Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tám thế xấu của Thái Ất và cách xem vận nước

Bói Dịch - Nhập môn03/10/202612 phút đọc3 lượt đọc
Tám thế xấu của Thái Ất và cách xem vận nước

Hai viên tướng đứng sát hai bên cung của Thái Ất như hai ngón tay đang khép lại, và người xưa nhìn ra ngay bề tôi nào sắp hiếp vua. Tám thế xấu mang tám cái tên: ếm, ép, kích, cách, đối, chặn, giam, cắp, mỗi thế báo một kiểu họa riêng. Chỉ có một thế cho phép nhà vua thở phào…


Thái Ất, vị thần đứng đầu các sao trong môn Thái Ất, không bao giờ đứng yên một chỗ. Đã động thì sớm muộn cũng gặp những thế xấu: bị đánh úp, bị lấn, bị chặn đường, bị kẹp giữa hai gọng. Tám thế ấy có tên riêng, và mỗi thế báo một kiểu tai họa cho nhà vua, cho quan tướng và cho cả một nước.

Thế ếm: âm thịnh, dương suy, kẻ ngoài đánh úp

Khi sao Thủy Kích rơi vào đúng cung của Thái Ất thì gọi là ếm. Đây là thế âm mạnh lấn dương yếu, nên người xưa đọc nó là điềm bị đánh úp từ ngoài vào, hoặc điềm chết rồi phải chôn. Nếu thế ếm hiện ra trong con số của năm, thì kỷ cương nhà vua nghiêng đổ: vua yếu, bề tôi mạnh, mất mùa, trộm cướp, hạn hán, nước lớn và ôn dịch cùng kéo đến.

Cung nơi Thái Ất bị ếm cũng quyết định nặng nhẹ. Nếu ếm rơi vào cung gọi là rời hoặc cung tuyệt, nhà vua gặp hung lớn. Nếu rơi vào ngôi âm tuyệt hay dương tuyệt, người gặp hung lớn là bề tôi. Trong việc quân, nếu Đại Tướng bên chủ bị ếm mà toán của bên chủ không hòa thì hung. Nhưng nếu toán chủ hòa mà Tiểu Tướng còn mạnh, thì Tiểu Tướng vẫn có thể ra trận. Khi chính Tiểu Tướng bị ếm thì chớ động càn. Bên khách cũng xét y như vậy. Chỉ có một việc được phép dùng giờ ếm: đặt quân phục binh.

Thế ép: kẻ gần sát cung Thái Ất

Ép là khi sao Thủy Kích hoặc một vị Tướng đứng sát cạnh cung Thái Ất, như có bàn tay đẩy sát vào người. Chữ ép mang nghĩa bức bách. Đứng ở phía trước thì gọi là ép ngoài, đứng ở phía sau thì gọi là ép trong.

Ép ngoài báo đại thần chống lệnh, nước ngoài xâm lấn. Ép trong báo người cùng họ mưu nghịch, người ở cung sau mang hai lòng. Nếu cả trong lẫn ngoài cùng ép thì trong ngoài cùng mưu. Mưu ấy thành hay hỏng tùy toán: toán hòa thì mưu thành, toán không hòa thì mưu hỏng. Ép ở cung tuyệt thì lúc đầu thắng, về sau bại.

Khi các Tướng bên chủ ép cung Thái Ất, ấy là có mưu trong triều đình, cũng chia thắng bại theo toán hòa hay không hòa. Lại có chỗ phân biệt: nếu ép do một vị thần gây ra thì mưu gấp, nếu ép do cung thì mưu chậm, tai biến cũng ứng theo nhanh hay chậm như vậy.

Năm cũng được đem ra xét. Khi Thái Tuế đứng trước Thái Ất, năm dương thì tai nạn nặng, năm âm thì tai nạn nhẹ. Khi Thái Tuế đứng sau Thái Ất thì ngược lại: năm âm tai nạn sâu, năm dương tai nạn nông. Nếu dùng binh trong năm ấy thì cả chủ lẫn khách đều bại. Có nơi lại nói thêm rằng nếu Văn Xương cùng Đại Tướng, Tiểu Tướng bên khách ép Kể bên khách, thì bên chủ có mưu, nhưng đánh trận lớn không lợi.

Thế kích: lời khích bác và nhát dao từ hai bên

Sao Thủy Kích đứng ở một bên cạnh Thái Ất thì gọi là kích. Kích là khích bác, là lừa dối người trên. Kích ở phía ngoài thì đại thần chống lệnh, nước ngoài đánh sâu vào. Kích ở phía trong thì sinh họa từ bên trong: bề tôi gian hùa với người họ hậu cung để làm việc soán giết.

Cũng như thế ép, kích có hai tốc độ. Do thần kích thì tai nạn đến nhanh, do cung kích thì tai nạn đến chậm. Muốn biết mũi dao bén hay cùn phải xét thêm toán, xét cung rời tuyệt có hay không. Có nơi chỉ nói gọn một câu: vua hay tướng gặp kích thì làm gì cũng khó lợi.

Thế chặn và thế giam: hai hổ một hang

Khi hai bên chủ khách cùng đứng chung một cung thì gọi là chặn. Nếu Đại Tướng, Tiểu Tướng bên khách phạm vào cung Văn Xương thì khách chặn chủ. Nếu Đại Tướng, Tiểu Tướng bên chủ phạm vào cung Thủy Kích thì chủ chặn khách. Người xưa so cảnh ấy với một hang có hai hổ, một mạch có hai rắn, buộc phải giữ chặt cửa ải.

Thế chặn hiện trong con số của năm thì kỵ cho quan tể tướng và quan súy, hai bên chặn nhau nên không kịp phụng sự vua. Thắng thua lúc này tùy khí thịnh hay suy. Trước hết phải xem thời của hai Mắt: mắt đứng ở nơi mạnh khá thì thắng, mắt rơi vào hưu, phế, tù thì thua. Toán nhiều thì thắng, toán ít thì thua. Toán hòa thì thắng, toán không hòa thì thua. Khi hai tướng cùng cung, khách có thể chặn chủ, chủ cũng có thể chặn khách. Trong cảnh ấy, bên nào ra quân trước thì thắng, bên động sau thì không nên.

Thế giam nặng hơn. Khi Văn Xương, hoặc các Tướng chủ khách cùng đứng chung cung với Thái Ất thì gọi là giam. Kẻ dưới phạm người trên, có chuyện bị câu chấp. Thế giam hiện trong con số của năm thì có họa vua băng, bề tôi soán giết. Giam rơi vào cung tuyệt thì hung hơn nữa, rơi vào đất tuyệt âm hay tuyệt dương thì tự bại.

Nếu Đại Tướng cùng cung với Thái Ất, và Tiểu Tướng cũng cùng cung với Thái Ất, thì chắc chắn có kẻ cố mưu với nhau. Gần mắt chủ thì mưu từ bên trong, gần mắt khách thì mưu từ bên ngoài. Nhìn hai Mắt, toán hòa thì mưu thành, không hòa thì mưu bại. Có thể gọi những lúc Thái Ất bị chặn, bị giam ấy là thời không lợi cho người làm chủ.

Thế cách và thế đối: trái lệnh và hai lòng

Khi sao Thủy Kích cùng các Tướng đứng đối diện cung Thái Ất thì gọi là cách. Cách là biến đổi, là chống lại. Khi Văn Xương cùng Đại Tướng, Tiểu Tướng đứng đối diện cung Thái Ất thì gọi là đối. Đối nghĩa là xung đột.

Thế cách khiến đại thần cự lệnh, chính lệnh ban ra không ai theo. Rơi vào cung rời tuyệt thì hung lắm. Thế đối khiến đại thần mang hai lòng, nhà vua đuổi người trung lương, để mưu gian lừa dối lên ngôi. Khi thế đối hiện ra trong con số của năm, nhà vua làm việc gì cũng không lợi.

Về chủ khách, người xưa phân rõ: Mắt khách cùng Đại, Tiểu Tướng khách đối cung Thái Ất là khách cách chủ, và nếu hai bên chặn nhau thì khách thắng. Mắt chủ cùng Đại, Tiểu Tướng chủ đối cung Thái Ất là chủ đối khách, và khi hai bên chặn nhau thì chủ thắng.

Thế cắp: bị kẹp giữa hai gọng

Thế cắp, còn gọi là đề hiệp, nghĩa là kẹp giữ để nắm lấy. Ba vật đứng sát hai bên Thái Ất như hai ngón tay bóp lại, nên bên nào bị cắp thì bị khống chế. Cả chủ lẫn khách đều rất kỵ bị cắp. Đã bị cắp thì phải cẩn thận, chớ dấy quân.

Có nơi giải thích cắp là lấp tắc, và nói rằng khi hai Mắt cùng bốn Tướng cắp cung Thái Ất thì đó là bề tôi hiếp vua. Âm dương hòa, toán dài, cửa đủ thì mưu thành. Trái thế ấy thì không chỉ thua mà còn bị tru diệt.

Các tình huống được tính cụ thể như sau. Mắt khách cắp mắt chủ và tướng chủ thì lợi cho khách. Nếu cắp ngay Thái Ất thì lúc đầu thắng, về sau bại. Mắt chủ cùng tướng chủ cắp mắt khách và tướng khách thì lợi cho chủ. Hai Mắt cùng bốn Tướng cắp lẫn nhau là hai địch cùng mưu hại nhau, bên nào bị tù hay bị kích sẽ thua. Nếu cắp lệch, chỉ một Mắt hay một Tướng bị kẹp, thì bên bị cắp thua. Bên chủ dù bị cắp mà đang ở trong vẫn có thể giao chiến, vì cung từ 1 đến 4 là bên trong. Bên khách dù bị cắp mà đang ở ngoài vẫn có thể có lợi, vì cung từ 9 đến 6 là bên ngoài. Nếu cắp gặp đất chặn, giam, tử, tuyệt thì phải thận trọng khi dùng.

Còn một điều dặn chung: người làm khách, dù đứng ở ngoài, hễ bị ép hay bị cắp thì ra quân trước không lợi. Người làm chủ cũng suy theo thế ấy.

Thế đóng cửa: nắm giữ và cố thủ

Khi Thái Ất hợp với cửa Khai hoặc cửa Sinh thì gọi là chấp đề, nghĩa là nắm dẫn. Khi hai bên xung đối nhau thì gọi là đề cách. Cả hai đều mang nghĩa câu chấp. Thái Ất dù đứng ở cửa tốt mà không hợp, xông vào nhau, cũng là nghĩa tù cách. Thế ấy hiện trong con số của năm thì không dùng được việc.

Lại có thế gọi là bốn bề đóng chặt: Văn Xương giam cung Thái Ất mà các Tướng chủ khách chặn nhau, hoặc Thủy Kích đến cung Thái Ất mà các Tướng chủ khách chặn nhau. Gặp thế này chỉ nên cố thủ, không được động quân. Hiện trong con số của năm thì có họa soán giết, nhà vua phải dùng đức mà cầu đảo. Tiểu Tướng chủ đứng cùng Mắt khách, Tiểu Tướng khách đứng cùng Mắt chủ, lại gặp ếm, ép, chặn, cách, thì cũng gọi là bốn bề đóng, cũng nên cố giữ. Con số của năm gặp thế ấy thì không nên đi chinh phạt, mọi việc đều hung, vì nó cùng nghĩa với thế cắp.

Cửa đủ, tướng phát: khi mọi việc thông suốt

Sau tám thế xấu là một thế thuận. Khi Thái Ất và hai Mắt không đứng dưới ba cửa tốt (Khai, Hưu, Sinh) thì người xưa gọi là chưa đủ cửa. Ngược lại, khi ba cửa đủ như vậy, đồng thời bốn Tướng chủ khách mang đủ năm hành theo thứ tự Kim, Kim cộng Thủy, Thủy cộng Phong, Hỏa, Thổ cộng Hỏa, thì gọi là tướng phát.

Điều kiện để tướng phát là Thủy Kích không bị ếm, không bị kích, Văn Xương không bị tù hay ép, bốn Tướng không bị chặn hay cách. Lúc ấy thế có lợi cho bên chủ nếu là Tướng chủ, lợi cho bên khách nếu là Tướng khách. Ba cửa đủ, năm tướng phát thì đường lối thông suốt, việc gì đem ra dùng cũng lợi.

Bốn Kể, mỗi Kể một người dùng

Bốn loại Kể không dùng ngang nhau mà có thứ bậc. Nhà vua dùng Kể năm để nghiệm lành dữ cùng cơ động tĩnh trong thiên hạ. Công khanh dùng Kể tháng để xét giàu sang, còn mất. Kể ngày dành cho tầng lớp dưới, để xem việc của người liên quan tới nhà nước. Kể giờ là phần của tướng soái và tể tướng, để suy chủ khách ai thắng ai thua, cùng các việc trời biến, nước ngoài động.

Chủ khách, động trước hay động sau

Chủ và khách mỗi bên có lễ trước sau, có cơ động tĩnh. Khi bày quân ngoài đồng, cờ trống đánh vào nhau thì bên động trước là khách, bên động sau là chủ. Khi hai bên cùng đứng yên ổn thì ngược lại, bên động trước là chủ, bên động sau là khách. Người hiểu đạo trời xét thuận nghịch, xem Kể bên chủ trước rồi xem Kể bên khách sau.

Nếu cả chủ lẫn khách đều gặp Kể tốt, cửa đủ, tướng phát thì bên nào cất quân trước sẽ thắng. Gặp Kể xấu mà cất quân trước thì bại, ngồi chờ động sau sẽ thắng. Nếu Kể của chủ và khách một bên hung một bên cát thì bên Kể tốt hơn thắng. Nếu lành dữ ngang nhau thì bên toán dài lợi, bên toán ngắn không lợi.

Chuyện nước Tần và nước Tấn được nêu làm ví dụ: hai nước đang hòa, sứ giả đi lại, bỗng Tần dấy binh đánh Tấn. Dù quân Tần đã vào đất Tấn, trong cuộc này Tần vẫn tính là Kể bên chủ.

Trong và ngoài: Thái Ất giúp bên nào

Kinh dạy rằng Thái Ất ở các cung 1, 8, 3, 4 là ở trong và giúp bên chủ. Thái Ất ở các cung 9, 2, 7, 6 là ở ngoài và giúp bên khách. Khi thời giúp chủ, cửa đủ, tướng phát mà ra quân gặp chiến thì không được khởi trước. Khi thời giúp khách, cửa mạnh, tướng phát thì lợi cho việc hưng binh, nhưng gặp chiến không nên động sau. Nếu Thái Ất dù ở trong hay ở ngoài mà ba cửa không đủ, năm tướng không phát thì cả chủ lẫn khách đều chẳng được lợi.

Còn một cách xét khác, qua Thiên Mục. Thiên Mục đứng ở trước thì thuộc trong và có thể đánh ra ngoài, đứng ở sau thì thuộc ngoài và có thể đánh vào trong. Ở ngoài thì lẻ loi, ở trong thì trống rỗng. Cho nên việc gì thuộc bên ngoài mà có toán ngoài đến thì cát, việc gì thuộc bên trong mà có toán trong đến thì cũng cát. Từ cung Kiền, ngôi Đức Âm, đến cung Thìn, ngôi Thái Dương, thuộc bên trong. Từ cung Tốn, ngôi Đại Linh, đến cung Tuất, ngôi Âm Chủ, thuộc bên ngoài.

Thái Ất ở một, tám, ba, bốn là trong, giúp bên chủ. Thái Ất ở chín, hai, bảy, sáu là ngoài, giúp bên khách.

Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn