Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Bát quái, nguyệt lệnh và ngũ vận: nơi âm dương gặp ngũ hành

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202616 phút đọc5 lượt đọc
Bát quái, nguyệt lệnh và ngũ vận: nơi âm dương gặp ngũ hành

Mỗi tháng trong năm đều có một vị, một mùi, một thứ tiếng và một con vật riêng, như thể bốn mùa là một bản nhạc có sẵn bản phổ. Còn bên trong cơ thể, những quy tắc ấy lại gõ nhịp cho cả gan, tim, gân, mạch...


Vì sao ghép ngũ hành với âm dương lại là một bước thăng hoa

Hai tấm bản đồ vẽ riêng rẽ chỉ thật sự có ích khi được chồng lên nhau.

Tác giả cho rằng việc thống nhất ngũ hành với âm dương là một cú nâng cấp quan trọng của lý luận ngũ hành. Ý nghĩa nằm ở chỗ ngũ hành được trao thêm nội dung khí hóa của âm dương. Khi gánh được nội dung ấy, ngũ hành có sức sống mới, còn âm dương cũng mở rộng được những ứng dụng cụ thể. Hai lý luận bổ sung cho nhau, và đây là một mốc quan trọng trên đường phát triển của cả hai.

Bát quái là cái nôi sớm nhất

Theo ông, thực ra ngũ hành từ lâu đã nằm sẵn trong âm dương, và bát quái chính là cái nôi đầu tiên của sự kết hợp. Trên bảng bát quái, âm dương, ngũ hành mà sách minh họa, mỗi quẻ đều thuộc một hành và đồng thời thuộc âm hoặc dương. Quẻ Đoài là đầm, đầm thuộc nước nên quy về thủy. Quẻ Cấn là núi, núi thuộc đất nên quy về thổ. Quẻ Chấn là sấm và gió, mà gió thuộc gỗ nên quy về mộc. Cho nên có thể nói bát quái là cái nôi sớm nhất của sự kết hợp âm dương và ngũ hành. Chu Dịch không chỉ phân tích thuộc tính âm dương của các quẻ mà còn chỉ ra khá chính xác thuộc tính ngũ hành của chúng. Tuân Tử cũng có câu nhắc rằng trên trời không gì sáng bằng mặt trời mặt trăng, dưới đất không gì sáng bằng nước và lửa, tức là đặt nhật nguyệt, thuộc âm dương, cạnh thủy hỏa, thuộc ngũ hành.

Ông dẫn lại các câu trong Thuyết quái truyện để làm bằng: Càn là trời, là cha, thuộc dương, thuộc kim. Khôn là mẹ, thuộc âm, là đất, thuộc thổ. Tốn là gỗ, là gió, thuộc âm. Khảm là nước, là mặt trăng, thuộc âm. Ly là lửa, là mặt trời, thuộc dương. Cấn là núi, thuộc thổ, tính âm. Đoài là đầm, thuộc thủy, là thiếu nữ, tính âm. Chấn là sấm, thuộc mộc, là con trưởng, thuộc dương. Từ đó ông kết luận bát quái trong Chu Dịch đã chứa sẵn ý nghĩa âm dương hòa với ngũ hành, và là cái nôi của sự kết hợp ấy trong tư tưởng cổ đại.

Tư tưởng chư tử rồi dần thành hệ thống

Quản Tử đã nêu rõ lý luận trời đất, tức âm dương, thống trị muôn vật trong đó có ngũ hành. Trời là cha, đất là mẹ, mở ra muôn vật. Đoạn văn kể việc Hoàng Đế dùng các phép tắc để dựng năm âm và chỉnh năm thứ bậc, rồi lập ngũ hành để chỉnh thời tiết của trời, lập ngũ quan để chỉnh vị trí của người. Khi người và trời điều hòa với nhau, sau đó trời đất mới nuôi dưỡng được sự sống.

Lã thị xuân thu thì ghi mười hai tháng, mở ra sự phân tích về thịnh suy của âm dương và khí hậu bốn mùa gắn với ngũ hành. Dùng mười hai tháng để thể hiện lúc âm dương thịnh lúc suy trong một năm, mỗi mùa đều đi kèm một hành. Ví dụ tháng đầu xuân, ngày thuộc giáp ất, tức mộc, loài vật là loài có vảy, âm là âm giác, luật là thái thốc, vị chua. Khí hậu tháng ấy là gió đông làm tan băng, côn trùng thức giấc, cá nổi lên mặt băng, rái cá bày cá tế, nhạn bay về bắc, rồi câu kết rằng lập xuân, đức thịnh ở mộc.

Tháng đầu hạ thì ngày thuộc bính đinh, tức hỏa, âm là âm chủy, luật là trọng lữ, vị đắng, mùi khét. Ếch kêu, giun đất bò ra, dưa vương mọc, rau đắng nở, và lập hạ thì đức thịnh ở hỏa. Tháng đầu thu, ngày thuộc canh tân, tức kim, vị cay, mùi tanh. Gió mát đến, móc trắng rơi, ve sầu kêu, chim ưng bày chim tế, rồi lập thu thì đức thịnh ở kim. Tháng đầu đông, ngày thuộc nhâm quý, tức thủy, vị mặn, mùi thối. Nước bắt đầu đóng băng, đất bắt đầu giá lạnh, chim trĩ xuống nước hóa thành sò, cầu vồng ẩn mình, rồi lập đông thì đức thịnh ở thủy.

Thiên Nguyệt lệnh trong Lễ ký chỉ sửa đoạn văn ấy chút ít, rồi giải thích thêm. Tác giả coi đó là chứng cứ rằng người thời Chiến Quốc đã phối hợp bốn mùa với âm dương và ngũ hành, tạo nền cho lý luận âm dương ngũ hành thời Tần Hán.

Hoài Nam tử cũng phân tích rất cụ thể quan hệ giữa âm dương, bốn mùa và nước lửa. Sách nói khí chuyên nhất của âm và dương sinh ra bốn mùa, bốn mùa tản tinh ra muôn vật. Khí nóng của dương dồn lại sinh lửa, tinh của khí lửa là mặt trời. Khí lạnh của âm dồn lại sinh nước, tinh của khí nước là mặt trăng. Rồi sách bàn đến chuyện đông chí thì nước theo, hạ chí thì lửa theo, nên tháng năm lửa giữ phần chính mà nước rỉ, tháng mười hai nước giữ phần chính mà âm thắng. Dương khí là hỏa, âm khí là thủy, nước thắng nên hạ chí ẩm, lửa thắng nên đông chí khô. Tác giả cho đó là sự đi sâu thêm vào quan hệ giữa khí hóa âm dương và bốn mùa.

Đến Đổng Trọng Thư, bộ Xuân thu phồn lộ không chỉ phân tích đầy đủ lý luận sinh thắng mà còn bàn đến khí hóa của ngũ hành âm dương. Ông nói khí trời đất hợp lại làm một, chia ra thành âm dương, tách ra thành bốn mùa, xếp ra thành ngũ hành. Mộc ở phương đông chủ khí xuân, hỏa ở phương nam chủ khí hạ, kim ở phương tây chủ khí thu, thủy ở phương bắc chủ khí đông. Cho nên mộc chủ việc sinh, kim chủ việc giết, hỏa chủ nóng, thủy chủ lạnh. Tóm lại, theo tác giả, chư tử đời Tần Hán đã phân tích thêm nhiều về âm dương ngũ hành, và từ khí hóa gắn với bốn mùa, ngũ hành dần tiến sang khí hóa gắn với cả hệ thống âm dương ngũ hành.

Hoàng đế nội kinh và bước từ ngũ hành sang ngũ vận

Khi năm hành được đặt dưới bầu trời có sao quay, bốn mùa không còn chỉ là mùa mà thành một nhịp thở của vũ trụ.

Tác giả viết rằng Hoàng đế nội kinh đã góp phần phát triển khí hóa âm dương ngũ hành. Sách kế thừa đầy đủ lý luận âm dương ngũ hành của thời Tiên Tần, rồi đưa sự phát triển ấy vào âm dương ngũ vận, khiến khí hóa ngũ hành nở rộ. Việc áp học thuyết vào y học không phải bắt chước làm theo mà là sáng tạo thêm.

Ngũ vận là học thuyết vận khí, giai đoạn phát triển cao nhất của khí hóa âm dương ngũ hành. Học thuyết này xuất phát từ bảy thiên vận khí trong Nội kinh, nguồn gốc xa xưa đến nay còn chưa bàn rõ, nhưng xét độ chín muồi của lý luận ngũ hành thì ít nhất cũng từ cuối thời Hán. Bảy thiên ấy kết hợp âm dương ngũ hành với lục khí, gồm phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, tạo ra lý luận vận khí lừng danh. Trọng tâm là khí hóa âm dương, nhưng được thể hiện qua ngũ vận và lục khí. Ông tóm ba điểm chính.

Điểm thứ nhất: nguồn khí hóa nằm trong sự vận hành của vũ trụ

Lý luận ngũ vận làm nổi bật rằng khí hóa âm dương của thế giới tự nhiên bắt nguồn từ chuyển động của vũ trụ, của mặt trời, mặt trăng và năm vì sao. Như vậy ngũ vận, gồm kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, có gốc ở vận động vũ trụ, nghĩa là đưa nền thiên văn vào hiện tượng khí hóa của thiên nhiên, thể hiện tính vật chất của khí hóa. Thiên Thiên nguyên kỷ đại luận trong Tố vấn nói đại ý rằng cõi thái hư mênh mông là nơi khí sinh ra, muôn vật từ đó bắt đầu, ngũ vận trải khắp trời đem lại khí chân linh, chín vì sao treo sáng, bảy diệu quay quanh, từ đó mà có âm dương, có nhu cương, có ẩn hiện, rồi sinh sinh hóa hóa, muôn vật hiện rõ.

Thiên Ngũ vận hành đại luận lại nói rằng trời rủ tượng, đất thành hình, bảy diệu giăng trên khoảng không, ngũ hành bám vào mặt đất. Đất là nơi chở các loại hình sinh thành, còn khoảng không là nơi bày ra khí tinh của trời. Quan hệ giữa khí hóa dưới đất và sự vận hành của các vì sao trên trời gần như quan hệ giữa rễ và lá. Từ vũ trụ ấy mà sinh ra khí hóa của ngũ vận, rồi sinh ra lục khí. Năm hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ và sáu khí phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa nương nhau cùng tồn tại, tạo nên nền vật chất dày dặn của khí hóa ngũ vận.

Điểm thứ hai: trời, đất, người là một chỉnh thể khí hóa

Thứ hai, qua ngũ hành và lục khí, lý luận vận khí thống nhất khí hóa âm dương giữa trời, đất, người, phản ánh có hệ thống mối liên hệ và tính chỉnh thể của chúng. Ví dụ, phương đông sinh gió, gió sinh mộc, mộc sinh vị chua, vị chua sinh gan, gan sinh gân, rồi sinh tim, và gan chủ về mắt. Ở trên trời là huyền, ở người là đạo, ở đất là hóa. Hóa sinh ngũ vị, đạo sinh trí, huyền sinh thần. Thần ở trời là gió, ở đất là gỗ, ở thân thể là gân, ở khí là mềm mại, ở tạng là gan. Tính là ấm áp, đức là hòa, dụng là động, sắc là xanh, hóa là sinh trưởng, loài là loài có lông, chính lệnh là tán ra, biến là nhổ bật, tai là gãy đổ, vị là chua, chí là giận.

Đoạn văn còn nói giận thì hại gan, buồn thắng giận, gió hại gân, khô thắng gió, chua hại gân, vị cay thắng vị chua. Tác giả nhận xét rằng đó là phân tích có hệ thống về quan hệ khí hóa giữa trời, đất và người thông qua âm dương ngũ hành và lục khí, phản ánh quy luật chỉnh thể của khí hóa thiên nhiên.

Điểm thứ ba: cơ chế tự cân bằng của thiên nhiên

Thứ ba, lý luận ngũ vận thông qua các quy luật kháng, hại, thừa, chế và thắng, phục giữa ngũ vận và lục khí mà phản ánh cơ chế tự cân bằng của khí hóa tự nhiên. Tố vấn nói rằng chính đạo của ngũ vận như cán cân, kẻ cao thì đè xuống, kẻ thấp thì nâng lên, hóa thì ứng, biến thì đáp lại, đó là lẽ sinh, trưởng, thu, tàng của khí. Mất lẽ thường thì trời đất bế tắc, điều xấu nảy sinh.

Sách còn mô tả: dưới tướng hỏa có khí thủy nối theo, dưới thủy có khí thổ nối theo, dưới thổ có khí phong nối theo, dưới phong có khí kim nối theo, dưới kim có khí hỏa nối theo, dưới quân hỏa có khí âm tinh nối theo. Theo tác giả, các đoạn ấy phản ánh đầy đủ cơ chế tự ổn định, tự điều tiết giữa ngũ vận, thể hiện thế cân bằng động của khí hóa tự nhiên. Ngũ vận lục khí qua thắng, phục rồi lại phát, tiến hành kháng, hại, thừa, chế đối với lục khí từng năm, cho thấy quy luật tự điều chỉnh: lấn quá thì hại, thừa thì chế, chế thì mới sinh hóa. Từ lý luận ngũ hành đến ngũ vận, ông kết luận, là sự thăng hoa của khí hóa âm dương ngũ hành, bộc lộ đóng góp lớn của Hoàng đế nội kinh.

Khí hóa âm dương: nơi lý luận âm dương có sức sống bền

Một nét liền và một nét đứt chỉ là hai vạch, nhưng khi chúng chồng lên nhau thì bốn mùa bắt đầu xoay.

Ngay khi âm dương vừa ra đời đã mang hàm nghĩa khí hóa, chỉ khác nhau ở mức độ. Tác giả cho rằng sức sống của lý luận âm dương lớn như vậy là nhờ bao hàm nhân tố khí hóa, và âm dương khí hóa đã qua vài giai đoạn phát triển quan trọng.

Thành tựu khí hóa trong bát quái của Kinh Dịch

Bát quái được dựng từ hào âm và hào dương. Một hào đơn lẻ chưa cho thấy sự thịnh suy, nhưng đã đại diện cho khí âm hoặc khí dương. Khi các hào kết thành quẻ thì đã mang hàm nghĩa khí hóa. Khí hóa, theo tác giả, là tác dụng qua lại giữa khí âm và khí dương, và sự thịnh suy, tăng giảm, chuyển hóa giữa chúng là dấu hiệu của khí hóa âm dương. Quẻ đơn, tám quẻ và sáu mươi bốn quẻ đều dùng sự tổ hợp biến hóa của hào âm dương để phản ánh khí hóa.

Đặc biệt mười hai quẻ tiêu tức phản ánh tinh tế quy luật chuyển hóa thịnh suy, tăng giảm của âm dương trong bốn mùa. Quẻ Càn từ hào sơ cửu đến thượng cửu, từ rồng ẩn đến rồng cao quá mức, phản ánh quá trình thịnh suy của dương khí trời. Quẻ Khôn với lời giẫm sương rồi băng cứng sắp tới thể hiện quá trình tăng giảm của âm khí đất. Tượng truyện của Càn có câu dương khí còn ở dưới, và hào sơ của Khôn có câu nói sương lạnh là lúc âm bắt đầu ngưng tụ.

Tác giả thấy mười hai quẻ tiêu tức, dùng chính hào âm hào dương để vẽ ra quy luật khí hóa, mức độ tinh tế khiến người ta khâm phục. Nhìn bằng quan điểm duy vật lịch sử, thời Kinh Dịch đã đạt thành tựu huy hoàng trong việc công bố quy luật khí hóa. Thành tựu ấy cũng chính là việc nối âm dương với khí hậu bốn mùa của tự nhiên, đặt nền vật chất cho khí hóa âm dương, khiến lý luận âm dương có sức sống không phai.

Dịch truyện nâng khí hóa lên một tầng cao

Dịch truyện nối trực tiếp âm dương với khí trời bốn mùa, đẩy khí hóa lên một mức mới. Văn ngôn nói rồng ẩn đừng dùng vì dương khí còn tiềm tàng. Hệ từ nói đạo rộng lớn xứng với trời đất, biến thông xứng với bốn mùa, nghĩa của âm dương xứng với mặt trời mặt trăng. Dịch truyện ghép trời đất, nhật nguyệt, càn khôn, động tĩnh, cương nhu, nam nữ để chỉ mối tương quan khí hóa giữa trời, đất và người, như đoạn nổi tiếng:

Thiên tôn địa ti, càn khôn định hĩ. Động tĩnh hữu thường, cương nhu đoán hĩ.

Cương nhu tương ma, bát quái tương đãng. Nhật nguyệt vận hành, nhất hàn nhất thử.

Càn đạo thành nam, khôn đạo thành nữ. Càn tri thái thủy, khôn tác thành vật.

Điều Dịch truyện làm nổi lên là khí hóa âm dương không chỉ là một chỉnh thể liên hệ nhau mà còn là hiện tượng đang phát triển. Hệ từ có câu nói ngày mới mỗi ngày là đức thịnh, và câu nói sinh sinh gọi là Dịch. Ngày mới nghĩa là mặt trời mỗi ngày đều mới, chỉ ra rằng khí hóa âm dương biến hóa theo sự vận chuyển. Sinh sinh nghĩa là âm dương không ngừng tác động qua lại, không ngừng nảy ra cái mới. Câu âm dương không thể đo lường gọi là thần cho thấy khí hóa là động, không phải đứng yên. Tác giả nhấn mạnh sự phát triển của vật nằm ở sự biến đổi liên tục, không biến đổi tức là không phát triển, như câu cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu bền. Ông nhận xét Dịch truyện đã dùng quan điểm phát triển và quan điểm chỉnh thể để giải thích sự vận động khí hóa của âm dương, đặt nền lý luận cho thuyết khí hóa.

Đóng, mở và nhịp lên xuống của khí

Dịch truyện còn đưa ra lý luận hạp và tịch, tức khép và mở, mở đầu cho lý luận thăng giáng xuất nhập của khí cơ. Có thăng thì phải có giáng, có ra thì phải có vào, ra vào cũng là khai và hợp, và đó là đầu mối để phân tích sự lên xuống. Khí giao là hình thức chủ yếu của khí hóa trời đất: khí trời giáng xuống, khí đất dâng lên, âm dương trời đất giao nhau thì khí hóa mới nảy sinh. Vì vậy Kinh Dịch dùng quẻ Thái để chỉ sự giao thái của trời đất, và Thoán truyện quẻ Quy Muội nói trời đất không giao thì muôn vật không hưng. Từ đó Hệ từ có câu:

Cố hạp hộ vị chi khôn, tịch hộ vị chi càn, nhất hạp nhất tịch vị chi biến.

Dịch truyện lấy càn khôn làm cửa trời, cửa đất, đại diện cho quy luật ra vào tăng giảm của âm dương. Mở cửa trời nghĩa là âm vào dương ra, ngày dần dài, đêm dần ngắn, khí hậu từ lạnh ấm lên. Mở cửa đất nghĩa là dương vào âm ra, ngày dần ngắn, đêm dần dài, khí hậu từ ấm nóng sang giá lạnh. Sự đóng mở của cửa trời và cửa đất tượng trưng cho sự giao khí, là đầu mối của khí hóa âm dương. Lý luận này đặt nền móng cho lý luận xuất nhập thăng giáng của đời sau.

Hoàng đế nội kinh phát triển tiếp một cách sáng tạo sự vận động càn khôn khí giao và gắn nó với y học, góp phần hoàn thiện lý luận ấy. Sách nhấn mạnh hình thức vận động thăng giáng xuất nhập có mặt ở khắp nơi, không khí nào mà không có, không vật nào không ra vào, không vật nào không lên xuống. Rồi nêu quan hệ của nó với sinh mạng: nếu ra vào bị bỏ thì thần cơ diệt, nếu lên xuống dứt thì khí đứng một mình nguy hiểm. Không có ra vào thì không có sinh, trưởng, tráng, lão, dứt. Không có lên xuống thì không có sinh, trưởng, hóa, thu, tàng. Tác giả cho thấy thăng giáng xuất nhập chính là duy trì thế cân bằng động của cơ thể, mà nội dung chủ yếu là thăng dương giáng âm, từ đó đặt cơ sở cho học thuyết thăng giáng của Đông y.

Cuối cùng ông nhắc rằng về ý nghĩa lịch sử của khí hóa âm dương thái cực trong Dịch truyện, người đọc có thể xem ở chương năm của sách, nơi bàn về văn hóa thái cực. Và ông kết lại rằng văn hóa âm dương là nguồn gốc chung của văn hóa truyền thống Trung Hoa, với ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của nó.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện