Bài tổng quan
Nạp Âm Trong Tử Vi: Ý Nghĩa, Sáu Tượng Kim Và Sáu Tượng Thủy
Nạp âm là tên gọi riêng cho từng cặp can chi trong vòng Lục Thập Hoa Giáp, gồm ba mươi tên. Phối với Mệnh cung, nạp âm năm sinh làm tăng hay giảm tính hung bạo, nhu hòa của các sao. Mỗi hành có sáu tượng nạp âm, mỗi tượng một tâm tính. Hải Trung Kim có danh mà vô hình, Kim Bá Kim mỏng như tơ lụa cần mài dũa, Bạch Lạp Kim như ngọc chưa mài, Sa Trung Kim cùn nhụt phải bền chí, Kiếm Phong Kim sắc bén cương nghị, Thoa Xuyến Kim là đồ trang sức. Bên hành Thủy, Giản Hạ Thủy như lạch suối lúc tiến lúc lui, Đại Khê Thủy khí lượng lớn, Trường Lưu Thủy vĩnh cửu, Thiên Hà Thủy nuôi vạn vật, Tinh Tuyền Thủy ẩn mật. Đại Hải Thủy làm thiện hay làm ác đều dữ dội.
Nạp Âm Là Gì?
Tuổi Giáp Tí nếu tách rời can chi ra thì Giáp là dương Mộc và Tí là dương Thủy. Tuổi Ất Sửu tách rời can chi ra thì Ất là âm Mộc, Sửu là thấp Thổ thuộc âm. Gộp hai tuổi lại, Giáp Tí Ất Sửu nạp âm thành Hải Trung Kim. Vậy Hải Trung Kim là cái tên nạp âm cho hai tuổi Giáp Tí, Ất Sửu.
Một vòng từ Giáp Tí đến Quí Hợi có sáu chục năm. Mỗi mười năm lại có một chữ Giáp đứng đầu: a) Giáp Tí, b) Giáp Tuất, c) Giáp Thân, d) Giáp Ngọ, e) Giáp Thìn, f) Giáp Dần — gọi bằng Lục Thập Hoa Giáp, chia làm ba mươi tổ Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, mỗi hai năm một tổ. Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ qua nạp âm để định từng tính chất khác nhau giữa Kim với Kim, Mộc với Mộc. Như bảng dưới đây:
Giáp Tí - Ất Sửu: Hải Trung Kim
Bính Dần - Đinh Mão: Lư Trung Hỏa
Mậu Thìn - Kỷ Tị: Đại Lâm Mộc
Canh Ngọ - Tân Mùi: Lộ Bàng Thổ
Nhâm Thân - Quí Dậu: Kiếm Phong Kim
Giáp Tuất - Ất Hợi: Sơn Đầu Hỏa
Bính Tí - Đinh Sửu: Giản Hạ Thủy
Mậu Dần - Kỷ Mão: Thành Đầu Thổ
Canh Thìn - Tân Tị: Bạch Lạp Kim
Nhâm Ngọ - Quí Mùi: Dương Liễu Mộc
Giáp Thân - Ất Dậu: Tinh Tuyền Thủy
Bính Tuất - Đinh Hợi: Ốc Thượng Thổ
Mậu Tí - Kỷ Sửu: Tích Lịch Hỏa
Canh Dần - Tân Mão: Tùng Bách Mộc
Nhâm Thìn - Quí Tị: Trường Lưu Thủy
Giáp Ngọ - Ất Mùi: Sa Trung Kim
Bính Thân - Đinh Dậu: Sơn Hạ Hỏa
Mậu Tuất - Kỷ Hợi: Bình Địa Mộc
Canh Tí - Tân Sửu: Bích Thượng Thổ
Nhâm Dần - Quí Mão: Kim Bá Kim
Giáp Thìn - Ất Tị: Phú Đăng Hỏa
Bính Ngọ - Đinh Mùi: Thiên Hà Thủy
Mậu Thân - Kỷ Dậu: Đại Dịch Thổ
Canh Tuất - Tân Hợi: Thoa Xuyến Kim
Nhâm Tí - Quí Sửu: Tang Đố Mộc
Giáp Dần - Ất Mão: Đại Khê Thủy
Bính Thìn - Đinh Tị: Sa Trung Thổ
Mậu Ngọ - Kỷ Mùi: Thiên Thượng Hỏa
Canh Thân - Tân Dậu: Thạch Lựu Mộc
Nhâm Tuất - Quí Hợi: Đại Hải Thủy
Rồi trong mỗi tổ hai năm lại phân ra khí thế mạnh yếu giữa hai năm ấy. Xin đọc một đoạn dưới đây trích từ sách Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển:
"...Ngày xưa vua Hoàng Đế lấy Giáp Tí phân tích nặng nhẹ để phối hợp nên sáu mươi, gọi bằng Hoa Giáp Tí. Chữ Hoa ở đây mang hàm nghĩa ảo diệu, chỉ lấy ý mà dụ, không chấp nê với nghĩa đen của nó. Từ Tí đến Hợi mười hai cung đều có Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Khởi đầu là Tí nhất Dương đến Hợi lục Âm. Ngũ hành sở thuộc Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, ở trên trời là ngũ tinh, ở dưới đất là ngũ nhạc, ở đức độ là ngũ thường, ở nhân thân con người là ngũ tạng, ở mệnh là ngũ hành. Bởi vậy Giáp Tí đem ứng dụng vào số mệnh. Mệnh là những sự việc của một con người.
Như Tí Sửu âm dương ví như lúc còn nuôi nấng trong bào thai, vật mới phôi thai, thân gốc ẩn tàng. Dần Mão âm dương, bắt đầu nảy nở, thành hình và lớn lên. Thìn Tị âm dương, khí thịnh, vật thành đẹp đẽ, ví như tuổi tráng niên tìm đất lập thân, tiến thủ. Ngọ Mùi âm dương, tất cả đã hiện như con người vào tuổi năm sáu mươi, giàu nghèo sang hèn đã thấy cả, sự hưng suy tỏ lộ. Thân Dậu âm dương, giai đoạn tiêu sát thâu liễm, chuyển sang già nua. Đến Tuất Hợi âm dương, đó là thời kỳ bế tắc, vật khí trở về gốc, để nghỉ ngơi, để đi về cát bụi."
Trong quá trình kể trên, cuộc đời hoa dạng phong phú được miêu tả bởi những ảnh hưởng của nạp âm kết hợp với các sao trong mệnh cung.
Nạp Âm Và Lá Số Tử Vi
Cách đây mấy chục năm khi viết cuốn Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (bình chú), phần nạp âm tôi cho là liên quan đến khoa Tử Bình nhiều hơn. Nhưng sau khi được học hỏi nghiên cứu thêm, mới hiểu được ảnh hưởng của nạp âm với lá số Tử Vi như thế nào.
Căn cứ vào một số sách vở Trung Quốc thì nạp âm ảnh hưởng vào tính số bằng cách lấy ngay nạp âm của năm sinh để phối hợp tính với Mệnh cung. Ví dụ Mệnh cung có những sao hay cách cục nói lên con người hung bạo mà nạp âm cũng hung bạo thì tính hung bạo của người ấy tăng gấp bội. Nếu các sao Mệnh cung hay cách cục là con người nhu hòa mà nạp âm cũng nhu hòa thì tính nhu hòa thành nhu nhược.
Ý Nghĩa Của Mỗi Nạp Âm
Mỗi hành có sáu tượng, như Kim gồm có: Hải Trung Kim, Kim Bá Kim, Bạch Lạp Kim, Sa Trung Kim, Kiếm Phong Kim, và Thoa Xuyến Kim — bằng một tên gọi khác là nạp âm.
Hải Trung Kim
Sách Bác Vật Vựng Biên viết rằng: Giáp Tí, Ất Sửu thì Tí thuộc Thủy, nơi hồ ao thủy vượng. Trong khi Kim "tử" ở Tí, mộ ở Sửu — chỗ thủy vượng, Kim vào thế "tử mộ" nên mới gọi bằng Hải Trung Kim, ví như Kim trong lòng biển: khí thể bị bao tàng, có danh mà vô hình, có tiếng gọi mà không có thực, an tàng ở lòng biển như thai nhi nằm trong bụng mẹ.
Tính chất của Hải Trung Kim là:
a) Có thể biết được tâm tướng mà không hiểu rõ được tâm cơ, lòng người như biển khôn dò; nếu cung Mệnh có những sao thủ đoạn điên đảo mà lại ở nạp âm Hải Trung Kim nữa thì quyền thuật kể vào bậc cự phách.
b) Khả năng tốt, nhưng thiếu sức xông xáo tranh cướp, phải nhờ người đề bạt mới thi triển được; nếu cung bản mệnh thấy nhiều sao do dự, nhút nhát mà mệnh lại rơi vào nạp âm Hải Trung Kim thì càng do dự, nhút nhát hơn. Số nữ Hải Trung Kim đối với tình yêu ít bộc lộ, gói kín trong lòng.
Trước nghịch cảnh, về phấn đấu Giáp Tí mạnh hơn Ất Sửu; Ất Sửu dễ có khuynh hướng hư nhược.
Kim Bá Kim
Nhâm Dần, Quí Mão thì Dần Mão là đất vượng của Mộc; Mộc vượng nên Kim suy, Kim tuyệt ở Dần, thai ở Mão, Kim vô lực mới gọi bằng Kim Bá Kim. Mộc vượng Kim suy nên sức yếu, mỏng manh nhợt nhòa; chữ "bá" nghĩa là yếu đuối, không sung thực.
Cổ thư viết: "Nhâm Dần Quí Mão là chất kim còn lại ở đất tuyệt, cho nên khí chất nhu nhược, mỏng như tơ lụa." Kim Bá Kim là chất kim dùng để trang trí, trang sức. Nếu được tay người khéo giỏi chạm khắc thì mới hay đẹp.
Người có số mạng nạp âm Kim Bá Kim cần mài dũa học hành mới mong thành tựu, phải tìm được thầy mới nên cơ đồ. Bởi vậy Kim Bá Kim cần Xương Khúc Hóa Khoa ở Mệnh.
Nhâm Dần thì Dần Mộc bị Kim khắc nên thế nhược, tinh thần tuy vượng thịnh nhưng là thứ vượng thịnh của dây cung quá căng, bởi vậy khi ứng phó với hung vận không lì bằng Quí Mão.
Quí Mão cũng như Nhâm Dần, Mộc bị Kim khắc, nhưng âm Mộc sức khắc chế chỉ có hạn, trong khi chủ kiến tự mình lại mạnh, nên chống với hung vận đắc lực hơn.
Bạch Lạp Kim
Sách Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển viết: "Chất Kim của Canh Thìn và Tân Tị, dưỡng ở Thìn, sinh ở Tị, hình chất mới thành, chưa cứng cáp nên gọi bằng Bạch Lạp Kim."
Bạch Lạp Kim ví như chất ngọc chưa mài rũa. Tinh thần sáng trực, tinh khiết mà thiếu tâm cơ. Người mang số Bạch Lạp Kim có hai con đường để lập thân:
a) Học ngành chuyên môn, tập trung vào ngành ấy mà nên công.
b) Bươn trải kinh lịch cho thật nhiều, như ngọc được mài rũa tinh luyện, cuối cùng khi gặp vận để mà hành xử.
Dù mệnh có những sao tốt mà vận không bươn trải, hoặc không chuyên nghiệp, thì sự nghiệp chẳng có bao nhiêu. Canh Thìn thì Thìn là Thổ chất khá dĩ sinh Kim, trong khi Tân Tị, Tị Hỏa làm tan chất Kim. Canh Thìn sáng trực, tâm ý trung kiên hơn; Tân Tị mưu chước hơn, lẹo hơn.
Sa Trung Kim
Giáp Ngọ, Ất Mùi thì Ngọ là chỗ Hỏa vượng, Hỏa vượng thì Kim bại; Mùi là chỗ Hỏa suy, Hỏa tuy suy nhưng Kim cũng đã cùn nhụt. Gọi bằng Sa Trung Kim — Kim không đủ cứng cáp để chém, để đẽo, cho nên người Sa Trung Kim thường làm việc một cách đầu voi đuôi chuột. Mệnh cung mà thêm những sao Thiên Đồng hãm nữa thì càng vớ vẩn.
Sa Trung Kim cần liên tục theo đuổi mục đích nào đó, nói khác đi là ngoan cố đeo đẳng mới đạt tới được. Giáp Ngọ thì Ngọ Hỏa khắc Kim, nước giảm khí thế; trong khi Ất Mùi, Mùi Thổ sinh Kim. Ất Mùi đương đầu với gian nan uyển chuyển hơn Giáp Ngọ.
Kiếm Phong Kim
Bác Vật Vựng Biên
chép rằng: Nhâm Thân, Quí Dậu thì Dậu là chính vị của Kim, vị trí của Lâm Quan và Đế Vượng, nên Kim già cứng, cương mãnh, ví như mũi nhọn của lưỡi gươm, nên gọi bằng Kiếm Phong Kim. Nhâm Thân, Quí Dậu khí thế cực thịnh.
Người Kiếm Phong Kim tự hiến tài năng mình, hành động tư tưởng sắc bén. Hồng quang tỏa chiếu tới sao Đẩu, sao Ngưu, ánh sáng rõ ràng như sương tuyết. Có ý chí cao lớn, tâm tính tàn khốc, cương nghị và tinh nhuệ.
Những sao tốt hội vào Mệnh thuộc nạp âm Kiếm Phong Kim càng tốt hơn, nhất là với những số thuộc binh nghiệp hay chính trị. Ngược lại, Mệnh cung nhiều sao xấu gây hung họa thì Kiếm Phong Kim càng tạo hung họa, trên tính tình tư tưởng là người khó mà lay chuyển.
Nhâm Thân, Quí Dậu, cả hai chi đều thuộc Kim nên đều cương cường, đối phó với hung vận bằng khả năng phấn đấu hay chịu đựng ngang nhau.
Thoa Xuyến Kim
Cổ thư viết: Kim của Canh Tuất, Tân Hợi, đến Tuất thì suy, qua Hợi thành Bệnh. Kim mà ở vào cái thế Suy Bệnh tất nhiên nhuyễn nhược nên gọi Thoa Xuyến Kim. Thoa là cái trâm cho phụ nữ cài đầu. Xuyến là cái vòng đeo ở cổ tay con gái. Thành đồ dùng của phụ nhân, tính cương mãnh của Kim bị nhuyễn nhược. Bởi vậy Kim của Tuất Hợi trở nên ẩn tàng, hình thể vỡ vụn. Khi vào chiếc hộp chốn phòng khuê, công dụng của Kim chấm dứt nên gọi bằng Thoa Xuyến Kim.
Người Thoa Xuyến Kim nếu số mà có Nhật Nguyệt, Xương Khúc, Đào Hoa, Lương, Khoa thường đẹp đẽ bội phần bất cứ trai hay gái. Người Thoa Xuyến Kim mà mệnh sinh âm trầm càng âm trầm hơn, có tài thường dấu kín trong lòng. Người Thoa Xuyến mà mệnh ưa khoe khoang nhiều thì lòng ham muốn hư vinh càng nặng.
Cái số hay nhất với Thoa Xuyến Kim là sống cậy vào nữ phái. Có vợ giàu, thường giao thiệp với đàn bà con gái (buôn bán nữ trang, quần áo vẽ kiểu thời trang). Số làm chính trị mà Thoa Xuyến Kim thường chỉ là đồ trang sức cho chính trị.
Nạp Âm Thủy
Hành Thủy có sáu nạp âm: Giản Hạ Thủy, Đại Khê Thủy, Thiên Hà Thủy, Tinh Tuyền Thủy, Đại Hải Thủy.
Giản Hạ Thủy
Sách Bác Vật Vựng Biên ghi rằng: Thủy của Bính Tí, Đinh Sửu thì vượng ở Tí, suy ở Sửu. Vượng rồi Suy ngay ngay, tất nhiên không thể thành sông ngòi, cho nên gọi bằng Giản Hạ Thủy.
Giản Hạ Thủy là dòng nước lạch suối, không rõ nguồn gốc và cũng không có hướng nhất định để chảy đi, lòng lạch lòng suối lúc nông lúc sâu.
Cổ nhân có câu: "Dục tấn dục thoái sơn khê thủy, dục phản dục phúc tiểu nhân tâm." Nghĩa là lúc tiến lúc lui như nước lạch, lúc phản lúc lật như lòng tiểu nhân.
Số ai có Phục Binh hay Phá Quân, Địa Kiếp, hoặc Tử Phá, hoặc Linh Tinh, Hỏa Tinh hãm địa, mà thêm nạp âm Giản Hạ Thủy nữa thì cái lòng phản phúc, lật lọng càng ghê gớm. Đứng ngôi chủ như vậy, bộ hạ hãy lo giữ đầu; đứng vai thần tử mà như vậy, kẻ đứng chủ chỉ việc chờ ngày bị phản.
Tâm chất thâm hiểm, tình ý nhỏ nhen nhưng rất thực tế và sắc bén. Trường hợp số bình thường ắt nhu nhược, bất quyết, mà thêm Giản Hạ Thủy nạp âm nữa thì hoàn toàn vô tích sự, hưng túng, hoảng loạn trước công việc.
Giữa Bính Tí và Đinh Sửu thì Bính Tí nguy hiểm hơn; Đinh Sửu Thổ khắc Thủy khiến cho nhuệ khí bị tước giảm.
Đại Khê Thủy
Cổ thư biên: "Giáp Dần, Ất Mão thì Dần là ranh giới đông bắc, Mão là chính đi về một hướng, nên gọi bằng Đại Khê Thủy."
Đại Khê là dòng suối lớn, thác nước tung hoành trong rừng núi, khác hẳn Giản Hạ Thủy là lạch nhỏ suối con. Bởi thế Đại Khê Thủy khí lượng lớn, biến hóa đến mức gây sợ hãi; tuy không ngấm ngầm nhưng tâm cơ sâu rộng, lan tràn ngập lụt.
Tuy nhiên lại không được xem như sông ngòi. Thác lũ khi gặp lòng sâu, hoặc hang hốc, cũng chảy thành dòng, lấp đầy thành vũng. Bởi thế đôi khi bụng dạ hẹp hòi và tư tâm.
Người nạp âm Đại Khê Thủy nếu là một chiến lược gia thì tất có cái nhìn rộng rãi, bao quát. Nếu mệnh kém mà nạp âm Đại Khê Thủy lại trở nên con người mơ mộng, ước vọng, hoài bão to tát mà thiếu khả năng hành động, vô dụng.
Giáp Dần, Ất Mão, hai chi đều thuộc Mộc, đều vững mạnh trước hung vận, nhưng Ất Mão ý nhị hơn, mềm dẻo hơn, vì cả Ất lẫn Mão đều là âm Mộc.
Trường Lưu Thủy
Sách Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển chép: "Nhâm Thìn, Quí Tị, Thìn là thủy khố mà Tị là Trường Sinh của Kim, Kim sinh Thủy vượng. Đã vượng còn chứa đựng vào kho nước không bao giờ hết, nên gọi bằng Trường Lưu Thủy."
Trường mang nghĩa vĩnh cửu, Lưu mang nghĩa chuyển động không ngừng, cuồn cuộn vô cùng, thao thao bất tuyệt. Tham vọng to tát nhưng tư tâm không nhiều. Nếu như số là con người giỏi giang, có thể giao công việc mà không sợ phản bội.
Trường Lưu Thủy có một khuyết điểm: chỉ chú trọng đại cuộc mà quên mất tiểu tiết, đôi khi do sơ sót mà hỏng việc. Mệnh xấu nạp âm Trường Lưu Thủy là người không có cơ sự nghiệp nhưng biết lo xa cũng ấm thân.
Nhâm Thìn, Quí Tị: Thìn thuộc Thổ khắc Thủy; Tị thuộc Hỏa, bị Thủy khắc, đứng trước khó khăn của hung vận, Nhâm Thìn vững vàng hơn Quí Tị.
Thiên Hà Thủy
Cổ thư chép: "Bính Ngọ, Đinh Mùi, Bính Đinh Hỏa, Ngọ nơi chốn Hỏa vượng mà nạp âm lại là Thủy, Thủy từ Hỏa xuất thì phải từ trên trời xuống nên gọi bằng Thiên Hà Thủy."
Bính Ngọ, Đinh Mùi đều là chỗ Hỏa vượng mà sinh ra Thủy; Thủy từ Hỏa xuất thì chỉ có từ trên trời xuống. Thiên Hà Thủy đổ xuống khắp mọi nơi trên trái đất, đó là mưa. Vạn vật đều nhờ mưa mà tươi tốt, màu mỡ. Tình yêu thương chan hòa. Nhưng mưa có mưa nhỏ mưa to, có mưa xuân, mưa hạ, mưa giông mưa bão. Không phải mưa nào cũng hữu ích cho bàn dân thiên hạ. Cần mưa nhỏ mà lại mưa lớn, cần mưa lớn mà chỉ lâm râm — mưa như thế kể bằng vô ích.
Người có mệnh hợp với Thiên Hà Thủy cần phải thêm trí tuệ mới hay. Thiên Hà Thủy làm việc xã hội, làm việc tôn giáo hợp cách.
Đứng ngôi chủ vào thời bình mà không nắm quyền sinh sát, dân gian được nhờ. Mệnh nhiều sát tinh hung tinh mà Thiên Hà Thủy thì thành ra mâu thuẫn, khó thành công trên kinh doanh hay chính trị quân sự.
Bính Ngọ can chi Hỏa đều bị Thủy khắc; Đinh Mùi thì chi Mùi thuộc Thổ khắc Thủy, nên ứng phó với hung vận linh hoạt hơn Bính Ngọ.
Tinh Tuyền Thủy
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển
chép: "Giáp Thân, Ất Dậu, thì Thân là Lâm Quan, Dậu là Đế Vượng. Kim vượng tất nhiên Thủy cũng nhờ thế mà sinh, tuy nhiên Thủy ở tình trạng này chưa hùng dũng lớn mạnh, cho nên gọi bằng Tinh Tuyền Thủy."
Tinh Tuyền Thủy (nước giếng) không có gốc nguồn rõ rệt. Ở dưới sâu khơi lên từ lòng đất nên tư tưởng thâm thúy, hành động ẩn mật. Giếng tốt, nước lấy chẳng bao giờ cạn, bởi vậy đức vọng của người Tinh Tuyền Thủy vô cùng.
Người xưa giảng rằng: "Nước giếng từ suối lạnh nên trong và lạnh, lấy mãi không hết, mọi người đều uống, trăm nhà dùng nước giếng mà sống." Trong là tinh khiết hay liêm khiết, lạnh là thiếu nhiệt tâm đối với người.
Tinh Tuyền Thủy không bao giờ tự phát, phải dựa vào thời thế, dựa vào thời cơ đi theo thôi mà không mở đầu. Người có nạp âm Tinh Tuyền Thủy theo ngành tình báo, gián điệp hợp cách, nếu như mệnh cung có những sao hợp với Tinh Tuyền Thủy.
Giáp Thân, Ất Dậu đều là Tinh Tuyền Thủy. Thân Dậu cả hai đều thuộc Kim, Kim sinh Thủy, bản thân mất nguyên khí. Sau tuổi trung niên sức phấn đấu suy vi.
Đại Hải Thủy
Cổ thư chép: Nhâm Tuất, Quí Hợi Thủy, Quan Đới ở Tuất, Lâm Quan tại Hợi, lực lượng hùng hậu. Hợi ví như dòng sông lớn nên gọi bằng Đại Hải Thủy.
Nước của Đại Hải Thủy diện tích quảng khoát, thế tượng bao la, xung kích lực mạnh, làm thiện hay làm ác đều dữ dội. Hoặc là gian hùng của thời đại, hoặc là anh hùng cái thế.
Người xưa giảng: "Nước Đại Hải Thủy thâu gồm trăm sông, chảy miên man về biển cả, bao quát tính thăng trầm của đất trời, thâu tóm ánh sáng của nhật nguyệt. Nguồn của Đại Hải Thủy có trong có đục. Nhâm Tuất chứa Thổ khí nên đục, Quí Hợi toàn Thủy nên trong. Nếu mệnh đáng bậc chính nhân thì khi ở ngôi vị thường bao dung đại lượng, ưa làm điều thiện không ưa điều ác; ngược lại, mệnh tầm thường hạ tiện sẽ thành con người lấy oán mà trả ân, tâm địa hẹp hòi. Như hai dòng nước trong, đục vậy."
Nhâm Tuất, Quí Hợi đều là Đại Hải Thủy, có điều Tuất Thổ khiến cho Đại Hải Thủy chảy thành dòng, như lòng sông, đầu óc sáng suốt, cử chỉ minh bạch, thiện ác phân minh.
Quí Hợi, Thủy là chính vị, Thủy vượng cực, chảy tràn lan không bờ bến nên tâm chất khó hiểu, muốn đề phòng cũng khó mà đề phòng nổi, thiện ác không rõ rệt. Quí Hợi mà có những sao ở mệnh mang khuynh hướng làm chính trị sẽ là người ứng phó với những biến động lớn rất giỏi, lúc lâm nguy thì quyền biến.
Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục
