Bài tổng quan
Bói toán, tô-tem và Chu Dịch trong nguồn gốc của âm dương
Mai rùa nứt ra thì chỉ có hai câu trả lời, thuận hoặc nghịch, chẵn hoặc lẻ. Từ chính chỗ hẹp ấy, theo một cách đọc, người xưa đã nhìn ra hai nét hào liền và đứt, rồi cả một nền triết học đặt trên đó...
Bói toán và cặp chẵn lẻ: một nguồn gốc khác của âm dương
Khi một câu trả lời của người bói chỉ có thể là "thuận" hay "nghịch", cả một cách nghĩ về hai mặt đối lập bắt đầu hình thành.
Tác giả nói hiện tượng văn hóa sớm nhất của Trung Quốc là văn hóa bói cỏ thi, và chữ giáp cốt là loại chữ dùng để bói toán sớm nhất được phát hiện. Kinh Dịch là cuốn sách ghi lại quan tượng thời đó bằng hình thức bói toán. Vì bói toán và tiên đoán là công việc hệ trọng nhất trong triều chính thời cổ, nên trước lễ mừng, lễ xuất binh, tế tự, đi săn, thu hoạch, đóng quân, nhà nước đều phải bói trước, và những người phụ trách bói đều là quan lại cầm quyền. Do giới hạn của khoa học thời ấy, người xưa chỉ còn cách quan sát tỉ mỉ các hiện tượng thiên nhiên, rồi trên cơ sở đó tiến hành bói.
Trong quá trình bói, kết quả thường chỉ là thuận hoặc nghịch, số chẵn hoặc số lẻ, nên người xưa có quan niệm sâu sắc về thuận nghịch, chẵn lẻ. Mới đầu họ khắc chữ lên mai rùa và xương để bói, về sau phát triển thành dùng thân cỏ, tức bói cỏ thi như Kinh Dịch gọi, và quá trình ấy là sự suy diễn thuật bói từ quan sát thuận nghịch đến thuật số chẵn lẻ. Ông chia cách bói của người xưa làm hai loại. Bói chữ giáp cốt, chữ trên mai rùa dựa vào "tượng", còn bói cỏ thi dựa vào "số", đặc biệt là số chẵn và số lẻ, như câu nói mai rùa bói nét, thân cỏ bói số.
Vì việc bói do số quyết định, đặc biệt là chẵn lẻ, nên trong Kinh Dịch việc gieo quẻ và biến quẻ đều liên quan đến chẵn lẻ. Khi bói bát quái, nét hào âm dương được quy định bởi số chẵn lẻ: kết quả lẻ là hào dương, kết quả chẵn là hào âm. Nếu xét theo biến quẻ thì các số lẻ chín và bảy thuộc dương, gồm lão dương và thiếu dương, còn các số chẵn tám và sáu thuộc âm, gồm thiếu âm và lão âm. Ông cho rằng tất cả điều đó nói lên quan hệ phụ thuộc giữa số lẻ và số chẵn, giữa âm và dương.
Từ quan hệ ấy, ông nói dễ thấy việc bói toán của người xưa có thể là một trong những nhân tố tạo nên nét hào âm, dương trong bát quái. Khi phương pháp bói cổ phát triển thành việc dùng nét hào âm dương tượng trưng cho số chẵn và số lẻ, cũng là lúc khái niệm bát quái ra đời. Vì thế bát quái có thể là một loại ký hiệu của các viên quan trông coi việc bói dùng để ghi kết quả âm dương. Sự biến hóa giữa hào âm và hào dương là biểu hiện rõ nhất quy luật vận động của âm dương, và cũng có thể là sự suy diễn của hai kết quả thuận nghịch khi bói. Do vậy theo ông, văn hóa bói toán có quan hệ khá quan trọng với sự ra đời của quan niệm bát quái và âm dương, và là một trong những nguồn gốc cơ bản của văn hóa âm dương.
Tín ngưỡng tô-tem và hình ảnh hai giới trong âm dương
Có một thứ cũng sinh ra từ nỗi mong cho dòng họ đông thêm, và nó chạm vào ý niệm âm dương một cách rất tự nhiên.
Tô-tem nghĩa là thân tộc của ta. Người xưa quan niệm con người có quan hệ nòi giống đặc biệt với một số loài động thực vật hay hiện tượng tự nhiên, nên sinh ra hiện tượng sùng bái thị tộc. Tín ngưỡng tô-tem là hình thái tâm lý tôn kính của người xưa với hiện tượng tự nhiên. Mới đầu là sùng bái thiên tượng gồm mặt trời, mặt trăng, sao, sông biển, núi rừng, đặc biệt sùng bái mặt trời là phổ biến nhất. Về sau phát triển thành sùng bái các con vật như cá, rồng, rùa, ngựa, dê, bò, hổ, gấu, và sùng bái cây cỏ.
Ông nói trong tín ngưỡng ấy con người không chỉ quan tâm quan hệ giữa giống đực và giống cái, giữa nam và nữ, giữa cha và mẹ với hình tượng âm dương, mà đặc biệt là tín ngưỡng tôn sùng cơ quan sinh sản đã gợi cho con người liên tưởng đến quan niệm âm dương. Biểu hiện nổi bật nhất thời xưa là bức vẽ cảnh Phục Hy và Nữ Oa giao đuôi, tượng trưng cho sự ra đời của con cháu Viêm Hoàng. Từ xưa, trong xã hội thị tộc mẫu hệ nguyên thủy, người phụ nữ rất được tôn thờ. Hình ảnh Nữ Oa vá trời là biểu tượng cho sự tôn thờ tuyệt đối người phụ nữ ấy. Trên đồ gốm ở di chỉ Bán Pha thuộc Ngưỡng Thiều ở Tây An, niên đại cách nay sáu nghìn năm, cũng đã xuất hiện hình hai con cá ghép lại mô phỏng cơ quan sinh sản của người phụ nữ.
Đến hậu kỳ văn hóa Bán Pha, theo xã hội đổi thay, xã hội thị tộc phụ hệ dần chiếm ưu thế. Việc sùng bái cơ quan sinh sản nữ chuyển dần sang nam, và các hình tượng trưng xuất hiện ngày càng nhiều. Ông nhận xét tín ngưỡng ấy ảnh hưởng rất lớn đến nhân loại, lại mang tính thần bí tôn giáo. Truyền thuyết về A-đam và E-va bị đày xuống trần, chuyện Phục Hy và Nữ Oa giao hòa thành tổ tiên con cháu Hoa Hạ Viêm Hoàng, khóm sen tượng trưng cho tử cung ở Ấn Độ, chim ưng ở Ai Cập và rùa ở Ấn Độ tượng trưng cho cơ quan sinh sản nam đều là những ví dụ phổ biến. Chuyện nàng Giản Địch nuốt trứng chim mà sinh ông Tiết, câu chuyện trời sai chim đen xuống mà sinh nhà Thương, cũng nói lên rằng cơ quan sinh sản nam như ở chim đen là tượng trưng cho tín ngưỡng của người Thương.
Từ thực tế sùng bái ấy, ông thấy việc sinh nở là việc của con đực và con cái, giữa nam và nữ, cha và mẹ, vốn thuộc dương và âm, nên từ hai loại giới tính phát triển thành quan niệm âm dương là hoàn toàn có thể. Vì thế các học giả khi bàn về sự xuất hiện của bát quái cho rằng hào âm đứt nét và hào dương liền nét có thể liên quan đến tín ngưỡng phồn thực. Ông dẫn Quách Mạt Nhược cho rằng rất có thể bát quái là sản phẩm của việc tôn sùng cơ quan sinh sản thời cổ, với lời của ông Quách rằng nguồn gốc bát quái là kết quả của tín ngưỡng phồn thực, nét thứ nhất tượng trưng cho cơ quan sinh sản nam, bẻ đôi thành cơ quan nữ, từ đó suy ra các khái niệm nam nữ, cha mẹ, âm dương, cương nhu, trời đất. Văn Nhất Đa còn cho rằng các ký hiệu trong bát quái chính là thể hiện sự giao hòa. Theo tác giả, bát quái khái quát quan niệm nam nữ, đực cái, cha mẹ qua hai loại ký hiệu hào âm và hào dương, nên hoàn toàn có thể phát triển thành sự tổng kết về quan hệ tương hỗ giữa âm và dương. Tín ngưỡng tô-tem, đặc biệt là tín ngưỡng phồn thực, vì vậy chỉ ra thêm một lý do cho sự ra đời của âm dương bát quái.
Ông tóm lại rằng nguồn gốc của âm dương liên quan mật thiết với bát quái được tạo bởi những nét hào âm dương, vốn là ký hiệu đặc thù tượng trưng cho quan hệ tương hỗ giữa hai mặt đối lập. Nguồn gốc bát quái thực chất cũng là nguồn gốc làm xuất hiện âm dương. Hai bên phát triển theo quan hệ nhân quả: âm dương xuất hiện thúc đẩy bát quái, bát quái xuất hiện đẩy nhanh âm dương, và bát quái phát triển kéo theo sự suy diễn của lý luận âm dương. Từ khi có bát quái, Chu Dịch cùng văn hóa âm dương kết thành một mối liên hệ không thể tách rời.
Quan niệm âm dương bắt nguồn từ Chu Dịch
Trong Kinh Dịch, chữ "âm dương" không được nói thẳng, nhưng ý của nó nằm ở khắp nơi.
Ở phần bàn về ảnh hưởng của Chu Dịch với lý luận âm dương, tác giả nêu ba lý do cho thấy quan niệm âm dương bắt nguồn từ Kinh Dịch. Thứ nhất, nét hào âm và dương trong Kinh Dịch tuy không trực tiếp nhắc hai chữ âm dương, nhưng kết hợp với hào từ, quái từ thì ý nghĩa ẩn đã rõ. Chẳng hạn quẻ Càn gồm sáu nét hào dương dùng đặc tính dương cương của loài rồng, qua các giai đoạn tiềm, tại, dược, phi, kháng, để thể hiện chất dương từ cực suy đến cực thịnh. Quẻ Khôn gồm sáu nét hào âm lấy hình tượng ngựa cái thể hiện chất âm nhu, và câu giẫm lên sương thì băng cứng sắp đến thể hiện chất âm từ yếu đến mạnh, phản ánh quy luật thịnh suy của âm dương.
Thứ hai, các quẻ phản ánh quan hệ đối ứng của âm dương. Một quẻ luôn là sự kết hợp đối ứng của các nét hào âm dương, phản ánh quan hệ giữa quẻ nội và quẻ ngoại. Ví dụ trong quẻ Hàm, hào một với hào bốn, hào hai với hào năm, hào ba với hào trên cùng đều có quan hệ đối ứng giữa dương và âm, mà Kinh Dịch gọi là "tỷ", "ứng". Dịch truyện nói quẻ Hàm có nghĩa là cảm ứng, nhu ở trên mà cương ở dưới, hai khí cảm ứng với nhau, là cảm ứng của trời đất mà sinh ra vạn vật. Ông cũng nhắc Càn và Khôn, Chấn và Tốn, Khảm và Ly, Cấn và Đoài đối xứng nhau, và trong sáu mươi bốn quẻ đều có sự kết hợp đối xứng giữa hào âm và hào dương. Quẻ Khôn ba hào âm hợp với quẻ Càn ba hào dương tạo ra quẻ Thái, tượng trưng cho quan hệ đối xứng giữa trời đất. Quẻ Ly thuộc hỏa hợp với quẻ Khảm thuộc thủy tạo ra quẻ Ký Tế, tượng trưng cho âm dương thủy hỏa đối ứng. Quan hệ đối xứng ấy theo ông có ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm cảm ứng của đời sau.
Thứ ba, sáu mươi bốn quẻ chứa quy luật vận động chuyển hóa thịnh suy của âm dương. Sáu vòng tròn trong hình đồ sáu mươi bốn quẻ gồm ba trăm tám mươi bốn nét hào, mỗi vòng đều có hai nửa hào âm dương, từ trong ra ngoài cho thấy sự cân bằng ổn định. Sự vận động lên xuống của các nét hào cho thấy quan hệ chuyển hóa thịnh suy giữa âm và dương. Đồ Thái cực và Hà đồ Lạc thư cũng phản ánh quy luật ấy: Thái cực đồ là hình ảnh thu nhỏ của chuyển hóa thịnh suy âm dương, còn Hà đồ Lạc thư là điển hình của quy luật vận động âm dương thể hiện bằng con số.
Dịch truyện đẩy nguyên lý âm dương đi xa hơn
Nếu Kinh Dịch gieo hạt thì Dịch truyện là người đã chăm cho hạt ấy thành cây.
Về Dịch truyện, ông chia ba điểm. Điểm thứ nhất là đưa ra trạng thái nguyên khí ban đầu như một trạng thái âm dương tương trợ. Hệ từ cho rằng trạng thái hư nguyên thủy nhất là trạng thái nguyên khí giao hòa, như câu trích trời đất giao hòa là gốc của mọi sự hóa sinh của vạn vật. Vương Thuyền Sơn, nhà triết học đời sau, đã phát triển điểm này khi coi khí giao hòa ấy là khí nguyên thể của vũ trụ. Theo ông, khí giao hòa trong Dịch truyện tức là hợp khí của trời đất, chứa nguyên lý sớm nhất về âm dương tương hỗ, và Dịch truyện tiếp theo viết rằng nam nữ hợp tinh thì sinh vạn vật, đạo Càn là nam, đạo Khôn là nữ, Càn là sự khởi đầu, Khôn hóa thành muôn vật. Điều đó cho thấy khí giao hòa không đơn lẻ mà là sự tác động tương hỗ của âm dương, giống sự giao hòa giữa nam và nữ. Dịch truyện dùng hình ảnh nam nữ giao hòa để minh họa nguyên lý ấy, và hình thành lý luận rằng trạng thái nguyên thủy của khí có thể tồn tại được là nhờ tác động tương hỗ âm dương.
Điểm thứ hai là Dịch truyện thể hiện rõ hơn quy luật thống nhất trong đối lập của tác động âm dương tương hỗ. Theo tác giả, đó là thành tựu rực rỡ nhất của Dịch truyện, đã đóng góp lớn cho phương pháp tư duy biện chứng của Trung Quốc cổ. Câu một âm một dương gọi là đạo nói lên quy luật ấy, và ông gọi đây là mệnh đề triết học kiệt xuất nhất của Dịch truyện. Qua quan hệ tương hỗ giữa hai phạm trù đối lập, nó cho thấy sự thống nhất trong đối lập của vạn vật, đặt nền móng cho tư duy biện chứng cổ. Dịch truyện còn nói quy luật tác động tương hỗ ấy thay đổi khó lường, như câu âm dương biến hóa thần diệu, và câu Dịch có Thái cực, Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Qua tiến trình từ Thái cực đến bát quái, nó nói lên mối quan hệ giữa sự sinh thành của vạn vật và tác động tương hỗ của âm dương.
Điểm thứ ba là Dịch truyện suy diễn rộng hơn cặp phạm trù âm dương. Từ nét hào âm và dương trong Kinh Dịch, đến Dịch truyện, từ Thoán truyện đến Hệ từ, tất cả đều là sự kết tinh của quy luật thống nhất hai mặt đối lập. Trong đó có nhất âm nhất dương, gồm Càn Khôn trời đất, nhật nguyệt hàn thử, động tĩnh đóng mở, cương nhu nam nữ. Ông trích những câu như đạo Càn thuộc nam, đạo Khôn thuộc nữ, một đóng một mở gọi là biến, cương nhu tương tác sinh biến hóa, nhật nguyệt hợp nhau mà có sáng, hàn thử giao nhau mà nên năm tháng, nam nữ hợp tinh mà tạo nòi giống. Không chỉ Hệ từ mà bản thân bát quái cũng chứa quy luật thống nhất hai mặt đối lập, như thủy hỏa, sấm gió, trời đất, mà Dịch truyện nói thủy hỏa tác động nhau, sấm gió cùng nhau nổi dậy, núi đầm thông khí, rồi sau đó mới có thể biến hóa mà sinh ra vạn vật.
Trong sáu mươi bốn quẻ, quẻ nào cũng bao hàm nội dung đối lập âm dương. Rồng thuộc dương với ngựa cái thuộc âm, rùa với hổ dữ, quân tử với tiểu nhân, cát và hung, ông già với vợ lẽ, tất cả phản ánh sự đối lập mâu thuẫn do cặp phạm trù âm dương, quy luật phổ biến của vạn vật, tồn tại trong bản thân mọi sự vật và hiện tượng. Theo tác giả, Chu Dịch đã thấy và phát triển quy luật này, cho thấy thành tựu kiệt xuất của phương pháp tư duy biện chứng cổ đại Trung Quốc.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
