Thiên Quan, Thiên Phúc.)

Việt Khôi Quyền Lộc trong ngoài
Trưởng nam trưởng nữ gái trai đồng bàn.

Việt Khôi Long Phượng Khúc Xương
Ngộ Khoa ắt hẳn bẻ cành quế hoa.

Việt Khôi, Lương Tướng, quý trung
Ắt là con giống cháu dòng chẳng sai.

Khôi ngộ Kỵ trên đầu có tật
Vượng ngộ Khôi thật lắm nốt ruồi.

Cung tử tức trong ngoài Khôi Việt
Hẳn sinh người hào kiệt khoa danh.

Lưỡng quý phùng Tử Vi Đoài Chấn
Ắt sinh con cầu tự chẳng sai.

(Khôi Việt gặp Tử Vi ở Mão với Dậu thì có con cầu tự.)

Việt Khôi là cách văn chương
Khôi là khôi ngộ, Việt thường da đen.

Khôi Việt miếu địa trưởng huynh
Gia đình xã hội hẳn dành ngôi trên.

Việt, Linh Hình ngộ Cơ Lương
Hoặc là Nhật Nguyệt ắt chờ lôi kinh.

(Lôi kinh là bị sét đánh hay điện giật.)

Ân Quý Khôi Việt Đào Hồng
Trai cận cửu trùng gái tất cung phi.

Việt Khôi Quyền Lộc khá bàn
Trong nhà bậc trưởng ra đàng bậc trên.

Việt Khôi Quyền Tướng đáng yêu
Lại gia Tử Phủ mọi chiều vinh quang.

(Nhưng sao nói trên hội vào cung Phu Thê.)

Cự Kỵ nên tránh đò sông
Phục Binh Hình Việt mắc vòng gươm đao
Hỏa Linh Hình Việt khác nào
Không bị sét đánh, búa dao có ngày.

Việt Khôi là cách ung dung
Việt thường nhờ bạn, Khôi thường gặp sang.

(Câu trên nói về Khôi Việt đóng cung Thiên Di.)

Khôi Khoa Xương Khúc Tấu thư
Phát đà văn học có dư anh tài.

(Khôi Việt, Xương Khúc, Tấu Thư ở cung Phúc Đức.)

Cung giải mà ngộ Khôi Hình
Số người phải mắc pháp hình đau thương.

Tam Thai Bát Tọa

Tam Thai (phải đọc là Tam Đài mới đúng) thuộc dương Thổ. Chủ về văn mặc (văn từ bút mực), trợ giúp cho quang huy của Thái Dương. Tam Thai tính tình ngay thẳng, vô tư. Nếu đứng bên Thái Dương hoặc được Thái Dương đắc địa chiếu thì càng sáng sủa. Tam Thai đứng cung nào cũng được, không có đất hãm cho sao này.

Bát Tọa (phải đọc là Bát Tòa) thuộc âm Thổ, tính tình thẳng thắn, bộc trực, có phần vội vã, cũng chủ về văn mặc và trợ giúp quang huy cho Thái Âm. Bát Tọa đứng bên Thái Âm hoặc được Thái Âm đắc địa chiếu sẽ làm tăng quang huy cho Thái Âm. Bát Tọa đứng chỗ nào cũng được, không bị thất hãm.

Một số Tử Vi gia Trung Quốc cho rằng Thai Tọa kỵ đứng vào cung Phu Thê, sẽ gây ra tình trạng ly khắc. Tử Vi Việt đối với Thai Tọa vào cung Phối chẳng những không trở ngại mà còn đẹp nữa.

Một vài sách Tử Vi Việt lại bảo Tam Thai thuộc Thủy và Bát Tọa thuộc Mộc. Nếu đọc là Đài với Tòa thì thuộc Thổ có phần chính xác — Thai Tọa với Tử Vi Việt là sự khôn ngoan, sang trọng, nhà cửa cao sang. Như vậy thì rõ ràng là Đài với Tòa chứ không còn phải là Thai với Tọa nữa.

Thai Tọa theo các lý thuyết gia Trung Quốc

Thai Tọa theo các lý thuyết gia Trung Quốc mang một đặc điểm: phải tựa vào sao khác thì mới thành lực lượng, nếu đứng một mình thì vô giá trị. Giá trị của Thai Tọa là làm cho địa vị, tài sản, sự nghiệp thêm thanh vọng và ổn định.

Thai Tọa cần Xương Khúc, Ân Quang, Thiên Quý, Long Trì, Phượng Các, Thai Phụ, Phong Cáo, và tựa vào Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương (cho người sinh ban ngày), Thái Âm (cho người sinh ban đêm). Thai Tọa gặp lưu niên Thái Tuế tạo ra thanh thế cho năm ấy.

Tam Thai hội hợp cùng cát diệu
Thời một phen dưỡng dục nên người
Giáp Thai Giáp Tọa danh phận tảo vinh.

(Mệnh giáp Thai Tọa thành công sớm — câu này không lấy gì làm chính xác.)

Những câu phú về Thai Tọa

Giáp Bát Tọa giáp Tam Thai
Thiếu niên sớm dự các đài nghênh ngang.

Tam Thai hội hợp cùng Cát diệu
Thời một phen dưỡng dục nên người.

Mộ trung Thai Tọa văn mưu võ lược kiêm ưu.

Thai Tọa đóng Mệnh ở các cung Mộ thì văn mưu, vũ lược đều hay.

Bát Tọa hướng Dương, thị tụng ư cung cấm.

Bát Tọa có Thái Dương là người được ra vào nơi cung cấm, quyền chức.

Thai Tọa Phong Cáo hiển ấm thừa quang.

Mệnh hay Phúc Đức có Thai Tọa, Phong Cáo thì được hưởng phúc ấm của ông cha.

Thiên Mã ngộ Tam Thai anh hùng vô đối.

Mệnh có Thiên Mã đứng với Tam Thai là con người bản lĩnh, anh hùng.


Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn