Bài tổng quan
Tám chính tinh cuối ở cung Thiên Di và chuyện xa quê
Ánh sáng Thái Dương gắt quá nên đi đâu cũng dễ chuốc oán trách, còn ánh trăng Thái Âm dịu dàng nên ở đất khách lại được người ta chào đón. Tám chính tinh cuối của cung Thiên Di, sao nào mang theo một kiểu vận may và một kiểu hiểm họa riêng khi rời quê hương...
ĐI XA MÀ GẶP THIÊN PHỦ THÌ TỪNG BƯỚC VỮNG VÀNG, GẶP PHÁ QUÂN THÌ PHẢI LẤY TAY NGHỀ MÀ ĐỔI LẤY CHỖ ĐỨNG. Giữa hai đầu ấy là Thái Âm được người phương xa đón nhận, Tham Lang chén chú chén anh, Cự Môn sống bằng lời nói, Thiên Tướng đứng cạnh bậc quyền quý, Thiên Lương được che chở và Thất Sát ra ngoài thì có uy. Mỗi sao lại đổi sắc tùy sao giáp cung, sao đồng độ và các hóa diệu bay tới.
Thiên Phủ ở cung Thiên Di
Thiên Phủ thủ cung Thiên Di, thông thường là ổn định, tức sau khi thiên di sẽ từng bước phát triển. Thiên Phủ Hóa Khoa thì chủ được người nước ngoài (hoặc người ở nơi xa) kính trọng.
Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", gặp Âm Sát, Thiên Diêu, chủ đi xa bị âm mưu hãm hại, dẫn đến phá tài, bị tổn thương.
Nếu Thiên Phủ là "kho phủ đầy ắp", lại có cát tinh hội hợp, thì đi xa có thể sáng lập sự nghiệp.
Thiên Phủ có Văn Khúc Hóa Kị đồng độ thì đi xa phá tiểu tài, chủ bị móc túi hoặc bị trộm. Nếu hội Vũ Khúc Hóa Kị thì phá tài lớn hơn, còn bị tổn thương.
Thiên Phủ có Kình Dương, Thiên Hình đồng độ, đi xa thường chuốc thị phi.
Thiên Phủ có Kình Dương, Thiên Nguyệt đồng độ, chủ bị nhiễm bệnh ở nước ngoài (hoặc nơi xa).
Thiên Phủ đồng độ với Đà La, đi xa thường bị kéo dài, đến lúc hồi hương thì gặp trở ngại. Có Thiên Nguyệt đồng độ thì mang bệnh mà hồi hương. Có điều, nếu các sao sát, kị, hình nặng thì chủ chết ở tha hương.
Thiên Phủ ở cung Thiên Di ưa đồng độ với Tử Vi, chủ đi xa được gần gũi bậc quyền quý; cũng ưa đồng độ với Vũ Khúc, chủ kinh doanh làm ăn có thể trở nên giàu có; nhưng phải gặp cát tinh và cát hóa mới đúng.
Do "Phùng Phủ khán Tướng" (gặp Thiên Phủ thì phải xem Thiên Tướng), nên cát hung của Thiên Tướng có ảnh hưởng rất lớn đối với Thiên Phủ. Nếu Thiên Phủ là "kho phủ đầy ắp", lại hội Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", Quyền Lộc giáp cung, hay song lộc giáp cung, thì rời xa quê hương nhất định sẽ phát tài. Nếu là "kho lộ", "kho trống", lại hội Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, hay Kình Dương và Đà La giáp cung, thì rời xa quê hương ắt sẽ bị thất bại, gặp trắc trở hoặc nạn tai, bệnh tật.
Thiên Phủ có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, mà Văn Khúc Hóa Kị hay Văn Xương Hóa Kị, lại gặp Lộc Tồn bị lưỡng trùng Kình Dương, Đà La giao nhau, cần phải đề phòng kinh doanh làm ăn ở nơi xa bị người ta giật nợ.
Thiên Phủ ở hai cung Tị hoặc Hợi thì cung mệnh ắt sẽ là "Tử Vi, Thất Sát"; nếu Tử Vi Hóa Quyền, rất nên rời xa quê hương để sáng lập sự nghiệp, chủ viễn du trùng dương được hưng phát. Nếu ở hai cung Tị hoặc Hợi có nhiều sao phụ, tá cát, ắt sẽ là kiều dân ở nước ngoài.
Thiên Phủ không ưa hội Liêm Trinh Hóa Kị, bất kể phá tán, thất bại thế nào cũng đều chủ tình cảm bị tổn thương. Nếu hội Vũ Khúc Hóa Kị là phá tài, hoặc xoay chuyển tiền bạc rất khó khăn.
Thiên Phủ ưa Liêm Trinh Hóa Lộc, chủ kiếm tiền thuận lợi ở nơi xa. Có điều, nếu đồng cung với các sao đào hoa, Văn Xương, Văn Khúc, thì hay thù tạc, vui vẻ trăng gió ở nơi xa.
Thiên Phủ gặp Vũ Khúc Hóa Lộc hội hợp thì ở nơi xa kinh doanh làm ăn đại lợi; hội các sao phụ, tá cát ắt sẽ chủ viễn du trùng dương, trở nên giàu có.
Thái Âm ở cung Thiên Di
Kho tiền Thiên Phủ đứng yên mà giữ của, còn vầng trăng Thái Âm đi đâu cũng được người ta đón nhận bằng thứ ánh sáng dịu dàng.
Thái Âm khác với Thái Dương. Ánh sáng của Thái Dương đáng sợ, chủ "phát tán" mà không chủ "thu vào", nên dễ vì quá lộ tài năng mà chuốc thị phi, oán trách sau lưng. Còn ánh sáng nhu hòa của Thái Âm (mặt trăng) thì nhiều người ưa thích, do đó lúc ở cung Thiên Di cũng chủ dễ được người ngoại quốc (hay ở nơi xa) chào đón, tiếp nhận. Nếu Thái Âm nhập miếu còn chủ kết giao rộng; nhưng nếu lạc hãm thì cũng bị gây tổn hại ngầm.
Thái Âm có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, lại đồng cung với các sao đào hoa, ở nơi xa chủ được người khác giới xem trọng, ưu ái. Gặp các sao sát, kị sẽ chủ vì sắc mà gây họa.
Thái Âm Hóa Kị đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc, chủ vì sắc mà phá tài; nếu Văn Xương hay Văn Khúc Hóa Kị là bị trộm.
Thái Âm có Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ là được người ta trợ giúp; có Thiên Khôi, Thiên Việt đồng độ thì cơ hội đến nhiều.
Thái Âm nhập miếu đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chỉ chủ bôn ba; nếu lạc hãm mà đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì chủ phá tài, gặp nhiều trắc trở. Có Kình Dương, Đà La đồng độ thì bôn ba bận rộn mà chẳng được gì, hoặc ở nơi xa có người âm mưu hãm hại; có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì vô cớ hao tài, phá tán; Thái Âm hóa làm sao kị thì càng đúng.
Thái Âm chủ "tĩnh", chủ "ẩn tàng", cho nên lúc thủ cung Thiên Di không nên tranh chấp với người khác.
Thái Âm lạc hãm ở cung Thiên Di, cung Thân cũng ở cung Thiên Di, người sinh vào ban ngày hoặc sinh vào nửa cuối tháng; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh ở cung mệnh; cung Phụ Mẫu lại không cát tường; là chủ lúc nhỏ theo mẹ cải giá.
Thái Âm Hóa Kị thủ cung Thiên Di thì không nên đầu tư ở quê người, càng không nên thấy lợi mà mừng, mà bị tổn thất, phá tán.
Tổ hợp Thái Âm và Thiên Đồng, gặp sao lộc, lại gặp thêm cát tinh, chủ nhờ viễn du trùng dương mà tay trắng làm nên. Nếu Thiên Đồng Hóa Kị thì bôn ba ở nơi xa mà không có kết quả gì, dù gắng gượng lập nghiệp vẫn chết ở tha hương.
Tổ hợp Thái Âm và Thái Dương, dù gặp cát tinh cũng chủ thay đổi, không ở một nơi, thường bận rộn, vất vả. Gặp sát tinh nhẹ cũng chủ có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ; cần phải được cát hóa mới chủ sự nghiệp thành tựu ở nơi xa.
Tổ hợp Thái Âm và Thái Dương, mà Thái Dương Hóa Kị, gặp sát tinh và các sao hư, hao, hình, chủ ở nơi xa bị điều tiếng thị phi rất nặng, còn hay nhận lỗi thay cho người khác. Nếu Thái Âm Hóa Kị sẽ chủ rối ren phá tài một cách vô cớ, hoặc bị dẫn dụ mà phá tài.
Tổ hợp Thái Âm và Thiên Cơ cũng hiếu động, trôi nổi, cho nên dù gặp cát tinh cũng chủ lao tâm lao lực, không chuyên một nghề, không ở yên một nơi. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị sẽ dễ có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, tính hay do dự, sự nghiệp khó thành.
Tổ hợp "Thái Âm, Thiên Cơ" ở cung Dần, do hội Thiên Lương ở cung Ngọ, nên thường chủ bị cô lập.
Thái Âm Hóa Kị, bị Hóa Kị của lưu niên hay đại vận xung khởi, có song Đà La hoặc song Kình Dương cùng bay đến, hoặc lưỡng trùng Kình Dương và Đà La giáp cung, lại gặp các sao hư, hao, chủ ở nơi xa đột nhiên sinh thị phi, họa hoạn.
Thái Âm hội Thiên Đồng Hóa Lộc, chủ tay trắng thành sự nghiệp; hội Thiên Cơ Hóa Lộc, sự nghiệp sau khi giảm sút liền hưng thịnh trở lại.
Thái Âm Hóa Quyền thủ cung Thiên Di, thích hợp làm những nghề nghiệp hưởng lương, nên phụ trách điều độ về tài chính cho công ti; Hóa Khoa thì chủ được người ta tín nhiệm về tiền bạc.
Thái Âm có các sao khoa văn đồng độ, không gặp sao đào hoa, cổ nhân cho rằng ở quê người sẽ đỗ đạt. Ở thời hiện đại là điềm tượng đi du học có thành tựu.
Tham Lang ở cung Thiên Di
Ánh trăng được người ta đón nhận, còn Tham Lang ra ngoài là để kết giao, chén chú chén anh ở khắp mọi nơi.
Tham Lang thủ cung Thiên Di chủ ở nơi xa có nhiều thù tạc. Tính chất thù tạc phải xem kèm cung mệnh và cung Phúc Đức mà định. Ba cung này mà gặp các sao khoa văn thì phần nhiều là thi tửu; gặp các sao đào hoa thì phần nhiều là tửu sắc; gặp Hoa Cái, sao không thì phần nhiều là bạn bè tôn giáo.
Tham Lang Hóa Lộc hay Hóa Quyền thì thù tạc vui vẻ, kết giao rộng; nếu ở hai cung Tí hoặc Ngọ thì còn được bạn bè tôn trọng. Nhưng nếu Tham Lang Hóa Kị thì thường vì thù tạc vô vị mà dẫn đến phiền phức, tranh chấp; dù có sao cát đồng thời hội hợp cũng chủ thù tạc nhiều mà không có thu hoạch.
Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ ở nơi xa náo nhiệt, nhưng phần nhiều chỉ giao du ngoài mặt, mà khó có bạn tri âm. Có thêm sao lộc đến hội sẽ chủ nhờ thù tạc mà kiếm được tiền.
Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, nếu gặp sát tinh hoặc Hóa Kị (các sao sát, kị tụ hội thì càng tệ), sẽ chủ ở nơi xa bề ngoài thì vẻ vang, nhưng lợi ích thực tế thì bị người ta đoạt mất.
Tham Lang đồng độ với Kình Dương, Đà La, chủ đi xa gặp nhiều thị phi, mà thường do thù tạc, vui chơi gây ra; nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp thì bị trộm; nếu hội hợp các sao đào hoa sẽ chủ vì sắc mà gây ra họa; gặp Hóa Kị, nhất là Liêm Trinh Hóa Kị, thì tình hình càng nghiêm trọng.
Tham Lang độc tọa cung Thiên Di, Hóa Lộc hay Hóa Quyền; hoặc gặp Liêm Trinh Hóa Lộc hội hợp; dù không có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, cũng chủ thiên di đến đất khác tương lai sáng sủa phát đạt. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh càng chủ phát đột ngột; nhưng nếu đồng thời lại gặp các sao sát, kị, thì sau khi phát đột ngột ắt sẽ suy sụp nhanh chóng.
Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp Liêm Trinh vây chiếu, chủ ở nơi xa hay thù tạc tửu sắc, bận rộn, vất vả nhiều; gặp thêm cát tinh và cát hóa thì nhờ vậy mà phát đạt; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì thi tửu tiêu sái, hoặc được người nơi xa hoan nghênh. Có điều, nếu gặp các sao đào hoa sẽ chủ tửu sắc; gặp sao đào hoa và Văn Xương, Văn Khúc thì cờ bạc. Cần xem có các sao sát, kị hay không mà định cát hung.
Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân mà Hóa Kị là bị người ta đoạt người yêu. Vì vậy không nên tửu sắc; lúc xử lí thương vụ cũng có điềm tượng bị tranh đoạt.
Tham Lang ở cung Thìn hoặc Tuất, không cần gặp thêm các sao đào hoa cũng chủ tham luyến tửu sắc. Được cát hóa và có sao cát thì kinh doanh làm ăn có thể phát.
Tham Lang ở cung Thìn hoặc Tuất được xem là sao đào hoa, không chủ văn vẻ. Nó ưa gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, sẽ chủ được người ta dìu dắt, giúp đỡ, hoặc chủ có sẵn cơ hội. Trường hợp đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì thiên di có thể trở nên giàu có; gặp thêm sát tinh thì đề phòng hoạnh phát rồi hoạnh phá.
"Liêm Trinh, Tham Lang" cùng thủ cung Thiên Di, chủ xuất ngoại phải trải qua gian khổ; gặp sao đào hoa, các sao sát, kị, thì vì tửu sắc mà chuốc họa.
"Tử Vi, Tham Lang" thủ cung Thiên Di thì nên rời quê hương để phát triển, cũng lợi về tự kinh doanh làm ăn.
"Vũ Khúc, Tham Lang" thủ cung Thiên Di ắt sẽ là nhà buôn lớn. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị thì vì tửu sắc mà chuốc thị phi.
Đến lưu niên Tham Lang thủ cung Thiên Di, nguyên cục có sát tinh, bị lưu sát tinh xung khởi, còn gặp các sao Thái Tuế, Tuế Phá, Quan Phù, Đại Hao, lại gặp Hỏa Tinh hội hợp, chủ binh tai chiến họa, hoặc bị tham quan vu oan.
Cự Môn ở cung Thiên Di
Tham Lang ra ngoài bằng chén rượu, còn Cự Môn ra ngoài bằng lời nói, và lời nói thì cần một vầng mặt trời soi sáng.
Cự Môn thủ cung Thiên Di, cần phải xem Thái Dương thế nào. Nếu hội Thái Dương có ánh sáng rực rỡ thì lợi về thiên di, chủ ở nơi xa có duyên với người; nếu Thái Dương mất sáng sẽ chủ chuốc điều tiếng thị phi, oán trách ở nơi xa. Có điều, Thái Dương ở hai cung Tị hoặc Ngọ, ánh sáng quá thịnh, cũng không phải là tốt hoàn toàn, lúc xuất ngoại không nên quá lộ tài năng.
Nếu Cự Môn thủ cung Thiên Di, Thái Dương thủ mệnh ở cung Hợi là lạc hãm, thì bất lợi về thiên di, hay gặp rối ren, còn dễ đánh mất cơ hội. Thái Dương hội sao cát và cát hóa thì càng đúng.
Cự Môn ở cung Thiên Di, tính chất cơ bản tương đồng với ở cung mệnh, cũng chủ "dùng tài ăn nói để kiếm tiền", lấy trường hợp Hóa Lộc hoặc có Lộc Tồn đồng độ, gặp các sao phụ, tá cát là tốt. Nếu cát tinh và sát tinh lẫn lộn thì không thích hợp làm việc trong chính giới, chỉ nên kinh doanh buôn bán.
Cự Môn Hóa Quyền, ở nơi xa có thể dùng lời nói để tranh thủ niềm tin nơi người khác. Hễ "Thái Dương, Thiên Lương" hội Văn Xương, Văn Khúc có sao cát thì lợi về dạy học.
Cự Môn Hóa Lộc thì Thái Dương sẽ đồng thời Hóa Quyền; nếu Thái Dương ở cung miếu vượng sẽ chủ sau khi thiên di được người ngoại quốc (hay người ở phương xa) đề bạt, trọng dụng. Nhưng nếu có sát tinh hội chiếu hoặc đồng độ thì cũng nhiều thị phi rối rắm, hoặc vì công việc mà phải lao tâm tổn thần.
Cự Môn Hóa Kị chủ tiến thoái bất an, vất vả bôn ba. Nếu lại gặp các sao sát, hình, hư, hao, thì thị phi rối rắm, điều tiếng bất hòa, tranh chấp đấu đá sẽ đến liên tiếp. Nếu Cự Môn Hóa Kị gặp Địa Không, Địa Kiếp, sẽ chủ ở nơi xa nội tâm hay do dự, thường có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ.
Cự Môn hội Thái Dương ở hai cung Tị hoặc Ngọ, nếu Thái Dương Hóa Lộc hay Hóa Quyền thì ở nơi xa có thể cậy thế hiếp đáp người. Nhưng nếu hơi gặp sát tinh thì lúc đến lưu niên hay đại vận không cát tường sẽ dễ chuốc thị phi. Nếu ở hai cung Tị hoặc Ngọ mà Thái Dương Hóa Kị thì chủ điều tiếng thị phi liên tục, không nên cố xuất đầu lộ diện và không nên quá lộ tài năng, nếu không sẽ dễ chuốc thất bại. Nếu không gặp sát tinh thì nên làm những nghề nghiệp "dùng tài ăn nói để kiếm tiền", có thể tránh được thị phi.
Tổ hợp Cự Môn và Thiên Đồng, nếu Thiên Đồng Hóa Kị sẽ chủ bôn ba; nếu Thiên Đồng Hóa Lộc lại chủ dễ gặp rắc rối, khó xử về tình cảm. Nhưng nếu Thiên Đồng được cát hóa, hội sao cát, vẫn chủ nếu thiên di có thể tay trắng làm nên.
Tổ hợp Cự Môn và Thiên Cơ, nếu Thiên Cơ Hóa Kị sẽ chủ ít duyên với người và thường không được như ý. Nếu gặp thêm sát tinh sẽ chủ bị tranh chấp một cách không lành mạnh, hay bị người ta nói xấu, gièm pha.
Tổ hợp Cự Môn và Thiên Cơ, nếu Thiên Cơ Hóa Lộc hay Quyền, cũng chủ xuất ngoại có thể sáng lập được sự nghiệp; nhưng không tốt bằng Cự Môn Hóa Lộc. Nếu có sát tinh đồng độ, dù Cự Môn Hóa Lộc cũng thành bại cục, chủ bề ngoài vẻ vang nhưng nội tâm bất túc, lao tâm tổn thần, uổng phí tâm lực.
An mệnh ở hai cung Mão hoặc Dậu, vô chính diệu, đối cung là "Thiên Cơ, Cự Môn", chủ "thay gốc đổi lá" (thiên di) để lập nghiệp. Gặp sát tinh sẽ chủ hao phí tinh thần; gặp cát tinh sẽ chủ yên ổn. Nhưng trong các tình hình thông thường đều nên rời xa quê hương để phát triển.
Cự Môn thủ cung Thiên Di của lưu niên, gặp sao lộc mới có thể đi nước ngoài; gặp sát tinh sẽ chủ uổng phí tinh thần; nếu có các sao sát, kị, hình, hao tụ hội, sẽ chủ có họa tai vô vọng.
Hễ Cự Môn đồng độ với Lộc Tồn, nếu không có cát hóa và sao cát, chủ đi xa bị tiểu nhân gây trắc trở; có Lưu Lộc đồng độ cũng đúng.
Thiên Tướng ở cung Thiên Di
Cự Môn đi xa phải nhờ lời nói, còn Thiên Tướng thì nhờ được đứng cạnh bậc quyền quý, miễn là biết lùi về vị trí phó.
Thiên Tướng thủ cung Thiên Di, trong các tình hình thông thường đều cát lợi, chủ nhờ gần gũi bậc quyền quý mà đắc lợi. Được Thiên Khôi và Thiên Việt giáp cung, hoặc đồng độ hay tương hội, là được người đề bạt, giúp đỡ; nhưng chỉ lợi về hợp tác với người khác, hoặc lui về vị trí phó, không nên lộ sự sắc xảo, không nên khoe tài, nếu không sẽ bị người ta bài xích, chèn ép.
Thiên Tướng được cát hóa, và có Lộc Tồn, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, đều chủ có thể sáng lập sự nghiệp ở tha hương; cũng thích hợp làm việc trong chính giới, hay trong các công ti lớn.
Thiên Tướng ở cung Thiên Di, nếu thuộc loại "Hình kị giáp ấn" thì rất bất lợi về thiên di; nếu gặp Kình Dương và Đà La giáp cung, Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, Địa Không và Địa Kiếp giáp cung, hoặc có các sao sát, hình, hao hội hợp, nhẹ thì chủ ở tha hương bị người ta bài xích, chèn ép; nặng thì thiên di đến đất lạ sẽ chuốc tai họa lao ngục.
Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", hoặc được lục cát tinh giáp cung (tức Thiên Khôi và Thiên Việt giáp cung, Tả Phụ và Hữu Bật giáp cung, Văn Xương và Văn Khúc giáp cung), hay Lộc, Quyền, Khoa giáp cung, "Tử Vi, Thiên Phủ" giáp cung, "Thái Dương, Thái Âm" giáp cung, đều chủ ở tha hương đắc lợi. Có điều tình hình cụ thể thì bất nhất. "Tài ấm giáp ấn" chủ có sẵn cơ hội; Thiên Khôi và Thiên Việt giáp cung chủ có người dìu dắt, giúp đỡ; Tả Phụ và Hữu Bật giáp cung chủ có người phò tá; Văn Xương và Văn Khúc giáp cung chủ sự tình thuận lợi; Lộc và Khoa giáp cung chủ đắc tài lộc, quyền lực, danh vọng; "Tử Vi, Thiên Phủ" giáp cung chủ được người ta trọng dụng; "Thái Dương, Thái Âm" giáp cung chủ biến động thay đổi thì đắc lợi. Trên đây chỉ là các nguyên tắc thông thường, tình huống thực tế cần xem các sao phân bố cụ thể mà định.
Đại khái, Thiên Tướng gặp sao cát giáp cung thì phần nhiều có duyên với người, gặp sao hung giáp cung sẽ chủ bị cô lập. Nhưng nếu Văn Xương và Văn Khúc giáp cung, mà Thiên Tướng lại đồng cung với các sao đào hoa, sẽ chủ ở tha hương giao du nhiều bạn tửu sắc; Kình Dương và Đà La giáp cung mà Lộc Tồn trùng điệp Hóa Lộc, chỉ chủ bị tiểu nhân đố kị, hoặc bị tiểu nhân bao vây.
Thiên Tướng đồng độ với Liêm Trinh, kết cấu cơ bản là bất lợi về thiên di; gặp các sao sát, kị, không, kiếp, hình, hao thì chuốc thị phi, nếu nặng sẽ dính dáng đến kiện tụng.
"Liêm Trinh, Thiên Tướng" thủ cung Thiên Di, nếu cung mệnh là Phá Quân Hóa Quyền mà Liêm Trinh lại Hóa Lộc, ở thời hiện đại thường có thể tạo dựng sự nghiệp ở hai nơi. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị thì nên ở yên nơi sinh ra.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" ở cung Thiên Di, gặp cát tinh, thì lợi về thiên di đến đất lạ, kinh doanh làm ăn; thường chủ ở nơi xa gặp cơ hội đắc ý bất ngờ. Gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, hoặc được "Tài ấm giáp ấn" thì càng có lợi.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" ở cung Thiên Di mà Vũ Khúc Hóa Kị, hoặc hội Liêm Trinh Hóa Kị, hoặc hội Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", hoặc bị "Hình kị giáp ấn", đều chủ ở tha hương gặp tai họa, nặng thì chết ở nước ngoài (hoặc nơi xa).
"Tử Vi, Thiên Tướng" thủ cung Thiên Di, không gặp các sao sát, kị, thì đại lợi về thiên di, ở tha hương được người ta kính trọng, dễ tạo dựng sự nghiệp. Nếu gặp các sao sát, kị thì chuốc đố kị, thị phi.
Thiên Tướng có "Vũ Khúc, Phá Quân" vây chiếu, thiên di khá bất lợi; không được cát hóa mà chỉ gặp cát tinh cũng chủ chìm nổi ở tha hương; cần phải được cát hóa và có sao cát tụ tập mới chủ phát đạt ở tha hương.
Thiên Tướng đối nhau với "Tử Vi, Phá Quân", nếu nguyên cục là Tham Lang Hóa Lộc thì chủ động tĩnh đều lợi; Tử Vi Hóa Quyền ở nguyên cục thì nên rời khỏi quê hương để phát triển.
Thiên Tướng đối nhau với "Liêm Trinh, Phá Quân", chính diệu giáp cung Thiên Tướng đã có tính chất chia lìa, cho nên thông thường chủ sống cô lập ở tha hương; trừ phi Thiên Tướng hội Thiên Phủ có Lộc Tồn, Thiên Mã, nếu không sẽ bất lợi về thiên di.
Đến lưu niên Thiên Tướng thủ cung Thiên Di; có Hỏa Tinh, Linh Tinh chiếu xạ; có Lưu Dương, Bạch Hổ, Quan Phù nhập cung, chủ phạm pháp ở tha hương.
Thiên Lương ở cung Thiên Di
Thiên Tướng nhờ người trên nâng đỡ, còn Thiên Lương là sao che chở, đi đến đâu cũng có người che chắn cho mình.
Thiên Lương thủ cung Thiên Di, thông thường chủ xuất ngoại được người ta che chở. Đây là ý nghĩa cơ bản của Thiên Lương là "ấm tinh".
Thiên Lương có Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp ở cung Thiên Di, chủ ở tha hương gặp nhiều cơ hội, còn được người ta kính nể, vì vậy mà có nhiều trợ lực.
Nếu Thiên Lương đồng độ với Lộc Tồn sẽ chủ bị bài xích, chèn ép; nếu lại đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì càng tệ. Nếu lại hội hợp sao kị và Thiên Hình, Đại Hao, thì chủ phạm pháp; nhất là lúc Thái Dương Hóa Kị đến hội, có thể bị tù oan, tuy cuối cùng cũng có thể hóa giải, nhưng đã phải trải qua đắng cay.
Thiên Lương ở hai cung Tị hoặc Hợi, gặp Thiên Đồng vây chiếu; ở cung Thân đồng độ với Thiên Đồng; cổ nhân cho rằng chủ trôi dạt. Nhưng nếu gặp sao cát mà không gặp các sao sát, kị, ở thời hiện đại chỉ chủ không ở yên một nơi. Có điều, nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ sẽ chủ bôn ba tứ hải mà sự nghiệp không thành.
"Thiên Lương, Thiên Đồng" ở cung Dần, do Thiên Lương nhập miếu nên không chủ phiêu lưu.
Kết cấu "Thiên Lương, Thiên Cơ", ở thời cổ đại chỉ là người mãi nghệ mưu sinh, cuộc sống lênh đênh. Đây cũng do Thiên Lương có khuynh hướng nghề, nghệ thuật, còn Thiên Cơ thì làm mạnh thêm ý vị bôn tẩu. Ở thời hiện đại, những tính chất này vẫn còn, nhưng sinh hoạt thực tế đã ổn định hơn.
Thực ra "Thiên Đồng, Thiên Lương" mà gặp Thiên Mã cũng chủ lưu diễn nghệ thuật. Còn có "sao lẻ" Văn Xương hay Văn Khúc hội hợp là văn nhân nghèo nàn, thất chí, tứ hải lông bông. Nếu Văn Khúc Hóa Kị sẽ chủ lưu lạc giang hồ, lừa đảo để mưu sinh. Thiên Lương độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi cũng vậy.
Tổ hợp "Thiên Lương, Thiên Cơ", nếu được cát hóa, có sao cát, thì gặp nhiều cơ hội nhưng không ổn định; nếu đồng thời gặp thêm sát tinh thì khó nắm chắc cơ hội. Thiên Cơ Hóa Kị sẽ chủ bị tranh chấp không lành mạnh ở quê người.
Tổ hợp "Thái Dương, Thiên Lương", ý nghĩa cơ bản đã chủ li tán, cho nên lúc thủ cung Thiên Di thông thường đều lợi về thiên di. Có điều Thái Dương phải ở cung miếu vượng, chủ được người ta kính trọng. Nếu Thái Dương lạc hãm thì ở tha hương vẫn chủ sống cô lập. Thái Dương Hóa Kị ở hãm địa thì bị người ta mạo phạm; gặp thêm Thiên Hình sẽ chủ kiện tụng, phạm pháp.
"Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ, thủ mệnh ở hai cung Mão hoặc Dậu, cung Thiên Di vô chính diệu, nhưng cung mệnh hội Lộc Tồn, Thiên Mã, cũng chủ rời xa quê hương thì phát phúc. Ở thời hiện đại, cung mệnh thành cách "Dương Lương Xương Lộc", dù không hội Lộc Tồn, Thiên Mã, phần nhiều cũng có cơ hội đi du học.
Thiên Lương đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, ý vị phiêu lưu càng lớn. Cho nên thiên di ở tha hương vẫn chủ về đi nơi khác rồi lại đi nơi khác nữa.
Thiên Lương có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ; Thái Dương ở cung miếu vượng đến chiếu, thì thông thường lợi về thiên di đến đất lạ để nghiên cứu học thuật. Hai sao Văn Xương và Văn Khúc, một sao Hóa Khoa, một sao Hóa Kị, thì nên theo ngành khoa học kĩ thuật.
Thiên Lương Hóa Lộc thủ cung Thiên Di, nếu ở hai cung Tí hoặc Ngọ thì rất dễ bị người ta chỉ trích. Gặp sát tinh có thể gặp sóng gió rất lớn. Trường hợp ở cung Tí là kế đó.
Thiên Lương có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, ở tha hương thường bị tai ách. Gặp thêm cát tinh sẽ chủ nhờ họa mà được phúc.
Đến lưu niên Thiên Lương thủ cung Thiên Di gặp cát tinh, chủ ở tha hương kinh doanh làm ăn có thể phát; nếu hội Thái Dương Hóa Kị, Thiên Hình, Quan Phù, Bạch Hổ của lưu niên nhập cung, chủ bị kiện tụng.
Thất Sát ở cung Thiên Di
Sau cái bóng che chở của Thiên Lương là Thất Sát, ra ngoài thì có uy, nhưng uy ấy phải đổi bằng sóng gió.
Thất Sát thủ cung Thiên Di, người xưa cho rằng ở bên ngoài thì nhiều, ở nhà thì ít. Luận đoán này chưa chắc đúng; cần phải gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ (hoặc Hỏa Tinh, Linh Tinh ở cung mệnh), hoặc là "Lộc Mã giao trì", mới chủ thường xuất ngoại.
Ngoại trừ ở hai cung Mão hoặc Dậu, Thất Sát thủ cung Thiên Di thông thường lợi về xuất ngoại, chủ ở tha hương có quyền thế, được người ta kính sợ. Nhất là lúc "Tử Vi, Thất Sát" thủ cung Thiên Di thì quyền uy rất lớn.
Thất Sát có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ thì khí chất không hợp nhau, chẳng chủ có lợi ích. Nhưng tinh hệ "Tử Vi, Thất Sát" lại ưa chúng. Tinh hệ Thất Sát ở các cung độ khác lại ưa Thiên Khôi, Thiên Việt, cũng ưa Tả Phụ, Hữu Bật, chủ ở tha hương có địa vị, mà còn có nhiều cơ hội phát triển.
Thất Sát đồng độ với Kình Dương, Đà La, lợi về võ nghiệp; nếu không thì chủ ít duyên với người. Ở thời hiện đại có thể theo ngành công nghệ.
Thất Sát có Hỏa Tinh đồng độ, ở cung mệnh chủ "cô độc và hình khắc", ở cung Thiên Di thì phát đột ngột, gặp sao lộc còn chủ được tiền của bất ngờ, nhưng dễ được dễ mất, hoạnh phát rồi hoạnh phá; cần phải biết dừng lại mới có thể duy trì thành tựu đã đạt được.
Thất Sát có Linh Tinh đồng độ ở cung Thiên Di, người xưa cho rằng võ nghiệp phi phàm. Ở thời hiện đại cũng có thể theo ngành công nghệ hay sản xuất.
Thất Sát thủ cung Thiên Di có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, chủ phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, lí tưởng thường vượt qua hiện thực, khiến khó giữ một nghề, không ở yên một nơi, thường sinh tâm thay đổi. Vận dụng phép "theo cát tránh hung", chỉ thích hợp làm việc trong lĩnh vực công nghệ hay sản xuất, nhờ có ý tưởng mới mà có thể hưng phát.
Thất Sát thủ cung Thiên Di đồng độ với Lộc Tồn, nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, sẽ chủ ở tha hương bị áp lực; hoặc chủ trôi dạt không nơi nương tựa.
Cung mệnh là Thiên Phủ hội cát hóa (nhất là Hóa Lộc), thông thường bất lợi về thiên di, trừ phi Thất Sát cũng hội Quyền hay Lộc mới có thể "thay gốc đổi lá"; nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", thì thiên di là đúng.
Vũ Khúc Hóa Lộc gặp Thất Sát đồng cung hay vây chiếu, sau khi thiên di đất lạ, năng lực hoạt động rất mạnh, do đó đắc lợi. Vũ Khúc Hóa Kị chủ nạn tai, bệnh tật kiện tụng, cũng chủ xoay chuyển đồng vốn khó khăn.
Liêm Trinh gặp Thất Sát đồng cung hay vây chiếu, chủ thiên di đất lạ có thể tạo dựng tiếng tăm. Liêm Trinh Hóa Lộc thì kiếm tiền thuận lợi, mà còn được nhiều trợ lực; nếu Liêm Trinh Hóa Kị thì cũng chủ thất bại và gặp bất trắc. Nếu lại có Thiên Nguyệt đồng độ, chủ ở quê người bị nhiễm bệnh; có Thiên Hình đồng độ thì chủ gặp họa bất trắc.
"Liêm Trinh, Thất Sát" đồng độ, ở cung Sửu thì chuốc thị phi, gặp cát tinh cũng vậy. Đây là do "Liêm Trinh, Thất Sát" ở cung Mùi là cách cục "Hùng tú kiền nguyên", ở cung Sửu thì không đúng.
Tử Vi gặp Thất Sát đồng cung hay vây chiếu, chủ xuất ngoại được người ta kính sợ, cũng có nhiều nhân duyên. "Tử Vi, Thất Sát" đồng độ mà được "bách quan triều củng" thì chủ "nhất hô bách ứng". Cho nên ở tha hương cũng có thể tạo dựng sự nghiệp và lập công trạng.
"Vũ Khúc, Thất Sát" ở hai cung Mão hoặc Dậu, kết cấu rất xấu (ở cung Dậu ưu hơn ở cung Mão), chủ xuất ngoại bị áp lực. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, hao, thì chủ bị người ta hãm hại.
Đến lưu niên Thất Sát thủ cung Thiên Di được cát hóa và có sao cát, thông thường chủ sự nghiệp trùng tân, hoặc đổi nghề mới. Nếu là Liêm Trinh Hóa Kị hay Vũ Khúc Hóa Kị đến hội, gặp sát tinh, sẽ chủ đi xa gặp bất trắc.
Phá Quân ở cung Thiên Di
Thất Sát còn có lúc được lợi khi ra ngoài, còn Phá Quân thì phần nhiều đi là để lấy tay nghề đổi lấy chỗ đứng nơi đất khách.
Phá Quân ở cung Thiên Di, trong các tình hình thông thường đều bất lợi về thiên di, xuất ngoại. Trừ phi cung mệnh là Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, Kình Dương và Đà La giáp cung, mới chủ không thể không rời xa quê hương để phát triển. Trong đó trường hợp ưu nhất là Kình Dương và Đà La giáp cung: Thiên Tướng nếu bị Kình Dương và Đà La giáp cung ắt sẽ có Lộc Tồn đồng độ, và gặp Phá Quân vây chiếu, đại lợi về thiên di.
Hễ Phá Quân ở cung Thiên Di, cần phải dựa vào kĩ năng chuyên môn để khởi nghiệp.
Nếu Phá Quân có Văn Khúc đồng độ mà Hóa Kị, là thư sinh nghèo, thất chí, lưu lạc giang hồ, hoặc là giang hồ lãng tử giỏi nghề vặt, bao gồm ảo thuật, bán thuốc dạo...
Phá Quân gặp Thiên Khôi, Thiên Việt thì rất tốt, chủ có cơ hội phát huy kĩ năng, mà còn được trọng dụng.
Phá Quân ở cung Thiên Di có sao lộc cũng tốt, có thể nhờ kĩ năng chuyên môn mà có chỗ đứng ở quê người.
Phá Quân Hóa Quyền, ở quê người nên dựa vào nghề để mưu sinh. Gặp sát tinh, chủ công nghệ hoặc có tay nghề.
Phá Quân thủ cung Thiên Di có tứ sát tinh đồng độ: Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ rời xa người thân, lưu lạc; Kình Dương, Đà La thì chủ phá tán, thất bại; sát tinh nặng sẽ chủ thiếu duyên với người, tai họa đến liên tục.
Phá Quân lạc hãm ở ba cung Dần, Thân, Dậu, bất lợi về thiên di; nếu rời xa quê hương sẽ phiêu lưu nhiều năm mà không có thành tựu. Trường hợp có Kình Dương, Đà La giao hội mới đúng.
Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ, được cát hóa, có sao cát, cũng có thể kinh doanh làm ăn, nhưng vẫn cần phải có tính chất chuyên môn. Ví dụ như mở quán trà ở nước ngoài.
Cho nên lúc Phá Quân thủ cung Thiên Di cũng ưa Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, có thể làm tài năng và tính chuyên môn. Lúc Địa Không, Địa Kiếp cùng bay đến tương hội, cũng có thể lấy lối suy nghĩ tinh xảo làm nghề.
Phá Quân gặp sát tinh nhẹ thì không ngại, rất kị các sao sát, kị tụ tập. Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ rất ghét gặp Liêm Trinh Hóa Kị, sẽ chủ đau lòng rơi lệ, hoặc bản thân bị nạn tai, bệnh tật.
"Tử Vi, Phá Quân" thủ cung Thiên Di ở hai cung Sửu hoặc Mùi, xuất ngoại được người ta kính sợ. Nhất là trong tình huống được "bách quan triều củng" thì càng đúng. Nếu chỉ gặp "triều củng" mà thiếu các sao phụ, tá chủ yếu, nhưng lại gặp sát tinh, thì ở nước ngoài là nhân vật lãnh đạo trong một ngành nghề.
Tử Vi Hóa Quyền ắt sẽ đồng thời gặp Vũ Khúc Hóa Kị, chủ ở tha hương không thích hợp tự kinh doanh làm ăn; cũng chủ nhiều quyền uy, nhưng gặp trắc trở liên tục.
Phá Quân ở cung Dần hoặc Thân, gặp Vũ Khúc Hóa Kị xung chiếu, lại có các sao Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Hư, Đại Hao, Âm Sát hội hợp, chủ thiên di ở đất lạ ít nhất cũng có một lần gặp tai họa nghiêm trọng, hoặc thậm chí chết ở nước ngoài (hoặc nơi xa).
"Liêm Trinh, Phá Quân" không thích hợp tự kinh doanh làm ăn, chủ duyên với khách hàng không nhiều. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, sát tinh nặng, cũng chủ xảy ra bất trắc trong số khách hàng.
"Vũ Khúc, Phá Quân" gặp sát tinh thì không sao; nhưng nếu Vũ Khúc Hóa Kị sẽ chủ túng thiếu; hội Liêm Trinh Hóa Kị cũng chủ nạn tai, bệnh tật.
Hễ Phá Quân thủ cung Thiên Di, nếu không gặp Hóa Lộc thì bất lợi về định cư ở đất lạ, nhưng lại lợi về lưu động các nơi để kiếm tiền.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
