Bài tổng quan
Vì sao một tiểu hạn đẹp chưa chắc đã đổi vận
Có người gặp một tiểu hạn được xem là rất đẹp trên giấy tờ, nhưng năm đó cuộc sống vẫn chẳng có gì khởi sắc. Câu trả lời nằm ở một nguyên tắc ít ai để ý: hạn nhỏ luôn phải đặt trong khuôn khổ của hạn lớn hơn nó, và hạn lớn lại phải đặt trong khuôn khổ của chính cung Mệnh, cung Thân. Nhưng đó mới chỉ là một trong sáu loại hạn cần phân biệt...
Bốn nhóm yếu tố vừa được trình bày, gồm Âm Dương Ngũ Hành, cách cục, cung và sao, có chung một đặc điểm là đứng yên. Chúng phơi bày trên lá số như tấm ảnh chụp lại đúng cái khoảnh khắc một con người bước vào đời. Thế nhưng kiếp người là một dòng sông chứ chẳng phải một bức ảnh, cho nên Lý số học phải thiết lập thêm một bộ máy riêng để theo kịp sự chuyển dịch ấy, và bộ máy đó mang tên các hạn. Sáu tầng hạn được phân biệt như sau. Đại hạn trải theo từng đoạn mười năm của cuộc sống. Lưu niên đại hạn cũng là hạn lớn nhưng tính bằng một cách khác, tồn tại song hành cùng đại hạn chính. Kế đó là tiểu hạn cho mỗi năm, nguyệt hạn cho mỗi tháng, nhật hạn cho mỗi ngày, và cuối cùng thời hạn cho mỗi giờ. Đừng hình dung sáu tầng ấy như những mảnh rời; chúng ôm lấy nhau thành các vòng đồng tâm, tầng nhỏ lọt thỏm trong tầng lớn. Vì vậy, người xem hạn phải nắm một bộ quy tắc hoàn toàn riêng, không thể mang cách luận toàn đời ra áp nguyên xi.
Nên xem hạn ở những cung nào
Đối với đại hạn, cung được xem là những cung đã có sẵn số thập niên ghi trên lá số. Đối với tiểu hạn và lưu niên đại hạn, vị trí cung phải tra theo những phép an riêng đã quy định. Cái tên của cung hạn cho ta biết, trong năm đó, phương diện nào của đời sống sẽ trồi lên rõ rệt nhất nơi đương số. Cứ lấy ví dụ tiểu hạn đáo cung Bào: khi ấy chuyện xoay quanh anh chị em ruột thịt sẽ là điều nổi bật của năm.
Song song, cung nào có sao Lưu Thái Tuế đóng cũng chỉ ra mảng việc trội nhất của năm, ngay cả lúc cung ấy không chiếu về cung tiểu hạn. Thử hình dung tiểu hạn ở cung Di tọa Tuất, trong khi Lưu Thái Tuế lại nằm tại cung Quan ở Thân. Lúc đó, ngoài cung Di, người luận đoán còn phải đưa cung Thân và chuyện quan trường vào cùng một tầm mắt. Điều không thể quên là với bất kỳ cung hạn nào, phải đồng thời nhìn cả cung xung chiếu, các cung tam chiếu và cung nhị hợp của nó, tuyệt đối không xét một cung cô lập.
Hạn nhỏ phải được soi trong hạn lớn
Do hạn nhỏ luôn nằm gọn bên trong hạn lớn, nên mỗi lần đọc một hạn nhỏ, phải lấy hạn lớn ôm lấy nó làm hệ quy chiếu. Đọc một năm, bất kể theo tiểu hạn hay theo lưu niên đại hạn, thì cung đại hạn đang trùm lên năm ấy luôn được đặt kề bên. Và đọc một đại hạn thì lại phải quy chiếu vào Mệnh hoặc Thân.
Lối xếp chồng như thế có căn cứ: hiếm có hạn nhỏ nào bẻ cong nổi tính chất của hạn lớn bao quanh nó. Đại hạn không thắng được Mệnh hay Thân, tiểu hạn không thắng được đại hạn. Vai trò thường thấy của hạn nhỏ chỉ là tăng hoặc giảm đôi phần cho hạn lớn. Muốn đổi hướng hạn lớn một cách sâu sắc thì tiểu hạn phải đẹp tuyệt đỉnh; nếu không, sự chuyển biến cứ lặng lẽ diễn ra theo từng bước, không có cú bứt phá đột ngột. Có thêm một trường hợp đặc biệt: hạn nhỏ và hạn lớn cùng lúc hưng vượng, khi ấy đời người rẽ sang hướng thuận lợi nhanh chóng, nhưng điều kiện đi kèm là Mệnh hoặc Thân đã tương đối đẹp từ trước. Còn nếu nền đã xấu, tức hạn lớn, Mệnh hay Thân kém, mà tiểu hạn tươi sáng ghé qua, thì phần tốt ấy chỉ đóng khung trong một năm, hoặc nhiều lắm là cộng thêm chút ít vào đại hạn, vào Mệnh, vào Thân, chứ không đảo nổi cục diện tổng thể.
Nhờ nguyên tắc này mà một thắc mắc quen thuộc của người mới nhập môn được giải tỏa: sao trên giấy có tiểu hạn rất tốt mà cuộc sống năm ấy vẫn chẳng có gì tiến triển? Câu trả lời là đại hạn phủ lên năm đó, hoặc chính Mệnh và Thân của người ấy, đã thiếu thuận lợi ngay từ nền tảng. Cái tốt của tiểu hạn lúc này chỉ đủ xoa dịu phần nào sự khó khăn chung mà thôi, không đủ để lật ngược toàn bộ. Chiều ngược lại cũng đúng: gặp tiểu hạn xấu giữa một đại hạn hay và một Mệnh Thân tốt, ta chỉ thấy trắc trở thoáng qua trong năm, còn đà đi lên của cả thập niên vẫn không hề bị kéo lùi.
Riêng chuyện tháng nhuận
Hi Di cùng nhiều tác giả khác ít để tâm đến tháng nhuận. Nhưng khi năm có hai tháng kề nhau mang cùng một số, nghĩa là có tháng nhuận, thì hai tháng ấy phải được gộp làm một để xem trong cùng cung nguyệt hạn. Không nên tách đôi, chẳng hạn cho tháng chính ở cung này rồi dồn tháng nhuận sang cung liền sau.
Song vẫn có người chủ trương xẻ tháng nhuận thành hai quãng, rơi vào hai cung liên tiếp. Quãng đầu từ mồng một tới rằm thì xem theo cung của tháng chính, giả dụ là cung Ngọ; quãng sau từ mười sáu tới hết tháng thì xem theo cung kế tiếp là cung Mùi. Cách xẻ đôi này đến nay vẫn là đề tài tranh luận giữa những người nghiên cứu, chưa ngã ngũ. Cả hai lối đều có lý lẽ của mình, nên người xem số thường chọn theo trường phái quen tay hơn, chứ toàn giới chưa có một quy tắc nhất trí tuyệt đối.
Các yếu tố chi phối hạn cần được đề cao hơn bình thường
Bản chất của việc xem hạn là tìm ra những sự kiện cụ thể, có chi tiết, trong một khoảng thời gian ngắn và rõ ràng. Do đó, ta không được phép kết luận đại khái như lúc luận toàn thể một kiếp. Vì thế, các yếu tố chi phối cung và sao trong đúng hạn đang xét phải được chú ý đặc biệt, và phải hiểu rằng chúng đang vận hành tích cực, mạnh mẽ vượt hẳn lúc thường. Nhờ đó ta mới phác họa được hết chi tiết của sự việc: nó mang hình thức nào, nặng nhẹ ra sao, nguồn cơn ở đâu, xảy ra khi nào, để lại hệ quả gần hay xa.
