Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Ngũ hành quyết định tính tình, nghề nghiệp, tạng phủ và mười thiên can

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202612 phút đọc1 lượt đọc
Ngũ hành quyết định tính tình, nghề nghiệp, tạng phủ và mười thiên can

Người hay thèm đồ chua thường không biết mình đang tự bổ cho một hành đang thiếu trong mệnh. Chỉ một chữ bổ ấy đã mở ra cả cách nhìn tính tình, nghề nghiệp, sức khỏe và mười thiên can của mỗi người. Vậy cái thiếu trong mệnh được nhìn ra từ những dấu hiệu nào…


Bản tính con người gắn với năm hành

Bản tính là phẩm chất bẩm sinh vốn có. Cái gọi là tính tình, tức mừng, giận, buồn, yêu, ghét, cùng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đều gắn chặt với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Bản tính con người tuy đổi thay theo hậu thiên, như hoàn cảnh gia đình, môi trường giáo dục, nhưng dựa vào mức vượng suy và sinh khắc của âm dương ngũ hành hiện trong Tứ trụ, thì về căn bản thiên tính khó đổi.

Những gì mỗi hành đại diện, như tính tình, màu sắc, mùi vị, bộ phận cơ thể, bốn mùa, phương vị, đều là đặc tính căn bản. Ngũ hành trong Tứ trụ có mặt lệch về vượng, cũng có mặt lệch về nhược. Mặt vượng là những đặc tính lộ rõ, trội nổi; mặt nhược là những tính chìm ẩn hoặc yếu hơn. Chỗ khuyết trong Tứ trụ có thể được bổ cho đủ để hướng tới điều tốt, tránh điều xấu. Chẳng hạn người mộc vượng, qua sự cân bằng tổng hợp của Tứ trụ, sẽ biểu lộ tính mộc. Nếu mộc không đủ, khuyết mộc hay mộc bị khắc, thì không chỉ nhìn ra được từ vóc người, cá tính, tướng mạo, sức khỏe, mà còn đoán được người ấy hằng ngày hay thèm đồ chua. Thích chua chính là cách bổ sung theo bản năng về sinh lý. Cũng vậy, ta có thể bổ sung bằng lý trí, hoặc bằng những lựa chọn có lợi cho sự nghiệp, tiền đồ, hôn nhân, tài phú, quan lộc, phúc thọ, lục thân, sức khỏe, nghề nghiệp, để cân bằng toàn bộ Tứ trụ. Tức là chọn cách bổ có lợi mà không có hại.

Một chữ "bổ" thôi đã cho ta phương châm điều chỉnh quy luật vận động của sinh mệnh trong cuộc sống, và có thể xem là chiếc chìa khóa vàng để vào cửa dự đoán theo Tứ trụ. Bổ cái gì? Bổ khí. Người ta vẫn nói người sống nhờ thở khí. Với học thuyết âm dương ngũ hành, con người thở khí trời đất để sống chính là bổ khí kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Khí âm dương ngũ hành bao hàm khái niệm không gian và thời gian của vũ trụ. "Khí của trái đất" chính là khí trong đục của năm vì sao vận động trên thiên thể mà người ấy nhận được tại thời điểm và địa điểm lúc sinh ra.

Từ mệnh lý có thể biết bẩm tính con người, đoán ra diện mạo, vóc dáng, lời nói, cử chỉ, thiện ác. Một cuộc dự đoán cao cấp, nhiều tầng thường không thể chỉ dựa vào Tứ trụ mà phải xét tổng hợp mệnh lý, diện tướng, cốt tướng, vân tay, trong đó lấy mệnh cục làm chủ, các phép tướng làm bổ trợ và tham khảo. Cách đoán ấy chắc chắn chính xác hơn, vì thoát khỏi việc dựa vào một mình Tứ trụ; nó gom được cả các mặt như âm đức, phong thủy, nhà cửa, di truyền, ngũ hành của người đó, nghĩa là tổng hợp nhiều nhân tố để rút ra kết luận.

Tính tình và vóc dáng theo từng hành

Mộc chủ về nhân, tính thẳng, tình ôn hòa. Người mộc thịnh thì vóc cao, tay chân dài, phong cách đẹp, khóe miệng tươi, sắc mặt trắng xanh, có lòng bác ái thương người, thanh cao khảng khái, chất phác, không giả dối. Người mộc suy thì gầy, tóc thưa, tính hẹp hòi, đố kỵ, bất nhân. Người mộc khí tử tuyệt thì lông mày không ngay, cổ dài, yết hầu lồi, da thịt khô, hay lừa dối, bủn xỉn.

Hỏa chủ về lễ, tính nóng nhưng tình cảm lễ độ. Người hỏa thịnh thì đầu nhỏ chân dài, thân trên nhọn dưới nở, mày rậm, tai nhỏ, tinh thần hoạt bát, cung kính lễ độ với mọi người, nhưng tính nóng gấp. Người hỏa suy thì dáng gầy, góc cạnh, da vàng, nói năng lề mề, đối trá, cay độc, làm việc có đầu không có đuôi.

Thổ chủ về tín, tính tình đôn hậu. Người thổ thịnh thì lưng tròn, mũi nở, lông mày thanh tú, mắt đẹp, tiếng vang và lưu loát, trung hiếu, chân thành, độ lượng, giữ lời hứa, hành động chắc chắn, có kết quả. Thổ khí quá mạnh thì đầu óc cứng nhắc, hiểu chậm, hướng nội, thích trầm tĩnh. Thổ khí không đủ thì sắc mặt ủ rũ, mặt mỏng, mũi ngắn, lòng dạ ác độc, bất tín, vô tình.

Kim chủ về nghĩa, tính cương trực, mãnh liệt. Người kim thịnh không béo không gầy, mặt trắng trẻo, lông mày cao, mắt sâu, sức khỏe tốt, tinh thần minh mẫn, tác phong quyết đoán, trọng nghĩa khinh tài, tự trọng. Kim quá mạnh thì hữu dũng vô mưu, tham muốn, bất nhân. Kim không đủ thì vóc nhỏ gầy, tư cách vô tình, có khi nham hiểm, ham dâm, thích sát phạt, bủn xỉn, tham lam.

Thủy chủ về trí, thông minh hiền lành. Người thủy vượng thì sắc mặt hơi đen, nói năng nhẹ nhàng, rành rọt, hay lo cho người khác, túc trí đa mưu, học nhanh hơn người. Thủy quá mạnh thì hay cãi cọ, tính tình lộn xộn. Thủy không đủ thì vóc thấp bé, tính thất thường, nhát gan, vô mưu, hành động không có thứ tự.

Ngũ hành hợp với nghề nào, phương nào

Thuộc mộc hợp phương Đông. Làm được nghề mộc, nghề giấy, trồng cây, trồng hoa, chăm cây non, đồ tế lễ, hương liệu, hoặc buôn bán những mặt hàng ấy.

Thuộc hỏa hợp phương Nam. Làm được các nghề chiếu sáng, quang học, nhiệt độ cao, dung dịch nóng, chất dễ cháy, dầu, rượu, thức ăn nóng, cắt tóc, đồ hóa trang, đồ trang sức, văn nghệ, văn học, văn phòng phẩm, văn hóa, người sáng tác, biên soạn, giáo viên, thư ký, xuất bản, công vụ và kinh doanh liên quan.

Thuộc thổ hợp vùng giữa, hay ở ngay vùng ấy. Làm được các nghề về thổ sản, đất đai, nông thôn, chăn nuôi gia cầm, vải vóc, trang phục, thêu dệt, đá, than, miền núi, xi măng, kiến trúc, mua bán nhà ở, áo mưa, ô dù, đắp đập, sản xuất bình lọ, thùng chứa nước, làm trung gian, môi giới, luật sư, quản lý, buôn bán, thiết kế, cố vấn, nghề an táng, xây mộ, trông nghĩa trang, tăng ni và những công việc liên quan.

Thuộc thủy hợp phương Bắc. Theo được các nghề hàng hải, buôn dung dịch không cháy, nước đá, cá, thủy sản, thủy lợi, đồ ướp lạnh, đánh lưới, nơi nước chảy, cảng vịnh, bể bơi, ao hồ, bể tắm. Người này hay phiêu bạt, bôn ba, lưu động, hay thay đổi. Tính thủy thanh khiết, hợp với các chất hóa học không bốc cháy, nghề trên biển, nghề di động, kỹ năng khéo léo, dẫn đường, du lịch, đồ chơi, ảo thuật, ký giả, trinh sát, du khách, làm dụng cụ dập lửa, câu cá, chữa bệnh hay kinh doanh dược liệu, làm thầy thuốc, y tá, nghề chiêm bốc.

Thuộc kim hợp phương Tây. Theo đuổi các nghề hay kinh doanh liên quan đến vật liệu kim loại, tính cách cứng rắn, quyết đoán, biết võ thuật, giám định, làm quan thanh liêm, tổng quản; các nghề về ô tô, giao thông, kim hoàn, công trình, trồng cây, khai mỏ, khai thác gỗ, cơ khí.

Tạng phủ cần bổ trợ theo từng hành

Mộc ứng với gan và mật, gân cốt và tứ chi. Mộc quá vượng hay quá suy dễ mắc bệnh gan, mật, cổ, tứ chi, khớp, gân, mắt, thần kinh.

Hỏa ứng với tim và ruột non, thuộc mạch máu và hệ tuần hoàn. Hỏa quá vượng hay quá suy dễ mắc bệnh ruột non, tim, vai, huyết dịch, vùng mặt, răng, bụng, lưỡi.

Thổ ứng với lá lách và dạ dày, thuộc ruột và cả hệ tiêu hóa. Thổ quá vượng hay quá suy dễ mắc bệnh lá lách, dạ dày, sườn, vùng bụng, lưng, ngực, phổi.

Kim ứng với phổi và ruột già, thuộc khí quản và hệ hô hấp. Kim quá vượng hay quá suy dễ mắc bệnh đại tràng, phổi, vùng rốn, ho đờm, gan, da, trĩ, mũi, khí quản.

Thủy ứng với thận và bàng quang, thuộc não và hệ tiết niệu. Thủy quá vượng hay quá suy dễ mắc bệnh thận, bàng quang, bắp đùi, chân, đầu, gan, tiết niệu, âm hộ, thắt lưng, tai, tử cung.

Mười can, mười hai chi từ đâu mà có

Ngũ hành đại nghĩa nói can chi do Đại Sào tìm ra. Ông dựa vào tính của ngũ hành, dùng giáp, ất... làm tên ngày, gọi là can; dùng tý, sửu... làm tên tháng, gọi là chi. Việc liên quan đến trời thì dùng ngày, việc liên quan đến đất thì dùng tháng; vì âm dương khác nhau nên có tên can, tên chi. Mười thiên can là giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý. Mười hai địa chi là tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.

Về nghĩa của từng chữ, Quần thư khảo dị giải rằng:

  • Giáp là mở, chỉ dấu hiệu vạn vật tách ra.
  • Ất là kéo, chỉ vạn vật lúc đầu được kéo lên.
  • Bính là đột nhiên, chỉ vạn vật đột nhiên lộ ra.
  • Đinh là mạnh, chỉ vạn vật bắt đầu mạnh lên.
  • Mậu là rậm rạp, chỉ vạn vật xum xuê.
  • Kỷ là ghi nhớ, chỉ vạn vật bắt đầu có hình để phân biệt.
  • Canh là chắc lại, chỉ vạn vật bắt đầu chắc, có quả.
  • Tân là mới, chỉ vạn vật đều có thu hoạch.
  • Nhâm là gánh vác, chỉ dương khí chịu việc nuôi dưỡng vạn vật.
  • Quý là đo, đoán được, chỉ sự vật đã có thể đo lường.

Như vậy mười thiên can không liên quan gì đến việc mặt trời mọc lặn, mà chỉ chu kỳ tuần hoàn của mặt trời mới ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng của vạn vật. Còn mười hai địa chi dùng để miêu tả chu kỳ vận động của mặt trăng:

  • Tý là tư bổ, nuôi dưỡng, tức mầm mống vạn vật nảy nở nhờ dương khí.
  • Sửu là kết lại, tức các mầm non tiếp tục lớn.
  • Dần là dời đổi, dẫn dắt, tức mầm vừa nứt đã vươn lên khỏi mặt đất.
  • Mão là đội, tức vạn vật đội đất mà lên.
  • Thìn là chấn động, tức vật nhờ chấn động mà lớn.
  • Tỵ là bắt đầu, tức vạn vật đến đây đã có khởi đầu.
  • Ngọ là bắt đầu tỏa ra, tức vạn vật bắt đầu mọc cành lá.
  • Mùi là ám muội, tức âm khí đã bắt đầu có, vạn vật hơi suy giảm.
  • Thân là thân thể, tức thân thể vạn vật đã trưởng thành.
  • Dậu là già, tức vạn vật đã già dặn, thành thục.
  • Tuất là diệt, tức vạn vật đều suy diệt.
  • Hợi là hạt, tức vạn vật thu tàng về thành hạt cứng.

Do đó mười hai địa chi liên quan đến chuyện tiêu và trưởng của âm dương theo mặt trăng; chu kỳ tuần hoàn của mặt trăng cũng trực tiếp ảnh hưởng đến sự sinh ra của vạn vật. Can chi được dựng từ sự nhận thức về hoạt động của mặt trời và mặt trăng, nên người xưa lấy mặt trời, trời làm dương, còn mặt trăng, đất làm âm. Vì thế rất tự nhiên mười thiên can phối với trời, mười hai địa chi phối với đất, và có tên "thiên can, địa chi".

Mười thiên can và tính cách con người

Trong dự đoán vận mệnh, thiên can vô cùng quan trọng. Trụ ngày của mỗi người gồm can ngày và chi ngày. Can ngày vượng tướng, không bị khắc hại thì bản tính của can ngày càng rõ, có thể dùng làm tiêu chí đoán tính tình người ấy.

Giáp mộc thuộc dương, chỉ cây to nơi rừng già, tính cường tráng; là bậc đàn anh trong loài mộc, còn có nghĩa cương trực, có ý thức kỷ luật. Ất mộc thuộc âm, chỉ cây nhỏ, cỏ, tính mềm yếu; là bậc em gái trong loài mộc, còn có nghĩa cẩn thận, cố chấp.

Bính hỏa thuộc dương, chỉ mặt trời, nóng và rất sáng; là anh cả của hỏa, nghĩa là hừng hực, bồng bột, nhiệt tình, hào phóng, hợp với hoạt động xã giao nhưng dễ bị hiểu nhầm là thích phóng đại, hiếu danh. Đinh hỏa thuộc âm, chỉ lửa đèn, lửa bếp. Thế lửa không ổn định, gặp thời thì mạnh, không gặp thời thì yếu; là em gái của hỏa, bề ngoài trầm tĩnh, bên trong sôi nổi.

Mậu thổ thuộc dương, chỉ vùng đất rộng, dày, phì nhiêu, cũng chỉ đất ở đê đập có sức chặn nước lũ; là anh của thổ, coi trọng bề ngoài, giỏi giao thiệp, có năng lực xã giao, nhưng dễ mất chính kiến, hay chìm lẫn trong số đông. Kỷ thổ thuộc âm, chỉ đất ruộng vườn, không bằng phẳng rộng rãi, phì nhiêu như mậu thổ nhưng thuận tiện trồng trọt; là em gái của thổ, tính chi li, cẩn thận, làm việc có đầu có đuôi, nhưng ít độ lượng.

Canh kim thuộc dương, chỉ sắt thép, dao kiếm, khoáng sản, tính cứng rắn; là anh cả của kim, nếu là người thì có tài về văn học, nếu là vật thì có ích, có tài về kinh tế. Tân kim thuộc âm, chỉ ngọc châu, đá quý, vàng cám; là em gái của kim, có thể mày mò vượt mọi khó khăn để hoàn thành việc lớn, đồng thời cũng có nghĩa ngoan cố.

Nhâm thủy thuộc dương, chỉ nước biển cả; là anh của thủy, nghĩa là trong trẻo, khoan dung, hào phóng, biết đùm bọc, bao dung, nhưng ngược lại cũng có tính ỷ lại, chậm chạp, không lo lắng. Quý thủy thuộc âm, chỉ nước mưa, còn có nghĩa ôm ấp, mầm mống bên trong; là em gái của thủy, tính chính trực, cần mẫn, dù gặp hoàn cảnh khó khăn cũng cố mở đường thoát ra.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc