Bài tổng quan
Âm dương đổi chỗ cho nhau, ngũ hành sinh quá thành hại
Một người vốn khỏe mạnh ăn sâm để bồi bổ, không ngờ bổ quá lại sinh bệnh, đến chảy máu mũi. Chuyện nhỏ ấy cho thấy trong ngũ hành, cái sinh có lúc hóa khắc, cái khắc có lúc phải quay đầu. Từ đó người xưa mới dặn rằng một chữ thêm vào tên gọi có thể là chỗ cứu cả một đời...
Mọi phép đoán đều dựa trên một nền
Trong những môn dự đoán thông tin của Trung Hoa, từ Bát quái, Tứ trụ, Kỳ Môn, tinh tượng cho đến phong thủy, phép nào cũng đứng trên nguyên lý biến hóa của âm dương và quy tắc ngũ hành sinh khắc chế hóa. Muốn dùng Tứ trụ để xem tốt xấu của một người, không thể không hiểu hai nền ấy và mối quan hệ biến hóa sinh khắc của chúng.
Âm dương: hai khí làm nên và đổi dời vạn vật
Học thuyết âm dương là tư tưởng duy vật và biện chứng của người lao động thuở xưa. Họ quan sát sự vật, hiện tượng rồi chia vạn vật trong vũ trụ làm hai loại âm và dương. Theo thuyết này, sự hình thành, biến hóa và phát triển của mọi vật đều do hai khí âm dương vận động mà ra. Từ đó người xưa tổng kết các quy luật biến đổi của thế giới tự nhiên, thống nhất với tư tưởng triết học về cái đối lập mà thống nhất. Thuyết âm dương không chỉ được dùng trong nhiều lĩnh vực khoa học mà còn thành cơ sở lý luận của khoa học tự nhiên và là cái nhìn thế giới của người Trung Hoa.
Nguồn gốc xa xôi
Theo cách nói truyền thống, thuyết âm dương đã thành hình từ đời Hạ, và nguồn gốc âm dương gắn với bói toán thời cổ. Chứng cứ là hào âm (nét đứt) và hào dương (nét liền) của Bát quái đã có trong bộ Liên Sơn thời nhà Hạ; Sơn Hải Kinh có câu: Phục Hy được Hà đồ, người Hạ nhân đó gọi là Liên Sơn, Hoàng Đế được Hà đồ nên người Chu gọi là Chu Dịch. Bát quái lại do hai hào cơ bản là âm và dương dựng nên, vì vậy gốc của thuyết âm dương nằm ở đời Hạ là điều tin được.
Nhưng giới học thuật ngày nay vẫn có kiến giải khác nhau về quan hệ giữa âm dương, ngũ hành và Bát quái cũng như quá trình diễn biến của chúng. Nhà sử học Bàng Phác, trong bài nghiên cứu về nguồn gốc âm dương ngũ hành đăng trên tạp chí của Đại học Bắc Kinh năm 1986, cho rằng ngũ hành bắt nguồn từ phép bói mai rùa của dân tộc Thương; âm dương bắt nguồn từ phép bói bằng xương, mai của người Ngô Việt ở phương nam; còn Bát quái bắt nguồn từ phép bói cỏ thi của người Chu. Ba dòng văn hóa Bắc Nam ấy hòa vào nhau qua sự thâm nhập, đến thời Chiến Quốc được các nhà nho như Khổng Tử, Trâu Diễn trộn lại, đến đời Hán thì Đổng Trọng Thư gộp thành thuyết âm dương ngũ hành rồi kết hợp với thuật số Bát quái của Chu Dịch mà thành một công trình lớn. Cách chứng minh của ông Bàng Phác chặt chẽ, là một cách giải thích độc đáo. Song giới khảo cổ và sử học vẫn chưa nhất trí về nền văn hóa đời Hạ, về Liên Sơn, Quy Tàng, tài liệu và hiện vật cũng chưa đủ. Vì thế người ta vẫn theo cách nói truyền thống, và nếu sau này có chứng cứ mới đủ bác bỏ thì sẽ theo chân lý mà sửa.
Đối lập mà thống nhất
Âm dương đối lập nghĩa là trong mọi vật, mọi việc của tự nhiên đều có hai thuộc tính trái ngược nhau cùng tồn tại. Bát quái do hai ký hiệu đối lập âm dương hợp thành, rồi từ bốn cặp ký hiệu đối lập lại thành Bát quái, từ đó lại thành ba mươi hai cặp để dựng sáu mươi bốn quẻ. Chu Dịch Càn Tạc Độ chỉ rõ: Càn Khôn là gốc của âm dương, là tổ tông của muôn vật. Quẻ Càn thuần dương, quẻ Khôn thuần âm, nên mâu thuẫn đối lập của âm dương là mâu thuẫn căn bản của mọi sự vật. Nhưng Càn và Khôn tuy đối lập mà vẫn thống nhất lẫn nhau, và chỉ nhờ sự thống nhất ấy mới có biến hóa để thành vạn vật. Vì thế đối lập và thống nhất của âm dương xuyên suốt mọi vật.
Cái gì thuộc âm, cái gì thuộc dương
Hai mặt đối lập của sự vật mang thuộc tính âm dương không thể đặt tùy ý, không thể đảo ngược tùy ý, mà phân loại theo một luật nhất định. Hệ Từ nói: đạo Càn là nam, đạo Khôn là nữ. Càn là cha, Khôn là mẹ, sinh ra sáu người con là Chấn, Cấn, Khảm, Tốn, Ly, Đoài; sáu người con chia nam nữ, tức trời đất sinh vạn vật và vật nào cũng có hai tính. Hệ Từ còn nói: trời quý, đất hèn; quẻ dương số lẻ, quẻ âm số chẵn. Phàm những gì có tính nam, cao, lẻ đều thuộc dương; những gì có tính nữ, thấp, mềm đều thuộc âm.
Làm gốc của nhau
Hai mặt âm dương của một vật vừa dựa vào nhau vừa lợi dụng nhau, mỗi mặt lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình. Không có âm thì dương không thể có, và ngược lại; không có Càn thì không có Khôn, không có trời thì không có đất. Thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận trong Tố Vấn nói: âm ở trong, dương giữ ở ngoài; dương ở ngoài khiến âm ở trong. Âm dương nương nhau mà tồn tại, giúp ích lẫn nhau.
Cái này giảm, cái kia tăng
Sự vận động của âm dương diễn ra dưới hình thức bên này bớt thì bên kia thêm, luôn ở trạng thái cân bằng động: bên này tiến thì bên kia lùi, chỉ vậy sự vật mới giữ được sự phát triển bình thường. Hệ Từ nói: mặt trời lặn thì mặt trăng lên, mặt trăng đi thì mặt trời đến, lạnh đi thì nóng đến. Cái đi cái đến ấy chính là sự bớt và thêm của âm dương: ngày hóa đêm, đêm thay ngày, trời từ nóng sang lạnh rồi lạnh sang nóng. Lấy nhịp ngày đêm, lạnh nóng ấy làm gương mà soi quy luật phát triển của sự vật; nếu nhịp ấy lệch khỏi thường thì đó là phản ứng khác thường của sự bớt thêm âm dương. Cặp bớt thêm ấy còn hiện ra qua động tĩnh, cương nhu, hư thực, ba mặt quen thuộc của âm dương.
Âm đến cùng thì hóa dương
Dưới một điều kiện nhất định, thuộc tính âm sẽ chuyển thành dương và dương chuyển thành âm. Hệ Từ nói: âm dương hợp đức thì cứng mềm hợp thành vật thể. Âm dương vừa đối lập vừa nương nhau, chỉ khi thống nhất mới thúc đẩy được sự vật biến hóa, phát triển, và nhờ thế mới cùng tồn tại lâu dài. Tuy khác tính nhưng chúng đổi cho nhau được: sinh sinh gọi là Dịch; đạo có biến động nên gọi là hào. Dịch là âm dương cùng đổi: âm đến cực sinh dương, dương đến cực sinh âm. Hào đầu của Càn là dương ở dưới cùng, hào sáu của Khôn là âm; hai quẻ ấy đại diện cho sự thống nhất của mâu thuẫn âm dương, và chỗ hào đầu là nơi âm dương bắt đầu đổi chỗ. Mọi vật chỉ cần phát triển thuận theo sự biến hóa của âm dương thì sau cùng sẽ đạt tới chỗ vạn vật chuyển hóa lẫn nhau.
Ngũ hành: năm loại vật chất dựng nên thế giới
Thuyết ngũ hành cũng là sáng tạo độc đáo của người Trung Hoa, tư tưởng triết học rực rỡ của nó có tác dụng thúc đẩy rất lớn đối với khoa học của nước này. Cốt lõi là: thế giới do năm loại vật chất cơ bản là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ hợp thành. Sự phát triển biến hóa của vạn vật và hiện tượng, kể cả con người, là kết quả của năm loại ấy không ngừng vận động và tác động lẫn nhau. Phát hiện này đi tìm quy luật và nguyên nhân sinh ra và diệt đi của vạn vật trong vũ trụ, nên nó cũng là một thứ duy vật và biện chứng sơ khai, được dùng rất rộng trong các lĩnh vực khoa học.
Ba ý kiến về nguồn gốc
Ngũ hành ra đời từ đâu thì giới học thuật chưa làm sáng tỏ, có ba quan điểm đối lập nhau. Giới Dịch học cho rằng nó rất có thể ra đời cùng lúc với thuyết âm dương. Một số người trong giới sử học cho là Mạnh Tử, và Phạm Văn Lan trong bộ sử giản biên Trung Quốc từng viết Mạnh Tử là người đầu tiên sáng tạo ngũ hành còn Trâu Diễn sau đó mở rộng ra. Nhưng cách nói ấy không có chứng cứ vững; chính ông Phạm Văn Lan trong cùng chương đã tự phủ nhận khi viết rằng Mặc Tử không tin ngũ hành, bác thuật chiêm bốc, dùng năm sắc thanh long để định cát hung, đủ thấy thời Đông Chu thuyết ngũ hành đã phổ biến. Mạnh Tử là người nước Lỗ thời Chiến Quốc, mà thời Đông Chu đã có ngũ hành rồi, rõ ràng không phải ông phát minh. Cũng có sử sách nói âm dương ngũ hành do Đổng Trọng Thư đời Hán lập nên, điều ấy càng không đúng. Nhóm triết học như Vu Bạch Tuệ, Vương Liệm thì nói ngũ hành được viết thành văn trong thiên Hồng Phạm của Thượng Thư, tương truyền là sách đầu thời Tây Chu, nhưng nghiên cứu ngày nay cho rằng có thể là tác phẩm thời Chiến Quốc. Cho nên nguồn gốc ngũ hành vẫn chưa sáng tỏ.
Tính chất của năm hành
Mộc có tính mọc lên, phát triển; hỏa nóng, hướng lên trên; thổ nuôi lớn, phát dục; kim thanh tĩnh, thu sát; thủy lạnh rét, hướng xuống dưới. Thuyết ngũ hành dùng cách lấy hình tượng để so sánh, phân loại: các sự vật hay hiện tượng cần giải thích được chia thô sơ thành năm loại, những cái có thuộc tính tương tự thì quy về một hành, rồi trên cơ sở thuộc tính ngũ hành ấy mà dùng quy luật ngũ hành để nói mối liên hệ và biến hóa giữa chúng. Chỗ âm dương gặp ngũ hành chính là nơi cách phân loại này được dùng đến nhiều nhất.
Sinh và khắc, năm vai quanh một can ngày
Giữa các sự vật tồn tại những mối liên hệ nhất định, chính mối liên hệ ấy thúc đẩy chúng phát triển và biến hóa. Giữa năm hành có quy luật tương sinh, tương khắc; sinh và khắc là quan điểm cơ bản để khái quát mối quan hệ giữa các vật. Tương sinh là nuôi dưỡng, thúc đẩy, giúp nhau; tương khắc là ràng buộc, chế ngự, kiềm chế nhau. Mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc. Mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc.
Quan hệ sinh có hai chiều: cái sinh ra tôi và cái tôi sinh ra. Cái sinh ra tôi là phụ mẫu, cái tôi sinh ra là con, cái khắc tôi là quan quỷ, cái tôi khắc là thê tài, cái cùng hành với tôi là anh em. Ví như can ngày là Canh kim: thổ sinh kim nên thổ là phụ mẫu của kim; hỏa khắc kim nên hỏa là quan quỷ; kim khắc mộc nên mộc là thê tài; kim sinh thủy nên thủy là con cháu; kim cùng kim là anh em. Thê tài đối với nam vừa là tiền của vừa là vợ; quan quỷ đối với nữ vừa là sao quan vừa là chồng.
Sinh và khắc là hai mặt không thể rời nhau của vạn vật, như âm với dương. Không có cái sinh thì vạn vật không phát sinh, trưởng thành; không có cái khắc thì không giữ được cân bằng điều hòa trong quá trình phát triển. Không sinh thì chẳng có khắc, không khắc thì chẳng có sinh; trong sinh có khắc, trong khắc có sinh, đó là quan hệ lợi dụng lẫn nhau, giữ cho sự sinh trưởng và biến hóa của sự vật đi đúng nhịp.
Sinh mà hóa hại, khắc mà hóa cứu
Nếu chỉ biết sinh thuần và khắc thuần mà không biết sinh ngược, khắc ngược thì khó dùng lý luận sinh khắc để đoán thông tin của con người. Nguyên Lý Phú của Từ Đại Thăng có câu: kim vượng mà được hỏa sẽ thành vũ khí; hỏa vượng được thủy sẽ thành cứu nhau; thủy vượng được mộc sẽ thành thông thương; mộc vượng được kim sẽ thành trụ cột. Hiểu theo Tứ trụ, can ngày là kim phải có hỏa khắc rèn mới thành vũ khí. Can ngày vượng tướng, đắc thời đắc địa mới có thể đảm đương làm quan hoặc dùng để khắc cái sát đang áp mình. Nhật can vượng mà thắng nổi cái khắc thì Tứ trụ mới tốt, rồi lưu niên đại vận mới tốt theo; nhật can yếu mà gặp sát thì Tứ trụ nghiêng về yếu, lưu niên đại vận tất nhiên nhiều xấu ít tốt.
Được sinh quá nhiều lại thành bị khắc
Kim nhờ thổ sinh, nhưng thổ nhiều thì kim bị vùi lấp. Thổ nhờ hỏa sinh, nhưng hỏa nhiều thì thổ thành than. Hỏa nhờ mộc sinh, nhưng mộc nhiều thì hỏa không bốc nổi. Mộc nhờ thủy sinh, nhưng thủy nhiều thì mộc trôi dạt. Thủy nhờ kim sinh, nhưng kim nhiều thì nước đục. Thổ vốn để sinh kim, quá nhiều thì lại vùi kim, làm kim mất công dụng sẵn có. Như người vốn khỏe mạnh lại ăn đủ thứ thuốc bổ như sâm, chẳng những không bồi dưỡng mà còn sinh bệnh vì bổ quá, chẳng hạn chảy máu mũi; đó gọi là sinh ngược thành khắc.
Thổ sinh kim, thổ là ấn; ấn nhiều thì phải dùng tài để chế. Nếu Tứ trụ không có tài thì phải tìm cách bổ cứu cho khỏi bị vùi lấp, chẳng hạn thêm vào tên gọi một chữ có liên quan đến tài. Khi thổ quá nhiều, thổ là ấn, mộc là tài, mộc khắc thổ mà Tứ trụ không có mộc, thì trong tên phải thêm chữ có bộ mộc như chữ dương, chữ lâm. Nếu không thì cả đời không thuận, thậm chí giữa chừng chết yểu.
Sinh ra nhiều thì mình kiệt
Kim sinh thủy, thủy nhiều thì kim chìm. Thủy sinh mộc, mộc thịnh thì thủy co lại. Mộc sinh hỏa, hỏa nhiều thì mộc bị đốt. Hỏa sinh thổ, thổ nhiều thì hỏa âm ỉ. Thổ sinh kim, kim nhiều thì thổ chẳng còn đáng kể. Cái mình sinh ra là thương quan, thực thần; sinh ra quá nhiều thì con vượng mẹ suy, thân bị mất khí quá nhiều mà yếu đi, gọi là tiết khí nhiều cũng thành khắc.
Cách cứu từng trường hợp: gặp thủy nhiều kim chìm thì dụng thần và tuế vận lấy tỉ kiếp giúp thân mới tốt, nếu lấy thổ chế thủy thì mất cái đẹp của thủy kim. Mộc thịnh làm thủy co thì lấy kim trị mộc và còn lợi cho việc sinh thủy. Hỏa nhiều thiêu mộc thì phải dùng thủy chế hỏa, đồng thời lợi cho thủy sinh mộc; nếu dùng mộc ngang hòa, tức mộc của anh em, thì mộc ấy lại sinh hỏa, hỏa càng vượng. Thổ nhiều hỏa âm ỉ thì thổ nhiều cần mộc chế thổ vì còn lợi cho sinh hỏa, hoặc lấy kim tiết thổ làm dụng thần, tuyệt không dùng hỏa vì hỏa sinh thổ thì thổ càng vượng. Kim nhiều thổ lu mờ thì lấy thổ ngang hòa giúp thân là tốt, hoặc dùng hỏa chế kim để sinh thổ.
Khắc ngược: kẻ yếu bị khắc lại làm hại kẻ khắc
Trong ngũ hành không chỉ có khắc thuận như kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, vượng khắc suy, mạnh khắc yếu; còn có khắc ngược. Kim vốn khắc mộc, nhưng mộc cứng thì kim phải mẻ. Mộc vốn khắc thổ, nhưng thổ nặng và chặt thì mộc bị thắt lại. Thổ vốn khắc thủy, nhưng thủy nhiều thì thổ bị cuốn trôi. Thủy vốn khắc hỏa, nhưng hỏa vượng thì thủy phải cạn. Hỏa vốn khắc kim, nhưng kim nhiều thì hỏa phải tắt. Khắc ngược giống như người thân yếu mà của cải mạnh, thân không giữ nổi của, rốt cuộc vì của hoặc vì đàn bà mà chuốc họa. Tứ trụ gặp cảnh ấy, tốt nhất lấy tỉ kiếp giúp thân làm dụng thần để giải cứu.
Thịnh đến cực thì gãy
Vật cực thịnh là thái quá: can ngày vượng mà còn gặp tỉ kiếp chồng lên. Sự vật cực thịnh, thái quá, mạnh mà hóa yếu, thường dễ gãy. Như ngọc cứng dễ vỡ, thép cứng dễ gãy, nguyên lý cũng như vậy.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
