Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Lưỡng Hiện Và Tinh Sát: Chọn Dụng Thần Hai Lần Hiện Và Dùng Thần Sát

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch18/09/202612 phút đọc4 lượt đọc
Lưỡng Hiện Và Tinh Sát: Chọn Dụng Thần Hai Lần Hiện Và Dùng Thần Sát

Một người hỏi cầu tài, được quẻ Tiểu Súc. Trong quẻ có hai hào Thê Tài: hào Mùi thổ ở Ứng gặp Nguyệt kiến, hào Thìn thổ thì lâm Tuần Không. Phép xưa dạy bỏ hào Không, dùng hào vượng, nên Dã Hạc lão nhân hẹn ngày Sửu xung động hào Mùi. Thế nhưng người ấy lại được tiền vào ngày Thìn, đúng ngày hào Tài kia xuất Không. Từ đó ông đảo lại lời cũ: Dụng thần hiện hai lần thì bỏ hào lành lặn, dùng hào gặp Không, gặp Phá. Còn với tinh sát, hơn bốn mươi năm quan sát ông chỉ giữ lại Quý Nhân, Lộc Thần, Dịch Mã, Thiên Hỷ, mà vẫn không cho chúng quyền định họa phúc. Vậy vì sao Vương Hồng Ứng chỉ nhìn một hào Tử Tôn lâm Dịch Mã đã biết con gái của một người Nhật hay trốn học?


Lưỡng hiện: Dụng thần hiện hai lần thì chọn hào nào

Lưỡng hiện tức Dụng thần xuất hiện hai lần. Ví dụ, xem về cha mẹ, trong quẻ xuất hiện hai hào Phụ Mẫu.

Theo phép xưa, phương pháp lựa chọn như sau:

- Bỏ hào hưu tù, dùng hào vượng tướng.

- Bỏ hào tĩnh, dùng hào động.

- Bỏ hào gặp Nguyệt phá, dùng hào không bị phá.

- Bỏ hào gặp Tuần Không dùng hào không bị Không.

- Bỏ hào bị thương hại, dùng hào không bị tổn thương.

Trên đây là cách lựa chọn theo phương pháp cũ, ta kiểm nghiệm phần nhiều thấy ứng nghiệm với hào gặp Tuần Không, Nguyệt phá, tức:

- Bỏ hào không bị Không dùng hào gặp Tuần Không;

- Bỏ hào không bị Phá, dùng hào gặp Nguyệt phá.

Ứng vào hào gặp Không, gặp Phá: quẻ Tiểu Súc, Sư biến Hoán, Dự biến Quy Muội

Lời đảo ngược phép xưa được rút ra từ chính những lần đoán lệch ngày.

Ví dụ: Ngày Canh Tý tháng Mùi, xem về cầu tài, được quẻ Tiểu Súc:

Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc

Hào Tài tại Ứng gặp Nguyệt kiến lại khắc Thế, nên đoán rằng cầu tài ắt được. Người này bèn hỏi: "Lúc nào thì được?" Ta đáp rằng: Ngày mai là ngày Tân Sửu, xung động hào Mùi Tài, ắt sẽ đắc tài. Thế nhưng người này lại đắc tài vào ngày Thìn thổ tức ngày hào Tài xuất Không. Như vậy, cần bỏ hào Mùi thổ không bị Không, mà dùng hào Thìn thổ gặp Tuần Không.

Ví dụ: Ngày Giáp Ngọ tháng Mùi, xem về thăng chức, được quẻ Sư biến Hoán:

Quẻ Địa Thủy Sư
Quẻ biến Phong Thủy Hoán

Ta đoán rằng: Hào Thế cực vượng, vừa lâm Nhật kiến, lại được Nguyệt lệnh làm Quan tinh mà hợp Thế. Nhưng trong quẻ hào Quan tinh lưỡng hiện, Sửu thổ gặp Nguyệt phá, Thìn thổ gặp Tuần Không. Nên đến năm Thìn, hào Quan Thìn thổ xuất Không, chắc chắn sẽ thăng chức cao. Nhưng ngoại quái phản ngâm, nên sự việc tráo trở bất thường. Xem vào năm Dần, quả nhiên đến năm Thìn được điều đi làm quan tại Hà Nam. Đến tháng năm, vì lý do khác, lại bị điều về đất Sở, đến tháng 10 thăng chức Đốc phủ. Trong vòng một năm, điều nhiệm hai lần, thăng chức một lần, đều ứng vào thời điểm điền thực, Điền Không.

Lại ví dụ: Vào ngày Bính Ngọ tháng Hợi, mẹ xem con trai ngày nào sẽ thoát tật ách, được quẻ Dự biến Quy Muội:

Quẻ Lôi Địa Dự
Quẻ biến Lôi Trạch Quy Muội

Ta thấy trong quẻ xuất hiện ba hào Tử Tôn, đều thuộc hỏa, tương sinh hào Thế. Hào Ứng Ngọ hỏa tĩnh gặp Nhật kiến, hai hào Tử Tôn Tị hỏa còn lại gặp Nguyệt phá, nên đoán là đến năm Tị thực Phá sẽ thoát khỏi tai ách. Về sau, quả nhiên được thoát nạn vào năm Tị. Nên trong quẻ Dụng thần tam hiện, chọn hào Dụng là hào gặp Nguyệt phá.

Dã Hạc bàn rằng: Ta dùng hào Nguyệt phá để phán đoán về năm ứng nghiệm, không chỉ dựa vào một quẻ này mà thôi. Nguyên con trai cả của lão phu nhân đó mang theo ấn tín bỏ biên cương trở về, bản thân xem được hào Tử Tôn Thân kim phát động, động mà gặp hợp, tức ứng năm Tị. Người em lại xem cho anh, được hào Huynh Đệ Thân kim động, nên cũng ứng với năm Tị. Lại thêm quẻ này hào Tử Tôn Tị hỏa hồi đầu sinh Thế, tuy gặp Nguyệt phá, nhưng hợp với hai quẻ trước, cho nên mới dám quyết đoán vào năm Tị. Nên người xem bốc dịch, thứ nhất phải thấu đạt lẽ biến hóa của cơ trời, thứ hai là phải chú tâm ghi nhớ các quẻ. Nếu không ghi nhớ các quẻ trước, thì với quẻ này, hào Ngọ hỏa gặp Nhật thần sinh Thế, sẽ phải đoán là ứng vào năm Ngọ. Hơn nữa năm Ngọ lại hợp với Thế, vậy tại sao lại dám đoán là năm Tị. Sở dĩ đoán vào năm Tị, là vì hợp với hai quẻ trước mà đoán.

Tân bình thích: Thực tiễn chứng minh lý luận của Dã Hạc là chính xác, nên lấy hào gặp Phá gặp Không làm Dụng. Nếu có Dụng thần phát động, thì ưu tiên lấy hào động làm Dụng. Trong hai Dụng thần có một Không một Phá, thì cũng có thể hợp lại mà quyết định. Đây là cách chọn Dụng thần khi đoán cát hung. Nếu như đoán hôn nhân, Dụng thần lưỡng hiện thì thường xem cả hai, lấy Ứng Dụng thần là vợ hoặc chồng hoặc đối phương, hào Dụng thần khác là kẻ thứ ba.

Tinh sát: Thiên Ất Quý Nhân, Lộc Thần, Dịch Mã, Thiên Hỷ

Ngoài hào và ngũ hành, sách bói còn chất thêm lên quẻ một lớp sao tốt xấu tính theo can chi của ngày, của mùa.

Thiên Ất Quý Nhân

Giáp, Mậu, Canh ngưu dương; Ất, Kỷ thử hầu hương;

Bính, Đinh trư kê vị; Nhâm, Quý thố xà tàng.

Lục Tân phùng mã hổ; Thử thị Quý nhân phương.

Nghĩa là:

Ngày Giáp, Mậu, Canh: Thiên Ất Quý Nhân tại Mùi, Sửu;

Ngày Ất, Kỷ: Thiên Ất Quý Nhân tại Tý, Thân;

Ngày Bính, Đinh: Thiên Ất Quý Nhân tại Dậu, Hợi;

Ngày Nhâm, Quý: Thiên Ất Quý Nhân tại Mão, Tị.

Ngày Tân: Thiên Ất Quý Nhân tại Dần, Ngọ;

Ví dụ: Xem quẻ vào ngày Giáp, Mậu, Canh, trong quẻ có hào Sửu, hào Mùi, là gặp Thiên Ất Quý Nhân.

Lộc Thần

Ngày Giáp: Lộc Thần, tại Dần;

Ngày Ất: Lộc Thần tại Mão;

Ngày Bính, Mậu: Lộc Thần tại Tị;

Ngày Đinh, Kỷ: Lộc Thần tại Ngọ;

Ngày Canh: Lộc Thần tại Thân;

Ngày Tân: Lộc Thần tại Dậu;

Ngày Nhâm: Lộc Thần tại Hợi;

Ngày Quý: Lộc Thần tại Tị.

Ví dụ ngày Giáp xem quẻ, nếu xuất hiện hào Dần là gặp Lộc Thần; ngày Ất xem quẻ, nếu xuất hiện hào Mão là gặp Lộc Thần. Những trường hợp khác loại suy từ đó.

Dịch Mã

Ngày Thân, Tý, Thìn: Dịch Mã tại Dần;

Ngày Tị, Dậu, Sửu : Dịch Mã tại Hợi;

Ngày Dần, Ngọ, Tuất: Dịch Mã tại Thân;

Ngày Hợi, Mão, Mùi : Dịch Mã tại Tị.

Giả sử xem vào ngày Tý, ngày Thân, ngày Thìn, trong quẻ xuất hiện hào Dần, tức là gặp Dịch Mã. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đó.

Thiên Hỷ

Xuân Tuất, hạ Sửu, thu Thìn, đông Mùi.

Giả sử xem vào tháng giêng, tháng hai tức mùa xuân, trong quẻ có hào Tuất, thì đó chính là Thiên Hỷ.

Nếu xem vào tháng ba, tuy vẫn lấy Tuất làm Thiên Hỷ, nhưng vì Tuất lại là Nguyệt phá, nên nếu hào này phát động trong quẻ, phù trợ cho Dụng thần vượng tướng, thì vẫn được coi là Hỷ chứ không bị coi là Phá. Những trường hợp khác loại suy từ đấy.

Tinh sát không nắm quyền định họa phúc

Bốn sao được giữ lại cũng chỉ là khách, chủ vẫn là Dụng thần.

Các sách có ghi chép rất nhiều loại tinh sát, ta lưu ý quan sát hơn bốn mươi năm, thấy chỉ có Quý Nhân, Lộc Thần, Dịch Mã, Thiên Hỷ là ứng nghiệm, thế nhưng một mình những sao này cũng không thể nắm quyền quyết định họa phúc. Nếu Dụng thần vượng tướng, mà gặp những sao này, thì càng thêm tốt. Nếu Dụng thần thất hãm, thì các sao này tuy có cũng như không.

Lý Ngã Bình bàn rằng: Phục Hy quan sát số chẵn, số lẻ để phân chia ra âm dương, Văn Vương dùng hào từ để phán đoán hung cát. Từ Chu Công trở về sau, lại dùng ngũ hành để quyết đoán họa phúc, đạo của Dịch đã cùng. Nay lại kiêm thêm cả tinh sát cát hung, không biết xuất phát từ người nào? Tang Môn, Khâu Mộ, Đại Sát, Phi Liêm, lại thêm những phán đoán hung hiểm đáng sợ, thường đều không ứng nghiệm. Trong "Dịch mạo" chương "Tật bệnh" có viết: "Nhập quẻ không chết, tinh sát không chết, Dụng thần sinh thì ắt được sinh, Dụng thần chết thì ắt phải chết", ta cho rằng đó là chí lý. Đến chương "Tinh sát", lại liệt kê thêm khá nhiều thần sát, thật là tiền hậu bất nhất, người đời sau biết phải theo lối nào? Như trong sách này, nếu như Quý Nhân, Lộc Thần, Dịch Mã có ứng nghiệm, cũng phải kết hợp với Dụng thần vượng tướng, chứ không thể một mình nắm quyền thao túng họa phúc, nên ta cũng cho rằng, cũng có thể không cần dùng đến tinh sát. Thành Ý tiên sinh trong "Thiên kim phú" có viết: "Thần sát cát hung rườm rà nhiều vẻ, sao bằng nguyên lý sinh khắc chế hoá", chỉ một lời đã thể hiện được trọn ý.

Tân bình thích: Đây cũng là sai lầm của người xưa. Lấy thần sát làm căn cứ để phán đoán cát hung. Thần sát cũng thuộc về phạm trù tượng, là dùng để phân biệt ý nghĩa. Tôi từng được nghiệm về Thiên Ất Quý Nhân, Đào Hoa, Dịch Mã. Song cách lấy Dịch Mã lại không giống với phương pháp thông thường, ví dụ như Dần Ngọ Tuất Mã tại Thân Tý Thìn, tức là 12 địa chi đều nhập Dịch Mã, phần lớn dùng để phán đoán tính chất sự vật và tính cách con người,...

Thần sát dùng để lấy tượng: quẻ Nhu biến Tỉnh, quẻ Cấn biến Bác

Không định cát hung, thần sát vẫn có chỗ dùng khi cần gọi tên tính nết con người và hình dạng sự việc.

Ví dụ 1: Ngày Bính Dần tháng Tuất, một người Nhật Bản xem tình hình đi học của con gái, được quẻ Thủy Thiên Nhu biến Thủy Phong Tỉnh.

Quẻ Thủy Thiên Nhu
Quẻ biến Thủy Phong Tỉnh

Tôi đoán con gái người này tinh nghịch, bướng bỉnh, không thích học tập, thường xuyên trốn học. Đối phương rất kinh ngạc, cho rằng tôi có thần thông. Thực ra đều là dùng quẻ suy ra. Tử Tôn là con gái của người này, Phụ Mẫu là học nghiệp (việc học). Trong quẻ Tài động khắc Phụ Mẫu, Phụ Mẫu không hiện trên quẻ, vì vậy đoán không thích học tập. Tử Tôn lâm Bạch Hổ, Bạch Hổ chủ bướng bỉnh, vì vậy đoán là tinh nghịch. Tử Tôn được Nguyệt sinh phù vượng tướng, lâm Dịch Mã ám động, lại là quẻ du hồn, sách nói "Vượng mã du hồn đào học nhi", vì vậy đoán là thường xuyên trốn học.

Đây chính là sử dụng thần sát đoán ra, rõ ràng thần sát cũng có tác dụng.

Ví dụ: Ngày Canh Ngọ tháng Mão, một người nam xem lưu niên cho bạn, được quẻ Cấn biến Bác.

Quẻ Cấn Vi Sơn
Quẻ biến Sơn Địa Bác

Lấy hào Huynh Đệ làm Dụng thần. Trong quẻ có Thìn thổ, Tuất thổ, Huynh Đệ lưỡng hiện, lấy Tuất thổ hợp Nguyệt kiến cùng lâm Không Vong làm Dụng thần. Dụng thần lâm Chu Tước bị Nguyệt kiến khắc thương, Chu Tước là khẩu thiệt, quan ti, Nguyệt kiến và Quan Quỷ có ngũ hành tương đồng, lấy Quan Quỷ xem, chính là tượng ngồi tù hoặc bị tố tụng. Thê Tài Tý thủy được hào động Tử Tôn Thân kim sinh phù, Nhật xung là ám động. Thê Tài ám động sinh Kỵ thần, Tài là phụ nữ và tiền bạc, chứng tỏ bạn của anh ta đã bị bắt hoặc vì chuyện phụ nữ hoặc vì vấn đề kinh tế.

Hào Ứng động mà hóa Quan Quỷ. Ứng là người khác, Quan Quỷ là tố tụng, quan ti, bạn của anh ta đã bị người ta tố cáo. Hiện nay Dụng thần Không Vong, vẫn đang núp ở Không địa nên chưa hoàn toàn bị Quan Quỷ tới khắc, chứng tỏ bạn của anh ta vẫn chưa bị kết án. Nhưng đến tháng Thìn xung thực Dụng thần, Dụng thần bắt đầu bị khắc thì phiền phức càng lớn, cần phải nhanh chóng nghĩ biện pháp giải quyết.

Anh ta cho biết người bạn bị tố cáo vì vấn đề kinh tế, không liên quan gì đến phụ nữ. Sau buổi sáng xem quẻ, buổi chiều anh ta lại đến và nói rằng tôi đoán rất đúng, người bạn bị một phụ nữ sống chung tố cáo bởi vì anh ta muốn chia tay với cô ấy. Hỏi làm thế nào có thể giúp người bạn mau chóng thoát khỏi vụ kiện này.

Hóa giải: Bởi vì Thân kim phát động giúp tăng cường sức mạnh Thê Tài Tý thủy, khiến Thê Tài Tý thủy ám động sinh trợ Kỵ thần. Tìm địa chi cân bằng từ trong 12 con giáp, Sửu thổ có thể đưa đến tác dụng tốt nhất cho hóa giải. Sửu thổ có ba tác dụng như sau: Thứ nhất, Sửu thổ có thể khiến Thân kim nhập Mộ, Thân kim nhập Mộ sẽ làm suy yếu lực sinh trợ Thê Tài. Thứ hai, Sửu thổ tương hợp với Thê Tài Tý thủy, có thể hợp vướng chân Tý thủy, khiến cho không sinh Kỵ thần. Thứ ba, Sửu thổ có ngũ hành tương đồng với Dụng thần, có thể tăng cường sức mạnh Dụng thần. Lại từ Nhật khởi Quý Nhân, Giáp Mậu Canh ngưu dương, Sửu thổ còn là Quý Nhân, vì vậy nếu tìm được người cầm tinh con trâu thì người bạn nhất định có thể được cứu.

Tình cờ tòa án có một người quen tuổi Sửu, tìm người này giúp đỡ, bởi vì người bạn không thuộc về vấn đề kinh tế quan trọng nên dưới sự giúp đỡ của người này, người bạn đã bình an thoát khỏi vụ kiện, không bị đưa vào tù.

Ở đây tuy sử dụng thần sát, nhưng lấy Dụng thần hỷ kỵ để phán đoán.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch