Bài tổng quan
Cha Mẹ, Anh Em, Vợ Chồng: Ba Hào Định Tình Thân Một Đời
Người nhà chạy đến báo tin: bà cụ đã qua đời. Nhưng Dã Hạc lão nhân nhìn lại quẻ vừa gieo, thấy hào Phụ Mẫu vẫn được sinh phù, không có dấu hiệu tuyệt mệnh, liền vội chạy đến nhà, nghe thấy hơi thở yếu ớt trong cổ họng, bèn hòa phèn vào nước sôi, cạy răng đổ vào miệng. Một lúc sau, bà cụ kêu lên: "Lạnh quá!" — và sống thêm mười ba năm nữa. Tăng San Bốc Dịch xem tình thân một đời bằng ba hào riêng biệt: Phụ Mẫu định thọ yểu của cha mẹ, Huynh Đệ định anh em hòa hay tan, Tài và Ứng định vợ chồng bạc đầu hay đôi ngả chia ly. Mỗi mối quan hệ một hào, một vượng suy riêng — vậy điều gì khiến ba hào ấy đôi khi lại đổi chỗ cho nhau?
Tuổi thọ cha mẹ: hào Phụ Mẫu và sự phân biệt âm dương
Khi xem về ông, bà, cha, mẹ, đều phải chia ra từng quẻ để xem.
Phép xem xưa cho là hào dương tượng trưng cho cha, hào âm tượng trưng cho mẹ, ta thử qua thấy không ứng nghiệm.
Phụ lâm Nhật Nguyệt, xuân đình vãn tuế vinh hoa; Mẫu trị Phá Không, huyên thảo tàn niên tiều tụy.
Phụ gặp Nhật Nguyệt, xuân đình tuổi muộn vinh hoa; Mẫu gặp Phá Không, cỏ huyên cuối đời tiều tụy.
Nếu hào Phụ Mẫu được vượng, được tướng, hoặc lâm Nhật Nguyệt, hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh phò, hoặc động mà hóa cát, là tượng cha mẹ sống thọ.
Nếu hào Phụ Mẫu hưu tù, không bị hình thương khắc hại, chủ về cha mẹ tuổi già nhiều bệnh, nhưng vẫn không đến nỗi bị tổn thương. Nếu hưu tù mà lại bị hình xung, hoặc bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động tương khắc, hoặc động mà hóa hung, là điềm cha mẹ không thọ.
Ví dụ: Vào ngày Canh Tý tháng Sửu, xem về tuổi thọ của cha, được quẻ Cấu; lại xem về tuổi thọ của mẹ, được quẻ Đại Tráng biến Thăng:


Đoán rằng: Quẻ thứ nhất hào Phụ Mẫu xuất hiện hai lần, nên lấy hào Phụ Mẫu lâm Nguyệt kiến Sửu thổ làm Dụng thần, gặp vượng vào ngày Tý, lại hợp với Nhật thần, nên là tượng sâu rễ bền gốc, tuổi thọ lâu dài.
Trong quẻ sau, hào Ngọ hỏa Phụ Mẫu động mà bị Nhật thần tương xung, hào sơ Tý thủy lại động, nên hào Ngọ hỏa chỉ bị khắc mà không sinh. Hào sơ Tý thủy hóa thành Sửu thổ, nên tham hợp mà không đến khắc hỏa. Cần đề phòng năm Bính Tý, bị thêm Thái Tuế tương xung, là lúc hết tuổi trời. Xem năm Quý Dậu, hơn ba mươi năm sau, đến năm Ất Tị lại gặp người này, bèn hỏi rằng: "Gia phụ có được mạnh giỏi không?" Người này đáp rằng: "Rất khoẻ! Còn mẹ đã mất vào năm Tý."
Nếu theo phép xem cũ, hào dương chỉ cha, hào âm chỉ mẹ, quẻ thứ nhất gồm hai hào Phụ Mẫu Sửu, Tuất đều là vượng tướng, dựa vào đó để suy đoán tuổi thọ cha mẹ, thì thật sai lầm.
Tân bình thích: Đây tuy là lý, nhưng cũng có ứng ở âm dương.
Ví dụ: Ngày Ất Tị tháng Dậu, một vị học viên người Nhật Bản xem cha bệnh lâu, tuổi thọ của cha ra sao? Được Hoán biến Càn.


Phụ Mẫu lưỡng hiện, lấy hào động làm Dụng, Nguyệt kiến khắc Dụng, Nhật lại không phù, Dụng thần nhập Mộ ở Mùi thổ, Không hóa Quan Quỷ, hóa lục xung, bệnh lâu gặp xung gặp Không đều là tượng hung. Tôi đoán ngày Mùi, ngày Thân có hung.
Thế nhưng ngày Đinh Mùi cha an nhiên vô sự, mẹ chưa hề có bệnh, nhưng khi đang chăm sóc cha, mẹ đột nhiên ngã xuống mà qua đời.
Phụ Mẫu Dần mộc lâm hào âm mà hóa Quan Quỷ, chính là mẹ biến quỷ, hào thượng Phụ Mẫu Mão mộc là dương thì ứng là cha, đây chẳng lẽ không phải là ứng nghiệm âm dương ư?
Ví dụ: Ngày Canh Dần tháng Mão, xem tuổi thọ của mẹ, được Kiển biến Khiêm:


Trong quẻ, hào Phụ Mẫu xuất hiện hai lần, lấy hào động Phụ Mẫu Tuất thổ làm Dụng thần, vì xem vào mùa xuân nên hưu tù. Tuy Nguyệt kiến Mão hợp với Tuất, nhưng hiềm vì Nhật thần, Nguyệt kiến đều khắc Tuất thổ, nên chỉ luận khắc không luận hợp. Xem vào năm Dậu, đến tháng Thìn năm Tuất thì qua đời, tức ứng vào năm trực của hào động. Còn ứng vào tháng Thìn, vì là tháng xung của Tuất.
Lại ví dụ: Vào ngày Canh Thân tháng Dậu, xem về tuổi thọ của bà, được quẻ Mông biến Hoán:


Hào Phụ Mẫu tại Dần mộc, vì xem vào mùa thu nên điêu tàn, lại gặp Tuyệt (tại Nhật thần), gặp xung (Nhật thần), gặp khắc (Nhật thần, Nguyệt kiến). Hào 5 Tý thủy độc phát tương sinh cho hào Dần mộc không gốc, nên sinh không được dài lâu, nên đề phòng năm Ngọ xung mất Tý thủy. Xem năm Mão, sau quả mất vào năm Ngọ, vì ứng vào năm xung mất Nguyên thần Tý thủy.
Ví dụ: Ngày Ất Dậu tháng Tị, xem về tuổi thọ của cha, được quẻ Tốn biến Cấu:


Đoán rằng: Hào Phụ Hợi thủy gặp Nguyệt phá, lại bị Mùi thổ khắc thương, tuy được Nhật thần Dậu xung động Mão mộc mà khắc thổ, nhưng vì thổ vượng mộc suy, nên không những khó được trường thọ, mà còn khó sống thêm được mấy tháng, Quả nhiên mất vào tháng Đông chí trong năm đó. Sở dĩ ứng vào tháng Tý, là vì Tý xung mất Ngọ hỏa khiến Mùi thổ khắc Hợi thủy.
Ví dụ: Ngày Bính Dần tháng Mão, xem về tuổi thọ của bà, được quẻ Trung Phu:

Đoán rằng: Hào Tị hỏa Phụ Mẫu, được Nhật thần, Nguyệt kiến tương sinh, nên vẫn sống thọ. Người xem nói rằng: "Cha tôi đi cầu sao Bắc Đẩu cho bà tôi, nói rằng phải tế lễ bảy năm. Nay cha tôi bận việc công, tôi chưa kết hôn, thay cha tế lễ." Ta nói: "Thật là cha con có hiếu, cảm động lòng trời. Quẻ này được Nhật Nguyệt tương sinh, hẳn là được thần linh phò trợ." Quẻ xem năm Tuất, qua năm sau, do bà mắc chứng đờm tắc, nên người con lại đến xem.
Vào ngày Canh Thân tháng Sửu, xem được quẻ Quy Muội biến Phục:


Quẻ chưa sắp xong, thì người nhà đến báo rằng: "Lão phu nhân đã qua đời!" Người này vội vàng quay về. Ta xem kỹ quẻ này, thấy hào Sửu thổ Phụ Mẫu lâm Nguyệt kiến, lại có hào Ngọ hỏa động tương sinh, tuy hào Mão mộc động khắc thổ, nhưng lại hóa thoái thần, gặp Tuyệt tại ngày Thân, làm sao lại có thể qua đời được! Bèn vội đến nhà người này. Theo phong tục người phương Bắc, người chết rồi không được nằm trên giường, mà đã chuyển lên trên cánh cửa. Đờm tắc trong họng, nhưng còn nghe thấy hơi thở yếu ớt, ta bèn dùng ba tiền phèn hòa tan vào nước sôi, cậy răng đổ vào miệng, một lúc thì nghe kêu lên "Lạnh quá!". Người nhà vội đưa vào trong giường lò. Bà tiếp tục sống thêm mười ba năm nữa.
Anh chị em hòa thuận hay ly tán qua vượng suy hào Huynh
Cha mẹ đã có chỗ dựa vào hào Phụ Mẫu, anh chị em lại cần một hào khác: hào Huynh Đệ.
Nếu xem về anh chị em, cần phải hỏi rõ nguyên do: Hoặc là do anh em bất hòa, nên xem có hòa hợp trở lại được không; hay xem anh chị em có ai phát đạt không? Hay xem sau này có thêm em hay không? Hay xem về tuổi thọ của anh chị em... Như vậy, việc suy đoán sẽ tiện lợi hơn.
Huynh hào vượng tướng ngộ sinh phù, tử kinh tịnh mậu.
Hào Huynh vượng tướng gặp sinh phù, tử kinh tươi tốt.
Nếu hào Huynh Đệ vượng tướng, hoặc lâm Nhật Nguyệt, hoặc được Nhật Nguyệt hào động sinh phù, hoặc động mà hóa cát, là tượng gối dài chăn rộng, hòa thuận lẫn nhau.
Tân bình thích: Cây tử kinh là ẩn dụ của huynh đệ, thời xưa anh em nhiều người cùng kê chung một gối, đắp chung một chăn, do đó lấy những cái này biểu thị anh em hòa thuận. Ở câu dưới, "nhạn tự" cũng có ý nghĩa là anh em. Chim nhạn bay có thứ tự, cho nên anh em gọi là "nhạn tự".
Đệ vị hưu tù kiêm thụ khắc, nhạn tự phân phi.
Hào Đệ hưu tù thêm bị khắc, mỗi kẻ một phương.
Nếu hào Huynh Đệ hưu tù, mà hỏi xem anh em có phát đạt không, thì tuy có cũng như không. Nếu hỏi xem về sau có thêm em không, là tượng không có. Nếu hỏi về tuổi thọ của anh em, ắt tuổi trời có hạn. Nếu hưu tù lại gặp Không, Phá, hoặc Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động hình khắc, hoặc động hóa hung, thì xem về điều gì cũng bất lợi.
Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Thân, xem anh em có hòa hợp hay không, có phát đạt hay không, được quẻ Đại Hữu biến Càn:


Hào Huynh Đệ lâm Nguyệt kiến, được hào Phụ Mùi thổ động tương sinh, lại hóa thành hào Huynh Đệ. Nên ta đoán rằng: "Anh chị em tuy nhiều, trong đó chỉ có một người tuổi Thân được giúp đỡ." Người xem hỏi nguyên do, ta đáp: "Thần mách bảo ở hào động, động mà hóa ra hào biến lại lâm Nguyệt kiến, nên đó là tượng siêu quần bạt tụy." Người này bèn nói: "Quả có người em tuổi Thân, năm ngoái từng đỗ đệ nhất, tôi cùng hai người anh em nữa đều theo nghề khác." Như vậy mới thấy quẻ xem quả thực linh nghiệm. Khoa thi sau, người em lại đỗ đầu bảng.
Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Mão, xem về anh em, được quẻ Chấn biến Đoài:


Ta thấy quẻ này, cũng lo thay cho anh ta, bèn hỏi rằng: "Anh hỏi về việc gì?" Người này bèn đáp: "Bốn anh em chúng tôi vẫn chưa chia nhà ở riêng, nên muốn hỏi xem về sau có được hòa hợp lâu dài hay không? Có người nào thay lòng đổi dạ không? Có nên chia nhà ở riêng không?" Ta đáp: "Quẻ này đại hung? Hào hung, quẻ hung, nên chắc chắn sẽ có tai họa khó lường. Hào Huynh Đệ hóa Tiến thần, kim Quỷ cũng hóa Tiến thần, động mà xung khắc Chấn mộc, hóa ra Đoài kim lại hồi đầu khắc, là tượng cực hung."
Xem năm Nhâm Ngọ, đến năm Giáp Thân, thì cả bốn anh em bị hại cùng một lúc, cả nhà lớn bé trai gái đều sa vào trại giặc, ứng vào năm Thân, vì mộc gặp Tuyệt tại Thân.
Lại ví dụ: Ngày Tân Dậu tháng Mùi, xem còn có thêm em nữa không, được quẻ Ký Tế biến Cách:


Ta đoán rằng: "Anh em tuy có, nhưng không được phát đạt. Hào Huynh Hợi thủy trì Thế, được hào Phụ Thân động tương sinh, người em này sẽ phát đạt, nhưng chưa được sinh ra. Hào Ứng Tý thủy tuy xuất hiện, nhưng gặp Tuần Không, nên mới nói không được phát đạt."
Người này bèn nói: "Quả thực có một người em mắc phải chứng điên cuồng, nên mới hỏi xem còn có thêm anh em nữa hay không." Ta đáp: "Chắc chắn sẽ có! Là em cùng cha khác mẹ." Người này hỏi tại sao, ta bèn giải thích: "Hào Huynh Đệ là hào biến do Phụ Mẫu hóa ra, nên đoán được."
Người này lại hỏi: "Hào Huynh Đệ Tý thủy lâm Không mà không có lực, hào Huynh Hợi thủy trì Thế tại sao lại không được phát đạt?" Ta bèn đáp: "Phát đạt chính là hào 4 Thân kim hóa thành Hợi thủy. Sự vi diệu trong quẻ, sao anh có thể biết được."
Sau quả nhiên mẹ kế sinh thêm em, cha chết mà nuôi cho khôn lớn. Đợi cho đứa trẻ khôn lớn, còn mọi chuyện về sau vẫn chưa khảo nghiệm được. Phép xem xưa cho rằng trong quẻ không có hào Phụ Mẫu mà có hào Huynh Đệ, là tượng mẹ khác sinh con, ta cũng chưa kiểm nghiệm.
Vợ chồng bạc đầu hay chia lìa: hào Tài, hào Ứng và hào Huynh
Anh em ruột thịt còn phân được vượng suy, đến vợ chồng nghĩa tào khang lại phải nhìn thêm một hào thứ ba: hào Tài.
Xem về vợ chồng, cũng cần phải chia ra để xem, như xem tuổi thọ của vợ, xem vợ chồng có được chung sống đến bạc đầu không, hoặc xem vợ chồng có hòa thuận không, xem vợ có bị hình thương phá bại không... Xem về tỳ thiếp, mỗi quẻ chỉ xem cho một người, không được hỏi chung.
Tài Phúc sinh thân, toại xướng tùy chi nguyện; Ứng hào hợp Thế, thậm vi phụ họa chi thần.
Tài Phúc sinh thân; thỏa nguyện vợ chồng hòa thuận; hào Ứng hợp Thế, cũng chỉ là thần phụ thêm.
"Hoàng kim sách" chuyên dùng hào Ứng để xem cho vợ. Bởi vì trong chương "Thân mệnh" của sách đó, một quẻ đoán gộp cả cha con, anh em, tiền tài, quan tước, e rằng nếu dùng hào Tài để xem về vợ, thì biết lấy hào nào để xem của cải nên bất đắc dĩ phải dùng hào Ứng để xem cho vợ, chẳng cần biết có ứng nghiệm hay không?
Tuy rằng dùng hào Ứng để xem về vợ cũng không hoàn toàn phi lý. Khi xem về vợ thì hào Tài là quan trọng hàng đầu, tiếp đến là hào Ứng. Hào Tài vượng tướng mà hào Ứng gặp Không Phá vẫn đoán là tốt. Hào Ứng vượng tướng, hào Tài gặp Không Phá, là tượng hung. Hào Tài hào Ứng đều vượng, là tốt càng thêm tốt; hào Ứng hào Tài đều Phá, hung càng thêm hung. Cho nên hào Ứng chỉ là phụ thêm mà thôi.
Hào Tài nếu được vượng hoặc tướng, hoặc lâm Nhật Nguyệt, hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh phò, hoặc động mà hóa cát, hoặc tương sinh tương hợp với hào Thế, nếu xem vợ chồng có được chung sống đến bạc đầu hay không, là tượng hạnh phúc lâu bền; nếu xem vợ chồng có hòa thuận hay không, là tượng tâm đầu ý hợp; nếu xem vận mệnh của vợ, là tượng vượng phát cho nhà chồng; nếu xem cho tỳ thiếp, cũng suy đoán tương tự như vậy.
Tài động hóa hung, thất lý di trâm chi thán; Huynh Đệ trì Thế, cổ bồn ky cứ chi bi.
Tài động hóa hung, oán thán nửa đường đứt gánh; Huynh Đệ trì Thế, đớn đau nỗi vợ lìa trần.
Hào Tài động hóa hung, hóa Quỷ, hóa hồi đầu khắc, hóa Thoái thần, hóa Tuyệt, hóa Mộ, hóa Phá, bất kể xem về chuyện gì, cũng là tượng chia lìa đổ vỡ.
Hào Huynh Đệ trì Thế, hoặc hào Huynh động trong quẻ, hoặc Nhật Nguyệt lâm Huynh Đệ thương khắc Tài, hoặc hào Huynh hóa Tài, bất kể xem cho vợ hay tỳ thiếp, đều chủ về không sống thọ.
Tài vượng Huynh suy, chung tu phản mục; khắc Tài Tài thoái, tất chủ sinh ly.
Tài vượng Huynh suy bại, vợ chồng trở mặt; Tài khắc, Tài hóa Thoái, hai ngả sinh ly.
Hào Huynh trì Thế mà hào Tài vượng, không khắc được Thê Tài, là tượng vợ chồng trở mặt, hóa ra thù hận. Hào Huynh trì Thế, hào Tài hóa Thoái thần, cũng tương tự như vậy, không phải vợ chồng trở mặt, cũng là tượng chia ly.
Ví dụ: Ngày Tân Tị tháng Dậu, xem vợ chồng về sau có được hòa thuận hay không, được quẻ Thái:

Hào Huynh trì Thế, khắc Thê Tài, nhưng may hào Tài Hợi thủy được Nguyệt kiến tương sinh, Tài vượng nên khó bị khắc hại. Người xem bèn hỏi: "Vợ chồng tôi hiện đang bất hòa, sau này liệu có hòa hảo được không?" Ta đáp: "Nhật thần Tị xung động Hợi thủy, mà Hợi là Dịch Mã. Thê Tài lâm Dịch Mã, lại ám động, nên tình cảm khó vãn hồi, là tượng phân ly."
Người đó vì việc này mà xem đi xem lại rất nhiều lần, mười lần thì đến chín gặp Huynh Đệ trì Thế, hoặc Tài hóa Thoái thần, về sau quả vợ chồng phải chia tay.
"Hoàng kim sách" có viết: "Thế là cội gốc của cuộc đời, Ứng là người vợ bền duyên". Quẻ này Thế, Ứng tương sinh, là tượng vợ chồng hòa thuận, chung sống bạc đầu, thì thực là sai lầm lớn.
Ví dụ: Ngày Quý Mão tháng Tuất, xem quan hệ vợ chồng ra sao, có hình khắc không, được quẻ Lữ biến Kiển:


Đoán rằng: Hào Thê không chỉ được Thế, Ứng tương sinh, lại còn được hào Thế hợp Tài, đúng là tượng bách niên giai lão. Hiềm nỗi hào Thế lâm Không, gặp Phá, nên không hợp được; lại thêm hào Tài hóa Thoái thần, muốn hợp mà chẳng được, là tượng phân ly. Sau quả nhiên vừa cưới vợ về, vợ chồng bất hòa, nên sau bỏ vợ.
Ứng Tài thụ chế, kết phát nan vu giai lão; động Thê vượng tướng, tục huyền kham hứa bạch đầu.
Ứng, Tài bị chế, xe tơ chẳng được bền lâu; Thê động vượng tướng, tục huyền nên duyên đầu bạc.
Trong quẻ, nếu hào Tài xuất hiện nhiều, có thể phân chia thành vợ chính, vợ thứ, tất nhiên hào Tài tại Ứng sẽ chỉ vợ chính. Nếu bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động xung khắc, hoặc động hóa hung, sẽ tổn hại đến vợ chính. Nếu có hào Tài khác vượng tướng, hoặc động hóa cát; hoặc hào Tài do hào khác biến ra là vượng tướng, mà tương sinh tương hợp hào Thế, chủ về lấy vợ kế có thể chung sống đến bạc đầu.
Nếu hào Tài không ở Ứng, thì lấy hào Tài ở quẻ chính làm vợ chính, hào Tài ở quẻ biến làm vợ kế.
Tân bình thích: Hiện nay là chế độ một vợ một chồng, hào Tài lâm Ứng là vợ, hào Tài khác là phụ nữ gặp gỡ bên ngoài, hoặc người thứ ba. Lại lấy Tài lâm hào 2 làm vợ, hào Tài khác và hào Tài hóa ra là phụ nữ gặp gỡ bên ngoài. Sách này luận theo nam, nếu nữ đoán hôn nhân thì lấy Quan phỏng theo là được.
Thê Tài khắc Thân, phi hình thương tất nhiên đố hãn.
Thê Tài khắc Thân, không gặp hình thương, vợ ắt ghen tuông, hung dữ.
Nếu hào Thê Tài khắc Thế, mà Thế hưu tù, gặp Không, Phá, hoặc gặp Mộ Tuyệt, hoặc động mà biến hung, theo Quỷ nhập Mộ, gặp một trong những trường hợp trên, chủ về chồng chết yểu. Hào Tài vượng khắc Thế, nếu hào Thế đắc địa, tuy không bị hình thương, nhưng ắt lấy phải người vợ ghen tuông, hung dữ.
Tân bình thích: Không chỉ lấy Tài để xem mà đôi khi cũng xem Nguyên thần của Tài, và cũng xem cả hào Ứng, Nguyên thần là tư duy và tiềm thức của một người, động mà khắc Thế, cũng là vợ hung hãn.
Ví dụ: Ngày Quý Tị tháng Ngọ, nam đoán vợ chồng cãi nhau, sẽ ra sao? Được Đỉnh biến Tụng.


Nhật Nguyệt lâm Huynh Đệ khắc Tài, Tài lại tự mình động mà hóa hồi đầu khắc, chính là tượng vợ muốn phân ly. Ứng động khắc Thế, Ứng là Nguyên thần, từ trong nội tâm vợ đã không thích anh ta, trên thực tế là anh ta thường xuyên bị vợ chửi mắng. Cuộc hôn nhân này sẽ tan vỡ.
Ứng Tài sinh Thế phi nội trợ, tất hoạch ngoại tài.
Ứng Tài sinh Thế, không được trợ giúp, cũng được tiền tài.
Trong quẻ, nếu hào Tài tương sinh, tương hợp hào Thế, không chỉ là tượng hòa thuận tốt đẹp, mà nhiều khi còn ứng vào điềm được giúp đỡ, có tiền của từ nhà vợ, nếu không, cũng là tượng vợ đảm giỏi giang.
Ví dụ: Ngày Đinh Mùi tháng Tị, xem vợ chồng có được chung sống đến bạc đầu không, được quẻ Vô Vọng biến Quan:


Trong quẻ xuất hiện rất nhiều hào Tài, hào Thê Mùi thổ biến ra từ hào Thế tương hợp với Thế, nên hào Thê Tài Mùi thổ chỉ vợ chính, lâm Nhật thần, được Nguyệt kiến tương sinh, không những chung sống đến bạc đầu, mà còn hiền thục đức hạnh.
Quả thực người này có đến mười mấy tỳ thiếp trẻ đẹp, nhưng vợ cả hiền thục không ghen tuông. Vợ chồng cùng tuổi, bà thọ 81 tuổi, ông thọ 85 tuổi.
Quẻ này nếu căn cứ Thế Ứng tương xung tương khắc mà suy đoán, sẽ mắc sai lầm lớn.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
