Bài tổng quan
Năm quy tắc quan sát các sao của đại hạn và lưu niên
Cung Phu Thê có Thiên Cơ cùng Thiên Mã, lại được Hóa Lộc, Hóa Quyền và Lộc Tồn cùng chiếu, thoạt nhìn tưởng người phụ nữ ấy sẽ lấy được một người chồng giàu sang. Thế mà bà kết hôn năm Kỉ Mùi, đến năm Quý Hợi thì tình cảm đổ vỡ vì chồng dùng ma túy, sang năm Giáp Tí còn có lúc không muốn sống nữa. Ở một lá số khác, một ca phẫu thuật năm Quý Hợi được đoán ra chỉ bằng cách lần theo cái xấu, từ cung tệ nhất trong nguyên cục xuống tới năm xảy ra sự việc. Lá số thứ ba thì lần ra cả năm được mùa lẫn năm dính kiện tụng của một người rời quê lập nghiệp. Năm quy tắc quan sát các sao ấy đi theo trình tự nào?
Quy tắc quan sát các sao của đại hạn và lưu niên
Khi đã biết rõ các nguyên tắc thuật và tìm hiểu về "Tinh bàn phi động", cho tới cách nhập thêm lưu diệu, tốt nhất chúng ta nên bắt đầu từ đại hạn và lưu niên, để nghiên cứu phương pháp luận đoán.
Để tiện cho việc thuyết minh, tốt nhất chúng tôi xin đơn cử một ví dụ thực tế.
Mệnh bàn dưới đây là của một phụ nữ, điều đáng chú ý là cung phu thê. Thiên Cơ có Hữu Bật và Thiên Mã đồng độ, hội Thiên Đồng và Cự Môn Hóa Lộc ở cung Sửu, Thái Âm ở cung Hợi, cung Dậu vô chính diệu, vì vậy mượn Thiên Lương và Thái Dương Hóa Quyền ở cung Mão để nhập cung an sao. Các sao có tổ hợp dạng này thoạt nhìn thấy rất tốt; Hóa Lộc, Hóa Quyền, và Lộc Tồn cùng chiếu, có vẻ như có thể lấy được người chồng giàu sang.
Nhưng Thiên Cơ ở cung phu thê vốn có tính chất hiếu động, trôi nổi, thêm vào đó còn có Thiên Mã đồng độ, tính chất hiếu động, trôi nổi càng tăng. Cung phu thê không ưa gặp Tả Phụ, Hữu Bật, nhưng hai sao này lại đồng độ và hội hợp cung phu thê. Ngoài ra, Thái Dương và Thiên Lương, Thiên Đồng và Cự Môn đều chẳng phải là tổ hợp sao có lợi cho cung phu thê, cho nên cung phu thê trong mệnh bàn có thể nói cát hung lẫn lộn. Cát hay hung, ảnh hưởng của đại hạn là rất lớn.

Lúc vào đại hạn Bính Thân từ 14 đến 23 tuổi, cung phu thê ở cung Giáp Ngọ, Tử Vi xung chiếu Tham Lang, gặp thêm các sao đào hoa Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Thiên Diêu; nhưng đáng tiếc lại hội chiếu Văn Xương Hóa Kị ở cung Mậu Tuất, sao Kị này lại xung khởi Liêm Trinh Hóa Kị của đại hạn ở đồng cung. Văn Xương là sao lễ nhạc, Liêm Trinh là sao chủ về tình cảm, cùng lúc đều Hóa Kị, cho nên trong đại hạn này, tìm không được người bạn đời lí tưởng là điều có thể thấy trước. Huống hồ Kình Dương và Linh Tinh ở cung Tuất lại xung khởi Lưu Dương của đại hạn cung Giáp Ngọ, cho nên ắt sẽ có sóng gió, trắc trở về tình cảm.
Đến đại hạn Đinh Dậu (từ 24 đến 33 tuổi), cung phu thê của đại hạn ở cung Ất Mùi, vô chính diệu, mượn Thiên Đồng và Cự Môn của đối cung để an sao, trong đại hạn Đinh Dậu Cự Môn Hóa Kị, cùng với sao Hóa Lộc của nguyên cục tổ hợp thành tinh hệ "Kị xung Lộc", đồng thời có Thái Âm Hóa Lộc, Thái Dương Hóa Quyền và Thiên Lương ở cung Kỉ Hợi hội chiếu. "Âm Dương Lộc Quyền" hội hợp, vì vậy đây là vận trình kết hôn; nhưng có Lưu Dương của đại hạn và Cự Môn Hóa Kị cùng thủ cung phu thê, nên đã ngầm phục nguy cơ; thêm vào đó "Thái Dương, Thiên Lương" có Thiên Nguyệt đồng độ, là tinh hệ chủ về bệnh mạn tính thuộc hệ thần kinh, mà cung Hợi lại có Địa Kiếp, do đó cuộc tình duyên này thực tình không dám khen ngợi, tâng bốc.
Năm Mậu Ngọ (1978), cung mệnh của lưu niên và cung phu thê của lưu niên cùng hội hợp Tham Lang Hóa Lộc, lại thêm các sao đào hoa đồng độ, vì vậy chủ về "thành hôn mà không có nghi lễ chính thức". Tốt nhất là chúng ta xem thử tình huống cung phu thê của lưu niên (cung Nhâm Thìn), có Lưu Đà La đồng độ, xung hội với Đà La của mệnh bàn, cũng chẳng thể khen.
Cho nên sau khi kết hôn vào năm Kỉ Mùi (1979), vào năm Quý Hợi (1983), cung phu thê của lưu niên mượn tổ hợp "Thái Dương, Thiên Lương" và Thiên Nguyệt để an sao; bị Kình Dương của lưu niên ở cung Sửu hội chiếu, dẫn động Lưu Đà của đại hạn ở cung Tị, thế là tình cảm vợ chồng đổ vỡ, nguyên nhân là vì chồng sử dụng ma túy (bệnh mạn tính thuộc hệ thần kinh).
Lại xem cung phúc đức (Kỉ Hợi) của đại hạn Đinh Dậu, bị Lưu Dương và Lưu Đà của đại vận hội chiếu; ở tinh bàn gốc lại có Địa Không và Địa Kiếp, thêm vào đó lại hội chiếu Thiên Cơ, Thiên Mã, Hữu Bật; cho tới mượn "Thiên Đồng, Cự Môn" ở cung Mùi để an sao, và "Thái Dương, Thiên Lương", đều là các sao tượng trưng cho điều tiếng thị phi.
Còn trùng hợp một điều nữa là, cung mệnh của đại hạn Đinh Dậu cũng hội hợp với tinh hệ đồng dạng, đây chính là tượng trưng cho tinh thần của mệnh tạo ở trong tình huống rất là bối rối khó xử.
Năm Giáp Tí (1984), "Vũ Khúc, Thiên Tướng" ở cung phúc đức (Canh Dần) bị Thái Dương Hóa Kị ở cung Mão và Kình Dương của lưu niên, cùng với Cự Môn Hóa Kị ở cung Sửu và Đà La của lưu niên giáp cung. Đây là tổ hợp tam trùng "Hình Kị giáp ấn", "Song Kị giáp", "Dương Đà giáp", mà còn là cục xấu "Linh Xương Đà Vũ". Vì vậy năm đó đã từng có ý không còn muốn sống, nhưng may mắn được Lộc Tồn của lưu niên đồng độ, hội chiếu Lộc Tồn của đại hạn ở cung Ngọ, nên không chết.
Từ phân tích ở trên, thiết nghĩ bạn đọc đã có cái nhìn nhất định về phương pháp luận đoán các sao của mệnh bàn.
Năm quy tắc quan sát các sao
Một lá số cho thấy cách đọc từng đại hạn; lá số thứ hai sẽ cho thấy trình tự lần theo cái xấu, từ cung tệ nhất tới năm xảy ra sự việc.
Bây giờ chúng ta hãy xem thêm một ví dụ khác, đồng thời nghiên cứu vài quy tắc về cách quan sát các sao.

Tinh bàn trên cũng là nữ mệnh. Trong mệnh bàn cung vị xấu nhất là cung Đinh Tị (tức cung giao hữu). Cung vị này có Kình Dương và Đà La giáp cung, trong cung có Thiên Cơ Hóa Kị tọa thủ, cấu tạo thành cách cục xấu "Dương Đà giáp kị"; mà Thiên Cơ còn có Hỏa Tinh đồng độ, cũng đồng dạng, bị Kình Dương và Đà La giáp cung, tính cứng rắn, hình khắc cũng vì vậy mà mạnh thêm. Mở mệnh bàn ra, trước tiên nên tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, là quy tắc 1 của phép quan sát các sao.
Có ba cung vị bị cung Đinh Tị gây ảnh hưởng, đó là Tân Dậu, Quý Hợi, Ất Sửu. Trong số đó cung Tân Dậu là xấu nhất, bởi vì nó đồng thời tương hội với Linh Tinh của cung Ất Sửu, tức bị hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng chiếu xạ theo kiểu "Song phi hồ điệp".
Cung Tân Dậu là cung mệnh của đại hạn từ 34 đến 43 tuổi. Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, tiếp đến phải tìm ra "tam phương" mà nó bị ảnh hưởng, tức vì bị chúng ảnh hưởng mà biến thành cung xấu hay biến thành cung tốt, đây là quy tắc 2 của phép quan sát các sao.
Do cung mệnh của đại hạn có khuyết điểm, vì vậy cần phải tiếp tục tìm ra cung vị nào xấu hơn trong đại hạn. Chúng ta có thể lưu ý cung Bính Thìn, trong cung nguyên cục có Thất Sát và Đà La tọa thủ; lúc vào đại hạn Tân Dậu, Đà La của nguyên cục tương xung với Lưu Đà của đại hạn ở cung Thân, do đó tính cứng rắn, hình khắc được phát động; hơn nữa còn đối củng với Lưu Dương của đại hạn ở cung Tuất, tính cứng rắn, hình khắc càng mạnh thêm. Cung Bính Thìn là cung tật ách của đại hạn Tân Dậu, cho nên chúng ta cần lưu ý xem trong hạn có vận xấu gì về phương diện cung tật ách hay không.
Sau khi tìm ra vận hạn tốt xấu, chúng ta lại tìm cung vị tốt xấu của vận hạn này, để quyết định vận hạn này tốt thế nào, xấu thế nào, là quy tắc 3 của phép quan sát các sao.
Đến đây, chúng ta quay trở lại cung Đinh Tị của nguyên cục được xem là xấu nhất, cung vị này là cung mệnh của lưu niên Nhâm Tuất, có "Liêm Trinh, Thiên Phủ" và Thiên Hình đồng độ, lại có Lưu Dương của đại hạn và Lưu Đà của lưu niên bay vào. Hai lưu diệu này chia ra cùng hội chiếu với Kình Dương và Đà La của mệnh bàn gốc, sức mạnh hai bên mạnh thêm. Càng xấu hơn là, vào năm Nhâm Tuất có Vũ Khúc Hóa Kị ở cung Giáp Dần đến hội chiếu; toàn bộ tinh hệ ở cung mệnh của lưu niên biểu thị có tổn thương thuộc kim. Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất trong đại hạn, tiếp theo tìm lưu niên xấu, là quy tắc 4 của phép quan sát các sao.
Rồi chúng ta lại truy tìm tiếp, xem năm Quý Hợi kế tiếp ở cung tật ách, là năm bị Văn Xương Lưu Hóa Kị của cung Mùi, và Thiên Cơ Hóa Kị của cung Tị hội chiếu. Cung Mậu Ngọ là cung tật ách của lưu niên, có Tử Vi và Kình Dương đồng độ, Kình Dương này bị Kình Dương của đại hạn xung động, hội hợp với "Liêm Trinh, Thiên Phủ" và Thiên Hình của cung Nhâm Tuất, còn bị Tham Lang Hóa Kị của lưu niên tương xung, thêm vào đó còn có Thiên Hư và Thiên Khốc đồng độ, lại hội Địa Kiếp của cung Dần. Cho nên có thể luận đoán, mệnh tạo vào năm Quý Hợi phải bị phẫu thuật. Sau khi tìm ra sự kiện, tiếp tục truy xét tình huống của năm kế tiếp, là quy tắc 5 của phép quan sát các sao.
Phân tích tinh bàn một nam mệnh
Năm quy tắc vừa lần ra ca phẫu thuật của một phụ nữ; đem áp vào lá số một người đàn ông rời quê lập nghiệp, chúng lần ra cả những năm được mùa lẫn những năm dính kiện tụng.
Sau đây chúng ta thử phân tích một tinh bàn của nam mệnh.

Như trong hình trên, điều khiến người ta chú ý nhất là ở cung mệnh có Thiên Cơ Hóa Kị đồng độ với Hỏa Tinh; nhưng cung thiên di (cung thân) lại là Thái Âm Hóa Quyền đồng độ với Lộc Tồn. Vì vậy có thể luận đoán, mệnh tạo lợi về tiền tài nếu rời xa quê hương.
Nhưng Thái Âm lạc hãm, hội Thái Dương Hóa Khoa ở cung Dậu cũng rơi vào nhược địa, thêm vào đó còn bị Thái Dương, Thiên Lương, Thiên Cơ xung chiếu; cung Sửu hội hợp lại vô chính diệu, phải mượn "Thiên Đồng, Cự Môn", Linh Tinh, Thiên Việt của cung Mùi để nhập cung, vì vậy có thể luận đoán mệnh tạo ở nơi xa tuy có thể phát tài, nhưng nhiều điều tiếng thị phi, thậm chí phạm pháp.
Vận trình sáng sủa nhất là từ 32 đến 41 tuổi, vào đại hạn Giáp Dần. Cung thiên di của đại hạn này có Vũ Khúc Hóa Khoa, cung mệnh là Thiên Mã có Lưu Lộc của đại hạn đồng độ, thành cách cục "Lộc Mã giao trì", Lưu Lộc còn xung động Tham Lang Hóa Lộc của cung Ngọ, vì vậy trong đại hạn này mệnh tạo có thể phát tài ở nơi xa.
Nhưng cũng trong hạn này, cung phụ mẫu của đại hạn tức cung Ất Mão vô chính diệu, phải mượn Thái Dương Hóa Kị (vốn là Hóa Khoa) và Thiên Lương để nhập cung, dẫn đến tình hình có Lưu Dương và Thiên Hình đồng độ, cho nên không những chủ về cha mất trong hạn này, hơn nữa, lưu niên đến hai cung Mão và Dậu còn sợ rằng sẽ có sự cố phạm pháp.
Năm Canh Thân (1980), cung mệnh là Vũ Khúc (đại hạn thì Hóa Khoa, lưu niên thì Hóa Quyền) có Thiên Tướng và Lộc Tồn của lưu niên đồng độ, thêm vào đó, cung thiên di của lưu niên lại có Thiên Mã của lưu niên bay vào, thành cách lưỡng trùng "Lộc Mã giao trì", vì vậy chủ về năm đó thu hoạch rất khá.
Nhưng năm kế tiếp, cung mệnh là cung Dậu có Thái Dương (đại hạn thì Hóa Kị) và Thiên Lương, hội hợp với Văn Khúc (lưu niên thì Hóa Khoa) và Văn Xương (lưu niên thì Hóa Kị) của cung Sửu, lại hội hợp với Thiên Đồng và Cự Môn (lưu niên thì Hóa Lộc) mượn của cung Mùi để an sao, còn hội hợp với Thái Âm Hóa Quyền và Lộc Tồn của tinh bàn gốc. Chúng ta còn nên chú ý cung Dậu có Lưu Dương và Lưu Đà của đại hạn cùng chiếu, thêm vào đó còn có Thiên Hình, Kiếp Sát đến hội. Cho nên năm đó tuy có Lộc Tồn của lưu niên xung khởi Lộc Tồn của tinh bàn, nhưng vẫn chủ về có dính dáng đến pháp luật, kiện tụng và phá tài.
Đến năm Ất Sửu, cung mệnh là cung Sửu vô chính diệu, mượn "Thiên Đồng, Cự Môn" và Linh Tinh, Thiên Việt của đối cung để nhập cung, lại có Đà La của đại hạn đồng độ; rồi lại hội hợp với Thái Âm lạc hãm (lưu niên thì Hóa Kị) và Thái Dương (đại hạn thì Hóa Kị), vì vậy mà bị cuốn vào vòng thị phi, bất hòa, tranh chấp.
Tương lai đến năm Đinh Mão, đổi lại mượn Thái Dương Hóa Kị để an sao, lại hội hợp với Cự Môn (lưu niên thì Hóa Lộc) và Thiên Cơ Hóa Kị, mà còn kèm theo Đà La của lưu niên, nguyên cục lại có Hỏa Tinh và Linh Tinh cùng chiếu, lại gặp thêm các sao hung Thiên Hình, Đại Hao, Thiên Nguyệt, nên cẩn thận, cần tránh tranh chấp, tuyệt đối không để bị cuốn vào vòng thị phi, nếu không e rằng sẽ vì phạm pháp mà phá tài lớn.
Ghi chú về phép định tiểu hạn
Tiểu hạn là chủ về cát hung của một năm. Do phái Trung Châu Vương Đình Chi không dùng tiểu hạn, mà chỉ dùng lưu niên để luận đoán tiểu hạn, nên chúng tôi không trình bày phép định tiểu hạn trong phần an sao. Ở đây xin ghi chú phép định tiểu hạn để bạn đọc tham khảo. Phép định tiểu hạn là căn cứ vào địa chi của năm sinh, như sau:
Người sinh năm Dần, Ngọ, Tuất, tiểu hạn khởi từ cung Thìn.
Người sinh năm Thân, Tí, Thìn, tiểu hạn khởi từ cung Tuất.
Người sinh năm Hợi, Mão, Mùi, tiểu hạn khởi từ cung Sửu.
Người sinh năm Tị, Dậu, Sửu, tiểu hạn khởi từ cung Mùi.
Nam mệnh đi thuận, một năm là một cung; nữ mệnh đi nghịch, một năm là một cung; bất kể âm hay dương, cứ vậy mà tính tới.
Từ các nguyên tắc trên, chúng ta thấy tiểu hạn chỉ khởi ở 4 cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, nên phạm vi rất hẹp, không bao quát, mất đi ý nghĩa của nhân bàn.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