Ngoài các cung và sao cố định, phải xét thêm những sao lưu động. Đó là các sao thay đổi chỗ đứng theo từng năm, dù tên gọi giống hệt sao cố định. Nhiệm vụ của chúng là bổ sung, khiến ý nghĩa và cường độ của biến cố trong tiểu hạn thêm đậm, hễ chúng chiếu đúng vào cung tiểu hạn đang được xem.
Nan giải của môn xem hạn chính là ở đó. Lá số gốc, vốn bất động, chỉ hé lộ khuynh hướng của cả đời người. Để nói được chuyện của năm nay, tháng này, thậm chí ngày này, người đoán phải biết đan cái tĩnh của lá số gốc với cái động của các sao lưu niên vào đúng thời điểm và đúng vị trí. Nếu thiếu mất một lớp nào của chuỗi đan xen ấy, lời đoán về thời điểm sẽ không còn giữ được độ chuẩn xác cần thiết.
Nhị hạn trùng phùng, trường hợp cần đặc biệt coi trọng
Lúc đại hạn và tiểu hạn cùng đáo một cung thì gọi là nhị hạn trùng phùng. Hiển nhiên, cung ấy đẹp thì hai hạn cùng đẹp, cung ấy xấu thì hai hạn cùng xấu. Cả hai cùng tốt thường đánh dấu một khúc quanh lớn của số phận. Cả hai cùng xấu thì rất đáng ngại, nhất là khi cung xấu đến cực điểm: tai ương có thể giáng xuống liên hồi, thậm chí uy hiếp đến sinh mạng. Vì sự nghiêm trọng của trùng phùng, người xưa nhắc người luận đoán phải cân nhắc kỹ càng, thu thập thật nhiều yếu tố khác nhau trước khi dám chốt một kết luận dứt khoát, bất luận là lời vui hay lời buồn. Sở dĩ phải dè dặt tới vậy bởi lời đoán về trùng phùng ảnh hưởng rất lớn đến tâm trạng người nghe. Khen quá lời thì đương số dễ sinh ra chủ quan; dọa quá lời thì họ hoang mang vô cớ. Hơn nữa, bản thân một cung xấu nặng hay nhẹ còn tùy vào nhiều yếu tố khác có cùng hội tụ hay không.
Xét sinh khắc Ngũ Hành của cung hạn đối với Bản Mệnh
Quy luật sinh khắc Ngũ Hành áp dụng cho cung hạn cũng giống như đã áp dụng cho cung Mệnh và cung Thân. Tùy cách dùng, quy luật này có thể mang dạng tam phương, tức tính đồng thời ba yếu tố, hoặc dạng song phương, tức chỉ tính hai.
Sinh khắc theo lối tam phương
Ba yếu tố được đặt cạnh nhau ở đây là cung hạn, Chính Tinh nhập hạn tại cung đó, và Bản Mệnh. Khi hành của cung hạn sinh hành của Chính Tinh cư hạn, và hành của Chính Tinh ấy lại sinh tiếp hành của Bản Mệnh, ta có một mắc xích tốt. Trái lại, nếu cả hai nấc đều là quan hệ khắc thì hết sức bất lợi. Theo nguyên tắc, chín tổ hợp có thể xảy ra được xếp thứ hạng tương tự bảng chín trường hợp. Còn với quan điểm coi Cục tượng trưng cho hậu vận, thì trong những hạn thuộc hậu vận, Cục được sinh là hay, Cục bị khắc là dở.
Sinh khắc theo lối song phương và ý kiến đáng chú ý của Thái Thứ Lang
Trong một tác phẩm khác bàn về Lý số học Đẩu Số, Thái Thứ Lang ghi nhận lối sinh khắc chỉ đối chiếu hai đối tượng: Bản Mệnh và hành của cung tiểu hạn. Ông xác định rằng lối song phương này chỉ dành cho việc xem từng tiểu hạn, chứ không dùng cho đại hạn. Lời ông chép lại nguyên văn như sau:
"Kim Mệnh: Hạn đến cung Tý, thuộc quẻ Khảm, thuộc hành Thủy — Kim sinh Thủy, ví như vàng chảy ra nước — nên Bản Mệnh bị hao tổn. Bởi vậy, thường mắc tai ương rất đáng lo ngại.
Mộc Mệnh: Hạn đến cung Ngọ, thuộc quẻ Ly, thuộc hành Hỏa — Mộc sinh Hỏa, ví như củi gỗ nhóm lửa, sau tàn thành tro than — nên Bản Mệnh tuy sáng sủa rực rỡ nhưng chẳng được lâu bền. Bởi vậy, rất khó tránh những tai ương họa bại.
Thủy Mệnh: Hạn đến cung Dần, thuộc quẻ Cấn, thuộc hành Mộc — Thủy dưỡng Mộc, ví như nước tưới tắm cho cây cỏ, về sau bị khô cạn. Mệnh lâm vào chỗ bế tắc. Bởi vậy, mọi việc đều bị trắc trở, không được xứng ý toại lòng.
Hỏa Mệnh: Hạn đến cung Dậu, thuộc quẻ Đoài, thuộc hành Kim — Hỏa khắc Kim, ví như lửa nung vàng nóng chảy — nên Bản Mệnh bị nguy khốn. Bởi vậy, khó mà tránh thoát được những tai ương khủng khiếp.
Thổ Mệnh: Hạn đến cung Mão, thuộc quẻ Chấn, thuộc hành Mộc — Thổ khắc Mộc, vả lại Chấn là biểu tượng của sấm sét, điện lửa — nên Bản Mệnh đã suy nhược lại bị hoại thương. Bởi vậy, thường hay mắc bệnh điên cuồng, hay bệnh khí huyết rất nguy hiểm.
Những trường hợp trên đây nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội họp, cũng giải trừ được phần lớn những sự chẳng lành."
Gom các nhận xét trên lại, ta có mấy kết luận khái quát. Khi Bản Mệnh sinh ra Hạn, Bản Mệnh bị tiêu hao, tựa vàng tan thành nước hoặc củi khô cháy thành lửa rồi lụi thành tro. Khi Bản Mệnh khắc Hạn, Bản Mệnh sa vào thế khốn cùng, tựa lửa nung vàng đến chảy hoặc đất đè nghẹt sức sống cây cối. Một bên mòn dần, một bên bị dồn vào ngõ cụt, và cả hai đều bất lợi cho đương số. Ngược lại, Hạn sinh phù Bản Mệnh là điều tốt, như cây cỏ được tưới nước đúng vào lúc cần. Đáng lưu ý nhất là khi rơi vào cảnh xấu mà có Tuần, Triệt án ngữ, sự bất lợi được tháo gỡ, thế đối khắc Ngũ Hành xem như dịu đi rất nhiều. Ý này của Thái Thứ Lang khá lạ lùng, vì ông cho rằng Tuần, Triệt chi phối được cả Ngũ Hành. Trong khi đó giới nghiên cứu từ trước vẫn quen quan niệm rằng Tuần và Triệt chỉ tác động lên ý nghĩa của sao và của cung, còn Ngũ Hành của các yếu tố khác thì chúng không hề đụng tới. Chính sự lệch pha này biến ý kiến của ông thành điều đáng suy ngẫm, mặc dù chưa hẳn mọi trường phái xem đại hạn, lưu niên đều hoàn toàn tán thành. Đứng trước những dị biệt giữa các trường phái, người luận đoán không nên vội gạt bỏ một bên, mà hãy coi đó như hai lăng kính soi rọi lẫn nhau: lá số có Tuần hay Triệt án ngữ đúng vị trí thì cứ yên tâm cho rằng cái xấu Ngũ Hành đã được giảm bớt, nhưng vẫn cần đối chiếu thêm cung, sao và cách cục, kẻo đi đến một kết luận phiến diện.
Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).
