Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Âm dương, ngũ hành và lối nghĩ nhìn cả mặt khuất của sự việc

Bói Dịch - Nhập môn02/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Âm dương, ngũ hành và lối nghĩ nhìn cả mặt khuất của sự việc

Người công nhân đi xe máy từ chiều hôm trước vẫn chưa về, và chỉ sau một quẻ đã có người nói đúng số người trên xe, ai bị thương, ai bình an. Nghe như phép lạ, nhưng đằng sau là một cách nhìn rất cụ thể về hai mặt của sự vật và năm thuộc tính của vạn vật. Cách nhìn ấy bắt đầu từ…


Một xưởng trưởng ngồi bồn chồn từ sáng vì có người công nhân đi xe máy từ chiều hôm trước vẫn chưa về. Nhờ người đoán một quẻ, ông nhận được câu trả lời rất cụ thể: xe có ba người, ít nhất một người là nữ, xe chạy nhanh nên gặp nạn, người nam không hề hấn, người nữ bị thương nặng nhưng giữ được mạng. Sau đó mọi chuyện đúng gần như từng chữ. Điều khiến câu chuyện đáng nhớ không phải phép lạ nào, mà là cách nhìn đứng sau lời đoán: cách nhìn của âm dương và ngũ hành.

Ba lý luận gốc và ba nguyên tắc của Dịch

Trước khi đi vào âm dương ngũ hành, nên biết chúng nằm ở đâu trong cả bức tranh lớn của Dịch.

Trong Dịch học có ba hạt nhân lý luận: âm dương đối ứng thống nhất, ngũ hành sinh khắc chế hóa, và con người hợp nhất với vũ trụ. Cả ba cùng được đặt trên ba nguyên tắc nền. Nguyên tắc thứ nhất là bất dịch: muôn vật dù rối rắm vẫn ở trong một trạng thái cân bằng tương đối nhờ hai mặt âm dương bên trong mỗi vật. Nguyên tắc thứ hai là biến dịch: vạn vật luôn đổi thay, khi mâu thuẫn âm dương trong một vật tích lũy đến một ngưỡng thì chất đổi. Nguyên tắc thứ ba là giản dị: quy luật tự nhiên của trời đất vốn đơn sơ, lớn như vũ trụ vĩ mô hay nhỏ như hạt bụi đều theo cùng một đạo lý.

Biến đổi không có nghĩa là hỗn loạn. Người xưa nhìn thấy trong biến đổi có một khuôn phép để tuân theo, và chính khuôn phép ấy làm cho việc dự đoán trở thành khả thi.

Âm dương: hai mặt của cùng một vật

Không có vật nào chỉ có một mặt, và Dịch học bắt đầu từ chỗ nhìn ra điều đó.

Nhìn rộng ra, âm dương là một cách phân chia thế giới thành hai nhóm thuộc tính. Dương gồm những thứ như trời, nam, ánh sáng, hướng lên, sinh trưởng, mặt chính, bên ngoài, động, nóng, mạnh, vật chất. Âm gồm đất, nữ, bóng tối, hướng xuống, suy tàn, mặt trái, bên trong, tĩnh, lạnh, tinh thần. Sự phân chia này không tuyệt đối: trong dương luôn có chút âm, trong âm luôn có chút dương, và đó là nguồn gốc của mọi biến hóa.

Trong tám quẻ, Càn, Chấn, Khảm, Cấn thuộc dương, còn Khôn, Tốn, Ly, Đoài thuộc âm. Hai quẻ Càn và Khôn là cặp gốc của vạn vật. Dù đối lập nhau, chúng vẫn thống nhất để sinh ra và biến hóa muôn loài. Những cặp như Ly và Khảm, Đoài và Cấn, Tốn và Chấn cũng đều vừa đối lập vừa thống nhất.

Bốn cách âm dương đối đãi nhau

Có bốn kiểu quan hệ thường gặp. Thứ nhất là đối lập: hai mặt luôn song hành, như trời và đất. Thứ hai là nương nhau mà sống, gọi là hỗ căn: không có trời thì không có đất, không có Càn thì không có Khôn, như hình với bóng. Thứ ba là tiêu trưởng, tức bên này mất đi thì bên kia lớn lên, giống nhịp ngày đêm hay bốn mùa nóng lạnh. Thứ tư là chuyển hóa: khi đã đến cực điểm, mỗi bên sẽ đổi thành mặt đối lập, như câu “dương cực sinh âm, âm cực sinh dương”.

Ngoài ra còn một quy tắc gặp hằng ngày: cùng tính thì đẩy nhau, khác tính thì hút nhau. Hai người đàn ông hay hai người phụ nữ không thể lập nên một gia đình sinh con đẻ cái; hai con gà trống nhốt chung một chỗ sẽ mổ nhau. Quẻ cũng vậy. Hai quẻ dương Càn và Chấn gặp nhau tạo thành quẻ Vô Vọng, chỉ tai họa bất ngờ. Một quẻ âm Tốn gặp một quẻ dương Chấn tạo thành quẻ Ích, nghĩa là giúp ích cho nhau.

Chính vì thế người xưa mới nói Dịch linh nghiệm: nó hợp với quy luật chung nhất, đó là hai mặt mâu thuẫn luôn ở trong thế thống nhất. Khi âm dương cân bằng, sự việc ở trạng thái tốt nhất. Khi mất cân bằng, bên mạnh quá hay bên yếu quá sẽ gây rối loạn và tai họa. Điều cần làm không phải cố giữ sự cân bằng cũ mà là khôi phục một thế cân bằng mới.

Ngũ hành: năm thuộc tính và một mạng lưới

Nếu âm dương nói về hai mặt, thì ngũ hành nói về năm tính nết rải khắp vạn vật.

Ngũ hành không chỉ là một cách nhìn vũ trụ, mà còn là một hệ lý luận khép kín. Nó cho rằng mọi sự vật được cấu thành từ năm loại là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, và sự phát triển biến hóa của hiện tượng tự nhiên là kết quả của sự vận động liên tục cùng tác động qua lại giữa năm loại ấy. Chữ “hành” nghĩa là vận động. Có hệ thống thì mới thống nhất, có ước định thì mới xác định được hệ thống, nên người xưa đưa ngũ hành vào việc đoán để nhìn mọi chuyện như một thể toàn vẹn.

Ở đây năm chữ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ không chỉ vật chất cụ thể mà chỉ năm kiểu thuộc tính. Mộc là sinh trưởng, vươn lên, có thể cong có thể duỗi. Hỏa là nóng, bốc lên trên. Thổ là chứa đựng, nuôi dưỡng, sinh hóa, là mẹ của vạn vật. Kim là biến đổi, thu lại, vừa cứng vừa mềm. Thủy là thấm ướt, đi xuống, ẩn giấu.

Bát quái đi vào ngũ hành thế nào

Phép đoán gắn tám quẻ với năm hành như sau: Càn và Đoài thuộc kim; Khôn và Cấn thuộc thổ; Chấn và Tốn thuộc mộc; Khảm thuộc thủy; Ly thuộc hỏa. Từ đó mỗi hành kéo theo cả một dãy: mộc đi với mùa xuân, phương Đông, gió, màu xanh, vị chua, gan và mật; hỏa với mùa hạ, phương Nam, nóng, màu đỏ, vị đắng, tim và ruột non; thổ đi với vùng giữa, ẩm, màu vàng, vị ngọt, tỳ và dạ dày; kim với mùa thu, phương Tây, khô, màu trắng, vị cay, phổi và ruột già; thủy với mùa đông, phương Bắc, lạnh, màu đen, vị mặn, thận và bàng quang. Một vật nằm ở đâu trong bảng này sẽ cho ta biết nó thuộc hành nào.

Ngũ hành sinh khắc chế hóa

Hai chiều quan hệ cơ bản của ngũ hành là sinh và khắc. Sinh là nâng đỡ: mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc. Khắc là kìm hãm: kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim. Hành đứng sau mà được sinh ra gọi là hành được giúp, còn hành đứng trước mà sinh ra con thì bị hao, gọi là bị tiết. Chẳng hạn mộc sinh hỏa thì mộc bị tiết, hỏa lại sinh thổ nên hỏa cũng bị tiết.

Quy luật ấy có ngoại lệ khi lực lượng chênh lệch. Kim yếu mà gặp mộc cứng thì kim không khắc nổi mộc, ngược lại còn bị mộc quay lại làm hại. Hỏa mạnh mà thủy yếu thì hỏa khắc ngược thủy. Thổ mạnh thì thổ làm hại mộc, thủy mạnh thì thủy làm hại thổ, kim mạnh thì kim làm hại hỏa. Nghĩa là sinh và khắc luôn phải xét theo thế mạnh yếu của từng bên, chứ không thể học thuộc như công thức khô cứng.

Với những ai muốn học đoán, đây là nền móng quan trọng nhất. Ai thật sự thông hiểu cả quan hệ hình, xung, khắc, hại lẫn sinh khắc chế hóa của âm dương ngũ hành thì mới có thể trở thành bậc thầy đoán quẻ. Cuộc sống quanh ta, từ thân thể đến công việc, cuối cùng đều là biểu hiện của âm dương ngũ hành. Để bổ sung cách nhìn về thế cân bằng, có thể đọc thêm bài về âm dương đổi chỗ cho nhau.

Lối nghĩ thái cực: nhìn cả mặt thấy và mặt không thấy

Học Dịch không chỉ thu được kiến thức, mà quan trọng hơn là đổi được cách nhìn một sự việc.

Tư duy của Dịch học cũng gọi là tư duy thái cực. Nó tách một sự vật ra thành hai phần âm dương, tức hai mặt mâu thuẫn, vừa đối lập vừa thống nhất trong một thái cực. Hình dáng quen thuộc nhất của nó chính là biểu tượng thái cực với hai con cá đen trắng ôm nhau. Hình ấy đã đi vào đời sống đến mức quốc kỳ của một số nước và nhiều nhãn hiệu thương mại cũng mượn dùng.

Thu hoạch lớn nhất của việc học Dịch là có được một cách nghĩ và hành động mới: nhìn nhận một việc theo lối biện chứng, không chỉ nhìn mặt thấy được mà còn phải hiểu mặt không thấy, tức là hiểu cả kết quả của quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong lúc đoán, thứ quan trọng nhất là hoạt động của tư duy. Chỉ khi dựa vào những điềm báo hiện trên quẻ tượng, lối nghĩ hợp với lý Dịch thì kết luận mới chính xác, và quẻ có đúng hay không do cách nghĩ quyết định.

Mọi sự đều đổi thay không ngừng, nhưng không phải thay đổi bừa bãi mà theo một quy luật cố định. Cái người đời gọi là ngẫu nhiên thực ra đều có điềm báo và mối liên hệ nội tại với kết quả, chỉ là người ta chưa nhận ra hoặc chưa giải thích được. Người học Dịch cần dựa vào lối nghĩ ấy để từ những điềm báo thoạt nhìn tình cờ, từ chỗ “không mà có”, suy ra tương lai của sự việc. Biến hóa trong Dịch còn mang tính chu kỳ: sau một vòng, vạn vật đổi mới trở lại từ đầu, lặp theo hình xoắn ốc, vô cùng vô tận.

Ba kiểu tư duy trong một lần đoán

Con người có ba cách nghĩ: lô-gíc, hình tượng và linh cảm. Lô-gíc là suy luận từng bước, dựa vào chứng cứ thực tế. Linh cảm là bước nhảy bất chợt của sự ngộ ra. Tư duy Dịch dùng cả hai, rồi thêm tư duy hình tượng và cả những cách nghĩ đặc biệt. Khi đoán, người ta dùng bước nhảy ngộ tính, đồng thời tham khảo những dấu hiệu ở bên ngoài. Vì vậy cỗ máy tính không thay thế được bộ não: nó chạy theo mô thức cố định đã cài sẵn, không có linh cảm, nên dùng máy tính để đoán sẽ không toàn diện và chuẩn xác.

Quay lại chuyện người công nhân đi xe máy. Vào lúc 11 giờ 30 ngày 11 tháng 1 năm 1995, người đoán lập quẻ theo thời điểm được hỏi, rồi lập tức nói ra hàng loạt điều: người ấy là con cả ở nhà, trên xe có ba người trong đó ít nhất một nữ, xe chạy quá nhanh nên gặp tai nạn, người nam không bị thương, đã mất khoảng ba nghìn tệ, tổng thiệt hại ít nhất năm nghìn, người nữ bị thương nặng nhưng không chết, xe có thể trở về trước năm giờ chiều. Mọi điều đều khớp với thực tế. Ở đây đã dùng cả tư duy ngộ tính lẫn tư duy hình tượng, chứ không đếm đi tính lại từng bước.

Cái cản trở lớn nhất là khung đã biết

Điều trở ngại thật sự cho người học thường không phải những thứ họ chưa biết mà là những thứ họ tưởng đã biết.

Muốn học Dịch tốt và đoán chuẩn, cần thoát khỏi sự ràng buộc của lối nghĩ thông thường. Điều cản trở sự mở rộng tư duy thường là cái khung kiến thức đã có, chứ không phải điều ta chưa biết. Phải dùng lối nghĩ khác thường, vận dụng linh cảm, tư duy ngộ ra, tư duy vượt khỏi cảm giác và tri giác của ngũ quan, cuối cùng đạt tới cảnh giới trời đất người giao cảm với nhau. Trong quá trình ấy, thỉnh thoảng sẽ có những nhận thức tưởng như sai lệch, nhưng chính những chỗ ấy lại hay dẫn tới kết quả chính xác.

Điều này đặt ra một thử thách thú vị cho người mới: biết dùng kiến thức nhưng không để kiến thức trói chân, biết đọc quy tắc nhưng không bị quy tắc nuốt chửng.

Nguồn: Hoàng Giám, Dịch Hồn – Bát Quái Tượng Số Dự Trắc Pháp.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn