Bài tổng quan
Mười Hai Cung Trường Sinh: Luận Về Tử, Mộ Và Tuyệt
Người chồng đến hỏi chuyện vợ sinh con. Quẻ cho thấy hào Tử tôn trì Thế, được ngày sinh phù, lại đúng thai địa rơi vào hào hai là vị trí bào thai, nên việc có mang là chắc chắn, mà lại là con trai. Nhưng cùng quẻ ấy, tháng lại là tử địa của hào Tử tôn, sang năm Mậu Dần thì Dụng thần lâm tuyệt địa. Người đoán nói thẳng đứa bé khó sống đến ngày dự sinh, và người đang mang thai cũng chẳng phải vợ. Người kia nghe mà nổi giận, vì hai bên đang tính chuyện cưới xin. Ba chữ tử, mộ, tuyệt nói được đến mức ấy, vậy chúng khác nhau chỗ nào?
Mục lục · 1 phần
Luận về Tử, Mộ, Tuyệt
Sách cổ có câu là:
Tử tuyệt không gặp sinh phù, như không như có, mộ khố nếu gặp xung phá, như động như hưng.
Lâm Tử nếu như không được sinh thì là chết thật, nếu như bị khắc thì chết còn thảm hại hơn. Tuyệt cũng thế, thật tuyệt thì tuy có mà không có.
Hào nhập mộ có ý là giấu giếm, cát hung chưa định. Mộ nếu được xung khai lộ ra là như không mộ, xuất mộ sẽ được kích phát. Mộ mà không được xung là che giấu, nếu Nhật điền thực gọi là thực mộ, nghĩa là vào mộ mà không ra được.
Tử
Tử là chỉ sự vật ở trạng thái tịch diệt, diệt vong, không có chút nào sinh cơ. Trong dự đoán tối kỵ tử địa đơn độc phát động, xem bệnh thì xem thêm suy vượng của Dụng thần, tối kị Dụng thần gặp tử địa. Kim gặp Tý là tử địa, Mộc gặp Ngọ là tử địa, Hỏa gặp Dậu là tử địa, Thủy, Thổ gặp Mão là tử địa. Tử địa đa số là tượng xấu. Tử còn có hàm nghĩa là tử vong, chung kết, xong đời, ngưng lại, đọng lại, đáng sợ, yên tĩnh, trống trải, an tĩnh, tàn tạ, sa sút, tiêu điều, không có sinh khí, không có sức sống, không để ý, để tâm vào chuyện vụn vặt, đi vào chỗ bế tắc, không linh hoạt, không thể biến thông, bướng bỉnh ngoan cố, ngây ngô, khô khan, cứng nhắc, vụng về, nghĩ không thoáng, lòng dạ hẹp hòi, không còn dư địa, không có đường lui.
Tuyệt
Tuyệt có hàm nghĩa là không có đường lui, nguy hiểm, tuyệt địa, tuyệt cảnh, vách đá, chia tay, đoạn tuyệt, trận quyết chiến, thất vọng, tâm tàn ý lạnh, tuyệt vọng, hết thuốc chữa, không thể ra sức, không thể phát triển được lực lượng, lãnh khốc vô tình, đình chỉ, biến mất, vô ảnh vô tung.
Mộ
Mộ cũng gọi là khố, mộ khố là cất giữ, phong bế, chôn giấu. Con người sau khi chết được chôn trong mộ. Trong dự đoán Lục hào Mộ được ứng dụng nhiều nhất, cực kỳ ứng nghiệm. Mộ còn có hàm nghĩa kho tàng, ngăn chặn tứ phía, bao dung, bao hàm, cất chứa, chôn giấu, ẩn núp, đóng kín, thu thập, quyền hạn, quản lý, quản chế, thuộc về, khống chế, điều khiển, chỉ huy, thâu tóm, cạm bẫy, không tự do, bị quản thúc, bảo vệ, hộ vệ, hôn mê, bóng tối trở lực, bế tắc, không lưu loát, không thông suốt, kết thúc, ám muội, hồ đồ, không minh bạch, mê mẫn, si mê, nghĩ không ra, luẩn quẩn trong lòng
Ví dụ 2
Ngày Đinh Dậu tháng Quý Mão năm Nhâm Ngọ (tuần không: Thìn Tị), một người dự đoán phong thủy nhà, được quẻ Trạch Lôi Tùy.
Ta đoán sửa chữa đường ống nước và nhà tắm tốn không ít tiền. Nhà ở gần khu vực náo nhiệt. Đường không tốt, sửa chữa nhiều lần. Quẻ này Thê tài trì Thế, chính là tiền đã đến tay, nhưng lâm không lại bị Nguyệt kiến khắc thương là tiền cầm trong tay lại tiêu đi.
Huynh đệ lâm Câu Trần tại hào hai vượng mà khắc Thê tài, hào hai là hào nhà, Câu Trần là sửa chữa và chế tạo, nhất định là vì sửa chữa và chế tạo hoặc cải tạo nhà mà dùng tiền.
Thê tài Thìn thổ là đập chứa nước có thể hiểu là đồ đựng nước. Lâm Đằng Xà, Đằng Xà chủ dài nhỏ gấp khúc. Thìn thổ có thể hiểu là đường ống nước. Thìn thổ gặp Nhật là đất mộc dục, mộc dục hiểu thành tắm rửa, nơi tắm rửa là thủy khố, bể tắm cho nên đoán như vậy.
Quẻ tại Chấn cung, Chấn là phố xá sầm uất. Phụ mẫu lại lâm Chu Tước, một hào Phụ mẫu khác lâm Bạch Hổ. Chu Tước chủ ồn ào, Bạch Hổ là đường đi cho nên đoán nhà ở là tại khu vực náo nhiệt ven đường. Hào năm là đường, Nguyệt phá, chính là con đường bị hư hại. Nhật thần thực phá, lại là tượng đã sửa chữa.
Phản hồi: Chính xác.
Ví dụ 3
Mộ giấu được một cái bể nước dưới nền nhà; tuyệt thì giấu cả chỗ tiền bạc của người sắp bắt tay làm ăn cùng mình.
Ngày Tân Hợi tháng Hợi năm Bính Tý (Tuần không Dần Mão) một người đàn ông xem cùng một số người hùn vốn làm ăn. Được quẻ Sơn Địa Bác biến Sơn Trạch Tổn.
Quẻ này Thế Ứng tương khắc, khó mà hợp tác, hào Thế khắc hào Ứng, bên ta đối với đối phương không hài lòng. Ứng cung Thê tài không, đối phương tài lực không mạnh, mặc dù được Nhật Nguyệt sinh vượng, có thể kiếm được tiền, nhưng bị hào Quan lâm Huyền Vũ động tiết khí, Huyền Vũ chủ ám muội không rõ, đối phương tiền tài không minh bạch. Bị hào Quan tiết khí là bị chính quyền tiêu hết, hào Quan lâm Huyền Vũ mà hóa Thê tài Mộc dục, là lãnh đạo đối phương dùng tiền chơi gái kỹ nữ, nuôi nhân tình. Quẻ Bác biến Tổn, nếu hùn vốn nhất định sẽ bong ra từng mảng tổn thất, cho nên không nên hợp tác là tốt nhất.
Nghiệm chứng: Đối phương nợ rất nhiều, lãnh đạo không làm chính sự, dùng tiền bao gái khắp nơi, tháng Sửu phá sản.
Ví dụ 4
Cũng cái chữ thai ấy, đặt lên một chỗ làm thì hóa ra một công việc chưa lớn nổi.
Ngày Bính Ngọ tháng Mậu Ngọ năm Mậu Dần (Tuần không Dần Mão) một phụ nữ xem công việc. Được quẻ Địa Trạch Lâm.
Hào Quan Mão mộc trì Thế là công việc hiện tại, Mão mộc tuần không, người đó không hài lòng với công việc. Thê tài Hợi Tý thủy hưu tù, thai tại Nhật Nguyệt, đãi ngộ không tốt, tiền lương tương đối thấp. Hào Quan lâm hào hai, công việc chủ yếu ở văn phòng.
Nghiệm chứng: Cô này có công việc ở văn phòng, không có tiền đồ gì, muốn từ chức.
Ví dụ 5
Thai địa báo một sinh mệnh vừa tượng hình, nhưng tử địa và tuyệt địa trong cùng quẻ ấy lại báo nó không đi được đến ngày chào đời.
Ngày Nhâm Thìn, tháng Nhâm Tý, năm Đinh Sửu, một người đàn ông đến xem vợ sinh con, được quẻ Thiên Trạch Lý biến Thiên Thủy Tụng.
Lấy Tử tôn làm Dụng thần. Tử tôn trì Thế, được Nhật thần sinh phù, thai địa của Tử tôn lâm hào hai, hào hai là vị trí bào thai, đã mang thai không thể nghi ngờ. Tử tôn là dương hào, tại Cấn cung, cấn làm trưởng nam, dương hào độc phát, mang thai chính là con trai.
Nhưng này đứa bé rất khó sống. Dựa vào đâu mà dự đoán? Nguyệt kiến là tử địa của Tử tôn, kị thần độc phát, trong quẻ các nhân tố bất lợi với Dụng thần chiếm đa số. Đặc biệt là đến năm 1998 là năm Mậu Dần, Dụng thần lâm tuyệt địa, hài nhi rất khó sống đến ngày dự sinh.
Từ tin tức trong quẻ, mang thai cũng không phải là vợ. Phụ mẫu Tị hỏa lâm Huyền Vũ, nhập mộ tại hào sáu Huynh đệ Tuất thổ ám động, đây là tượng ở chung. Thê tài Tý Thủy phục dưới hào Thế, nhập mộ tại Nhật thần, mộ khố chính là giấu mà không lộ, đây là lén ở chung
Thê tài lâm Nguyệt kiến, nhưng bị Nhật thần cùng hào Huynh đệ Tuất thổ ám động khắc chế, lại tuyệt ở Phụ mẫu Tị hỏa, hào Thế Tử tôn Thân kim bị Phụ mẫu Tị hỏa hợp, hào thế tham hợp quên sinh, hai người tất nhiên sẽ xuất hiện mâu thuẫn, cuối cùng chia tay. Nguyệt kiến Thê tài là tử địa của Tử tôn, tài là nữ nhân, đứa bé này chắc chắn sẽ chết trong tay nữ nhân.
Ứng nghiệm: người mang thai đúng là chỉ ở chung, nhưng bởi lúc ấy hai người tình cảm rất tốt, lại dự định kết hôn, nên nghe luận quẻ rất cáu. Nhưng kết quả cuối cùng vẫn là ứng nghiệm.
Người này tháng 3 năm 1999 cãi nhau ầm ĩ với cô gái ở cùng, cô gái trong cơn tức giận sẩy mất đứa con, hai người tan rã.
Ví dụ 6
Ngôi nhà cuối cùng gom lại đủ cả ba chữ: tài thì tuyệt, con thì nhập mộ, cửa thì xung nhau.
Ngày Bính Dần tháng Kỷ Hợi năm Bính Tý (tuần không: Tuất Hợi), một phụ nữ xem phong thủy nhà, được quẻ Phong Trạch Trung Phu biến Bát Thuần Tốn.
Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần, Phụ mẫu Tị hỏa lưỡng hiện. Lấy sơ hào Phụ mẫu Tị hỏa phát động làm Dụng thần. Phụ mẫu Nguyệt phá, nơi ở bất an. Thê tài không hiện lên quẻ. Huynh đệ Sửu thổ phát động. Phụ mẫu lại là Thê tài tuyệt địa, nhà này không tụ tài.
Quan quỷ Mão mộc lâm hào hai, hào hai là hào nhà, có ý buồn rầu, tai nạn, bệnh tật. Nhật cũng là Quan quỷ trợ giúp hào hai khắc Thế. Nhà này phong thuỷ bất lợi, dễ mang đến tai nạn cùng phiền não.
Thê tài Tý thủy tuy được Nguyệt kiến tỷ hòa, nhưng Phụ mẫu Tị hỏa động khiến Thê tài lâm tuyệt. Hào ba Huynh đệ Sửu thổ động khắc, chính là tin tức rủi ro. Hào ba là cửa, lâm Huynh đệ cũng là cửa chính, động mà cùng hào bốn tương xung, chính là cửa cửa tương đối, phạm vào phong thuỷ đại kị.
Tử tôn Thân kim phục tàng, nhập mộ tại hào động Sửu thổ, Nguyệt là bệnh địa của Tử tôn, Nhật thần là tuyệt địa của Tử tôn. Sơ hào Phụ mẫu động mà khắc Tử tôn. Nhà này không có lợi cho con cái. Gặp bệnh địa là nhiễm bệnh, nhập mộ là nằm viện, con cái tất vì bệnh mà nằm viện.
Phản hồi: gia đình thu nhập rất ít, nhi tử vì bướu não nằm viện tốn không ít tiền. Hiệu quả không tốt, tìm bà cốt xem bệnh, lại bị lừa gạt rất nhiều tiền. Trong nhà hoàn toàn chính xác có hai môn đối nhau.
Nguồn: Dịch Kinh Chân Tủy – Lục Hào Tượng Giải (An Hạ)
