Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Mẹ xem tướng, thầy trao bộ kinh và phép đoán của Trạng Trình

Đạo Học - Đạo Gia04/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Mẹ xem tướng, thầy trao bộ kinh và phép đoán của Trạng Trình

Người đàn bà cắm chiếc đũa giữa sân, canh bóng trăng để chọn giờ động phòng, chỉ vì mong con mình sau này ngồi lên ngôi cao nhất. Đứa con ấy lớn lên, nhận từ thầy một bộ kinh gói trong nhiều lớp gấm, rồi đem một chiếc quạt giấy ra thử xem số mệnh có thật không…


Người mẹ cắm đũa canh bóng trăng

Thân phụ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ông Nguyễn Văn Định, về sau được nhà Mạc truy tặng chức Thái bảo, tước Nghiêm quận công. Thân mẫu là con gái quan Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan, sau cũng được truy phong Từ Thục phu nhân. Người đời kể rằng bà là một phụ nữ giỏi văn chương, và sở trường nhất là khoa lý số.

Bà tự xem tướng cho chính mình và biết rằng mình sẽ sinh quý tử. Vì thế bà kén chồng rất lâu, mãi đến ngoài ba mươi tuổi mới gặp được ông Văn Định, người có tướng hợp với tướng của bà, rồi mới chịu nên duyên. Điều bà mong không phải là một đứa con làm đến công hầu khanh tướng. Giấc mộng lớn của bà là con mình ngồi lên ngôi Thiên tử.

Đêm động phòng, bà cắm một chiếc đũa xuống sân và dặn chồng: bao giờ bóng trăng chạm đến chiếc đũa thì mới được vào phòng. Chờ lâu quá, nóng ruột, ông Văn Định bước vào trước giờ hẹn. Bà trách rằng chỉ vì sự vội vàng ấy mà con cái sau này cùng lắm làm đến bậc Tứ trụ triều đình hay đỗ Trạng nguyên, chứ không thể làm Hoàng đế được nữa.

Chuyện kể tiếp rằng ít lâu sau, trong một lần đi đò, bà gặp một chàng trai vạm vỡ làm nghề đánh cá. Nhìn tướng người ấy, bà thấy đó mới thật là đại quý, nhưng tiếc rằng duyên phận đã lỡ làng với ông Văn Định. Chàng trai đánh cá kia chính là Mạc Đăng Dung, người sau này lập ra nhà Mạc. Dù vậy bà vẫn tin vào cái sức người có thể thắng được trời của mình.

Niềm tin ấy được thử thêm một lần nữa, ngay trên con đường đưa đứa con đầu lòng về quê.

Một câu thơ ứng khẩu dưới ánh trăng

Người ta kể rằng có lần bà dắt con trai về quê, dọc đường gặp một ông thầy tướng người Trung Hoa. Ông ta liếc qua dung mạo cậu bé rồi buột miệng khen: tướng mạo này không phải tầm thường, có điều nước da hơi thô, nên chỉ làm đến Trạng nguyên mà thôi. Nghe vậy bà không vui. Bà đặt cả hy vọng vào người con trai đầu lòng này, và cầu mong nhờ ân trạch của tổ tiên mà con mình sau này đứng ở ngôi cao nhất.

Cậu bé thông minh lạ lùng. Mới tròn một tuổi đã biết nói, bốn tuổi đã thuộc lòng những bài chính nghĩa trong kinh truyện cùng mười bài thơ Nôm do mẹ dạy. Một hôm bà đi vắng, ông Văn Định rảnh rỗi, bồng con dạo trước sân. Thấy trăng sáng, hứng lên, ông ngâm một câu: "Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung". Cậu bé lập tức đối lại: "Vén tay tiên, hốt hốt rung".

Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung.
Vén tay tiên, hốt hốt rung.

Ông cha ngạc nhiên, cho rằng con mình là thần đồng xuống đời, bèn đem chuyện kể lại cho vợ. Bà không mừng mà còn trách chồng. Theo bà, mặt trăng chỉ là một khí tượng nhỏ, tượng trưng cho phận bầy tôi, sao sánh được với mặt trời, hình bóng của bậc Thiên tử. Ít lâu sau, bà chán nản bỏ nhà ra đi. Có thuyết nói rằng bà còn đi thêm một bước nữa và sinh ra ông Phùng Khắc Khoan, tức Trạng Bùng, người về sau để lại tập truyện "Ngư phủ nhập Đào nguyên" và tập thơ "Nghị trai thi tập".

Người mẹ ôm mộng ngôi vua đã khuất bóng, còn đứa con thì lớn lên bên một người thầy khác, và một bộ kinh quý.

Chiếc tráp đầu giường và bộ kinh gói trong gấm

Lớn lên, Nguyễn Bỉnh Khiêm theo học quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Ông học giỏi và sớm nổi tiếng văn thơ. Một hôm thầy ốm nặng, biết mình không sống được bao lâu, bèn gọi học trò đến bên giường, chỉ vào chiếc tráp đặt trên đầu giường và bảo mở ra lấy một bộ sách được gói kín trong nhiều lần gấm quý.

Thầy nói: đây là quyển sách thầy trao cho con, và chỉ có con mới hiểu nổi. Rồi thầy kể lại một chuyện lạ. Năm xưa đi sứ sang Trung Hoa, khi xong việc sắp về nước, có một cụ già lạ mặt đến trao cho thầy một quyển sách. Thầy tưởng người ta tặng mình, nhưng cụ già nói không phải: ta nhờ ông mang về giao cho một người An Nam. Thầy hỏi người ấy là ai, cụ đáp rằng không cần nói tên, chừng nào trong lòng ông muốn trao cho ai thì người ấy sẽ có phần. Lúc đó thầy mới hiểu cụ già kia là một bậc dị nhân. Nay thầy trao lại cho con, nghĩa là con có phần.

Mở ra đọc, ông thấy chẳng hiểu được bao nhiêu, đành cất đi. Thỉnh thoảng ông lại lấy ra đọc, rồi lại cất, cứ thế nhiều năm. Cho đến một hôm có người khách Trung Hoa mang đến tặng ông một bài thơ. Giở ra xem, ông nhận thấy ý ngầm trong bài thơ nối được với những câu trong bộ sách của thầy mà ông đã ngẫm nghĩ bao lần chưa thông. Bộ sách ấy chính là Thái Ất thần kinh. Nhiều người cho rằng nhờ nghiên cứu những điều bí ẩn trong bộ Thái Ất này mà ông thông suốt chuyện quá khứ lẫn chuyện mai sau.

Có được bộ kinh ấy trong tay, ông bắt đầu thử xem điều mình học có đúng với đời không, và người đầu tiên bị ông thử lại là vợ mình.

Lá số cho một chiếc quạt giấy

Một ngày hè, bà Trạng đi chợ mua về một chiếc quạt giấy. Ông tính ngày giờ ra đời của chiếc quạt, rồi lập cho nó một lá số tử vi, và tính ra cả ngày nó sẽ "chết". Việc này ông giấu kín, không cho ai biết. Ông băn khoăn nghĩ: nếu cứ đem dùng thì quạt lâu ngày rách hay thất lạc là chuyện thường, chẳng chứng minh được gì. Nhưng nếu số mệnh có thật, mọi việc đều đã định sẵn, không ai cản được, thì hãy cất quạt đi, xem đến ngày ấy nó có chết thật hay không.

Nghĩ vậy, ông niêm phong chiếc quạt rồi treo lên chỗ đầu giường. Đến ngày đã tính, quạt vẫn còn nguyên. Ông ở nhà quẩn quanh bên giường suốt từ sáng đến chiều để xem quạt "chết" thế nào, thỉnh thoảng lại ngắm nghía và lấy phất trần phủi bụi bám quanh.

Đến trưa, người cháu gọi bà Trạng bằng cô có việc cần, sang mời ông mấy lượt, ông đều từ chối không đi. Anh cháu tưởng ông giận mình, bèn than thở với bà để nhờ bà thúc ông đi giúp, không thì việc của anh không xong. Bà Trạng từ sáng đã ngứa mắt thấy ông cứ chốc chốc lại phủi bụi cho chiếc quạt. Bà lên giục ông, ông vẫn không đi. Bực mình, bà la lối om sòm: tôi mua quạt về để dùng, đâu phải để ông cất đi làm đầy tớ mà phủi bụi cho nó! Vừa mắng, bà vừa nhảy lên giật chiếc quạt xuống, xé tan thành từng mảnh.

Thấy vậy, ông Trạng cả cười: đúng thật, ta cứ tưởng nó chết bằng cách nào, hóa ra là như vậy. Bà Trạng chẳng hiểu ông nói gì. Lúc ấy ông mới chỉnh tề khăn áo sang nhà người cháu, kể đầu đuôi chuyện cho mọi người nghe. Ai nấy đều phục ông là bậc tiên tri.

Tính được ngày giờ mới là một nửa, nửa còn lại là biết đọc điều mình tính ra, và việc ấy ông dạy cho học trò ngay trong đêm giao thừa.

Sắt ngắn gỗ dài, và cái búa đêm ba mươi Tết

Tối ba mươi Tết một năm nọ, ông đang ngồi bàn chuyện lý số với một người học trò từ xa đến thăm và biếu lễ vật. Bỗng ngoài cổng có tiếng người gọi mở cửa. Ông sai gia nhân ra bảo hãy chờ một chút, rồi thầy trò cùng bấm quẻ để đoán xem người ngoài cổng vào có việc gì.

Cả hai cùng bấm ra một quẻ, đọc là: sắt ngắn, gỗ dài. Ông hỏi học trò đoán thế nào. Anh đáp: thưa thầy, theo ý con, sắt ngắn gỗ dài thì người kia chắc đến mượn cái mai để đào đất, ngoài cái mai ra không còn vật nào vừa sắt ngắn vừa gỗ dài nữa. Ông cười, nói: tôi lại đoán khác anh, người ấy vào đây mượn búa.

Thiết đoản, mộc tràng.

Nói xong ông cho mở cổng. Người kia bước vào, quả nhiên là đến mượn búa. Anh học trò sững người vì đoán trật. Ông giải thích: bấm quẻ như anh đã là giỏi, nhưng mức đoán còn thấp. Đêm ba mươi Tết, ai lại đi mượn cái mai để đào đất? Họ chỉ cần một cái búa để về bổ củi nấu bánh chưng. Quẻ bấm trúng rồi, nhưng khi đoán phải biết tùy cơ ứng biến theo hoàn cảnh, thì mới tránh được sai lầm. Người học trò bái phục, xin nhận lời chỉ dạy ấy.

Có người học trò khác không hỏi chuyện đoán quẻ, mà đến hỏi thẳng cách làm giàu.

Anh học trò nghèo vớt xác ngoài bờ sông

Ở làng ông có một người học trò nghèo tên là Bùi Sinh. Một hôm anh đến hỏi ông về kế làm giàu. Ông hỏi năm, tháng, ngày, giờ sinh của anh rồi bảo: sáng mai anh cứ ra chỗ bờ sông mà chờ, hễ gặp thứ gì, dù dơ bẩn đến đâu, cũng phải vớt lên, đừng ngại, rồi anh sẽ giàu.

Bùi Sinh từ tạ ra về. Sáng hôm sau, đúng giờ Dần, anh ra ngồi bên mé sông chờ. Anh vừa ngồi xuống thì trời nổi giông gió, sấm sét ầm ầm, mưa trút như thác. Anh toan bỏ chạy về, nhưng nghĩ lại: thử xem lời Trạng nói có linh ứng không, biết đâu trận mưa này cũng là một điềm. Anh cố ngồi chịu trận. Mãi đến khi từ ngoài xa có một cái xác người theo gió và sóng tạt vào bờ, dừng lại ngay trước mặt.

Theo lời dặn, hễ gặp gì thì vớt nấy. Dù xác đã sình trương, mùi hôi thối không chịu nổi, anh vẫn cố kéo lên bờ. Vừa đưa được xác lên, trời tạnh mưa, gió sấm cũng thôi. Nhìn kỹ, đó là xác một cô gái, mặt tuy đã sình nhưng nét vẫn còn đẹp như hoa. Xem quần áo thì thấy là một thiếu nữ người Trung Hoa. Không rõ nàng là con nhà ai, từ đâu trôi đến, nhưng trên người đeo rất nhiều ngọc ngà châu báu, lại giắt cả một số vàng bạc đáng kể.

Bùi Sinh lấy số của cải ấy, rồi chôn cất cho nàng tử tế. Chôn xong anh đi về, vừa đi vừa thầm phục Trạng quả là bậc thánh tiên tri. Chừng nửa tháng sau, có giấy tờ từ bên Trung Hoa gửi sang. Họ cho hay có một bà công chúa đi thuyền chơi Nam Hải, không may giữa đường thuyền bị sóng lật, tất cả người trên thuyền đều chết. Họ nhờ nếu thi hài nào rạt vào bờ cõi nước Nam, và có ai vớt được, chôn cất đàng hoàng, thì báo sang để Thiên triều trọng thưởng.

Thì ra cái xác cô gái mà Bùi Sinh vớt chính là xác của công chúa. Nhà vua nước ta nhận thư liền rao truyền khắp nơi, Bùi Sinh bèn đến tâu rõ sự việc. Tin ấy sang đến Trung Hoa, vua Trung Hoa sai người sang xem xét, thấy đúng như vậy. Thế là Bùi Sinh được thưởng vô số tiền của. Từ một anh học trò nghèo rớt mồng tơi, không có một mảnh đất cắm dùi, anh bỗng trở thành người giàu nhất vùng.

Chuyện đồn đi, tiếng Trạng Trình là nhà tiên tri lại nổi lên như cồn. Sĩ tử các nơi nô nức kéo đến xin theo học, và thiên hạ đua nhau tìm đến hỏi về những việc sắp tới của đời mình.

Nguồn: Nguyễn Nghiệp (sưu tầm), Trạng Trình – Sấm và Ký.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia