Bài tổng quan
Động tĩnh, cương nhu và hư thực: ba mặt của âm dương
Người xưa nói thế cân bằng thật sự không phải một chiếc cân đứng yên, mà là con thuyền luôn chao nhẹ để khỏi đắm. Từ đó họ đọc ra cả chuyện trăng tròn trăng khuyết, huyết khí trong người và những điều chưa kịp lộ ra...
Động tĩnh: cái gốc của sự chuyển hóa âm dương
Mặt trời không đứng yên, trăng không đứng yên, và âm dương cũng chẳng bao giờ ngồi yên một chỗ.
Tác giả nêu nguyên lý động tĩnh như một nội dung quan trọng của nguyên lý âm dương trong Kinh Dịch. Điều đầu tiên ông khẳng định là sự vận động của âm dương bắt nguồn từ sự vận động của mặt trời và mặt trăng trong vũ trụ. Kinh Dịch lấy trời đất làm mực thước, và nghĩa của âm dương ứng với nhật nguyệt. Câu trong Hệ từ nói rộng lớn thì sánh với trời đất, biến thông thì sánh với bốn mùa, nghĩa của âm dương thì sánh với mặt trời mặt trăng, cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa âm dương và sự vận động của hai tinh cầu ấy.
Ông giải thích rằng sự biến hóa của âm dương gắn chặt với trời, đất, mặt trời, mặt trăng. Sự vận động của các thiên thể trong vũ trụ là căn bản của sự vận động chuyển hóa âm dương, và đó cũng là cơ sở vật chất cho quan niệm về chuyển hóa. Thiên Ngũ vận hành đại luận trong Hoàng đế nội kinh ví như gốc rễ với cành lá, tức không có sự vận động nào không có nguyên cớ, không có cái tĩnh nào không có nguyên do. Tĩnh động có nguồn từ vũ trụ, âm dương có nguồn từ động tĩnh. Cách nói động mà sinh dương, tĩnh mà sinh âm chính là lời của Chu Đôn Di trong Thái cực đồ thuyết, và Trương Tải cũng nói động tĩnh chính là động tĩnh của âm dương.
Động và tĩnh chứa nhau
Hệ từ có câu động tĩnh hàm chứa lẫn nhau mà sinh ra biến hóa. Tác giả cho đó là một đánh giá rất tinh túy về nguyên lý âm dương. Động và tĩnh là một cặp mâu thuẫn mà thống nhất, có một thế giới riêng bên trong âm dương. Nhờ động tĩnh chứa nhau mà âm dương sinh ra biến hóa, và duy trì được thế cân bằng động giữa hai bên. Quan niệm này chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa động và tĩnh: trong động có tĩnh, trong tĩnh có động. Chỉ có tĩnh mà không có động, hoặc chỉ có động mà không có tĩnh, thì biến hóa không xảy ra.
Ông nói động là vĩnh hằng, tuyệt đối. Tĩnh là tương đối, tạm thời. Điểm mấu chốt của hoạt động chuyển hóa nằm ở sự vận động, không phải ở cái tĩnh ngừng nghỉ. Vì vậy chỉ có thể nói rằng sự vận động của vũ trụ sinh ra sự chuyển hóa âm dương, sự chuyển hóa ấy sinh ra sinh mệnh, và sinh mệnh tồn tại nhờ vận động. Sinh mệnh có bao gồm cả lúc nghỉ ngơi, nhưng không thể nói sinh mệnh tồn tại là nhờ nghỉ ngơi. Kinh Dịch nhấn mạnh sự vận hành không ngừng của Càn, tức động là mặt chủ yếu của mâu thuẫn. Dựa trên đó, thiên Lục vi chỉ đại luận trong Hoàng đế nội kinh đưa ra suy luận rằng thành hay bại, nương nhau hay ẩn náu, đều dựa ở sự vận động. Ý là sự phát triển của vật, thành hay bại, do sự vận động trong các mâu thuẫn của chính nó. Cái động bên trong là căn cứ chủ yếu cho sự biến hóa. Trương Tải đời Bắc Tống trong Chính mông, thiên Tham lưỡng, nói rằng phàm vật chuyển động thì sự động ấy phải có cơ, cơ ấy gọi là cơ nguyên, và động không đến từ bên ngoài. Tóm lại, theo ông, câu động tĩnh hàm chứa nhau mà sinh biến hóa trong Kinh Dịch đã phát triển thêm phần động của sự vật, chỉ ra vai trò chủ đạo của động trong quá trình vận động.
Cân bằng động, không phải cân bằng chết
Động và tĩnh còn quy định nhau: lấy tĩnh để chế động, lấy động để chế tĩnh. Mục đích của sự chế ước ấy là giữ một thế cân bằng tương đối. Cân bằng là sự thống nhất tương đối và tạm thời giữa động và tĩnh, còn không cân bằng mới là tuyệt đối. Vì vậy chỉ khi không ngừng vận động, sự vật mới sinh ra biến hóa, tức không ngừng phá vỡ cân bằng cũ thì sự vật mới có phát triển mới. Điều này khẳng định động là mặt chủ yếu của mâu thuẫn. Vương Phu Chi, nhà Dịch học nổi tiếng đời Thanh, nói động là then chốt của đạo, tức động là trung tâm của sự vận động âm dương, còn cái then chốt để giữ thế cân bằng vận động của âm dương chính là động, không phải tĩnh. Tĩnh chỉ là một hình thức biểu hiện khác của động.
Từ đó tác giả nói rằng cân bằng âm dương là cân bằng động thái, không phải cân bằng tĩnh thái. Cân bằng động thái ấp ủ mầm sống, còn cân bằng tĩnh thái là cách gọi khác của cái chết và sự diệt vong. Hình vẽ thái cực là tượng trưng tiêu biểu nhất của cân bằng động thái. Vòng tròn thái cực được chia làm hai phần bằng một đường cong uốn lượn, chứ không phải một đường kính thẳng của hình tròn. Điều ấy nói lên rằng âm dương có mòn có sinh, là cân bằng động thái, không phải chia đều hay cân bằng tĩnh thái. Cân bằng thể hiện ở sáu mươi bốn quẻ, ở tám quẻ do hào âm hào dương tạo thành, cũng là cân bằng động thái. Mười hai quẻ tiêu tức là những cột mốc ghi nhận cân bằng động của âm dương. Hà đồ Lạc thư làm từ các con số cũng là sự cân bằng đan xen trên dưới, trái phải. Như vậy hình thái cực, bát quái, Hà Lạc là hình ảnh thu nhỏ của mối quan hệ cân bằng giữa các sự vật và hiện tượng. Tác giả kết rằng câu động tĩnh hàm chứa nhau mà biến hóa là sợi chỉ xuyên suốt quan niệm về vận động trong Dịch học.
Cương nhu: hình thể và tính khí của âm dương
Trời mạnh mà đất mềm, nhưng trong người lại có cả hai thứ ấy quyện lấy nhau.
Cương và nhu là hai khái niệm quan trọng trong lý luận âm dương của Kinh Dịch. Tạp quái truyện nói Càn cứng Khôn mềm. Hệ từ nói âm dương hợp đức mà cương nhu có thể. Luận điểm này cho thấy cương nhu là hình thể của âm dương: cương là dương, nhu là âm. Cương nhu chính là tượng của sự tiêu trưởng âm dương, quy luật thông thường của động tĩnh. Dương thịnh thì cương, âm thịnh thì nhu, nên cương nhu là tượng của âm dương. Hệ từ nói cương nhu là tượng của ngày đêm, và là tác dụng của âm dương. Vì thế cứng mềm đẩy nhau mà sinh biến hóa, cứng mềm mài nhau, tám quẻ luân phiên nối tiếp nhau. Tác dụng của âm dương hiện ra qua động tĩnh: cương thì động, nhu thì tĩnh, như câu động tĩnh có thường thì cứng mềm phân biệt.
Tác giả nói dương cương âm nhu là đặc trưng quan trọng của âm dương, ảnh hưởng vô cùng lớn đến văn hóa Trung Hoa. Nó không chỉ tác động đến phong thái tinh thần của dân tộc mà còn có vai trò không thể phủ nhận trong mỹ học, văn học và nghệ thuật. Cương nhu cùng âm dương hình thành hạt nhân của Dịch lý. Thuyết quái truyện nói lập đạo trời gọi là âm với dương, lập đạo đất gọi là nhu với cương, lập đạo người gọi là nhân với nghĩa. Cũng sách ấy nói phân âm phân dương, luân phiên dùng nhu cương, nên Dịch sáu ngôi mà thành chương.
Cương nhu giúp nhau
Cương nhu là một thể thống nhất của các mâu thuẫn trong phạm trù âm dương, vừa đối lập vừa thống nhất, thường là sang nhau, trên dưới hợp lại. Thoán truyện quẻ Bĩ nói trong âm mà ngoài dương, trong nhu mà ngoài cương. Hệ từ nói trên dưới không thường, cương nhu gặp nhau. Vương Bật nói cương nhu hợp thể, nghĩa là cương nhu không tồn tại cô lập mà nương nhau qua lại. Thoán truyện quẻ Truân có câu cương nhu mới giao nhau mà nạn sinh.
Ký tế của cương nhu trong Kinh Dịch, theo tác giả, gồm việc nước và lửa giao nhau, và việc điều hòa khô ráo với ẩm ướt, nhằm mục đích hòa hợp âm dương. Lý luận ấy phản ánh đầy đủ trong bát quái: quẻ Khảm và quẻ Ly là nước lửa giao nhau, quẻ Càn và quẻ Khôn là trời đất hợp nhau, quẻ Tốn và quẻ Đoài là điều hòa khô ráo ẩm ướt, quẻ Chấn và quẻ Cấn là cương nhu giúp nhau. Âm dương qua sự khái quát cương nhu mà điều hòa và cân bằng. Như Thoán truyện quẻ Hằng viết sấm gió cùng tác động, dịu dàng mà động, cương nhu đều ứng.
Cương kiện, nhu thuận
Văn ngôn nói cương kiện trung chính, và nói Khôn rất nhu mà động thì cương, đạo của Khôn là thuận. Nghĩa là cứng thì mạnh, mềm thì thuận. Chu Dịch lấy cương kiện nhu thuận làm đặc tính chủ yếu của âm dương cương nhu. Thoán truyện của Kinh Dịch nêu bật quan hệ tương hỗ giữa cương và nhu, như câu ở quẻ Thái trong dương mà ngoài âm, trong mạnh mà ngoài thuận. Tác giả nhấn mạnh lý luận này cũng thể hiện tư tưởng coi trọng dương và tôn sùng cái kiện, trong quan hệ cương nhu vốn lấy dương cương làm chủ đạo. Những câu như mềm thì thuận theo cứng ở quẻ Tốn, hay cứng quyết đoán mềm ở quẻ Quải, đều theo hướng ấy.
Dịch truyện còn đưa lý luận âm dương từ vật lý sang luân lý, đẩy lý luận cương nhu lên một bước mới. Cụ thể là lấy dương cứng âm mềm, kết hợp với mạnh và thuận, thành tiêu chí cho luân lý về khí chất con người. Từ đó hun đúc khí chất tinh thần và phong thái luân lý của dân tộc Trung Hoa. Đóng góp này làm Chu Dịch thăng hoa thành một bộ môn xã hội học có tầm cỡ. Quan niệm ấy thể hiện chủ yếu ở Tượng truyện: Càn tượng trưng cho dương cứng, Khôn tượng trưng cho âm mềm. Tượng truyện của Càn nói trời đi mạnh, người quân tử lấy đó mà tự cường không nghỉ. Thoán truyện của Khôn nói đến thay Khôn nguyên, mềm thuận lợi về đức trinh. Tượng truyện của Khôn nói người quân tử lấy đức dày mà chở vật. Tác giả cho rằng những lý luận này đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong luân lý văn hóa Trung Hoa suốt mấy nghìn năm. Ba nội dung chính của lý luận cương nhu là dương cứng âm mềm, cương nhu giúp nhau và cương kiện nhu thuận, có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận âm dương, qua đó phản ánh việc điều chỉnh và trung hòa giữa âm và dương.
Hư thực: trong đục, vơi đầy và ẩn hiện
Có chỗ rỗng mới có chỗ đầy, có chỗ giấu mới có chỗ lộ, và hai chỗ ấy luôn đổi vai cho nhau.
Âm dương hư thực là một đặc tính quan trọng của âm dương. Có âm tất có dương, có chính tất có phản, có thực tất có hư, có hiện tất có ẩn, có mở tất có đóng. Đó là quy luật phổ biến của vạn vật trong vũ trụ. Vật cực tất phản cũng là một quy luật phổ biến: dương cực sinh âm, chính cực sinh phản, thực cực sinh hư, hiện cực sinh ẩn. Hư thực, chính phản, ẩn hiện, đóng mở là những mặt đối lập mà thống nhất trong mâu thuẫn của âm dương. Quy luật vận động theo các hướng đối lập trong Chu Dịch phản ánh đúng quy luật ấy. Tác giả bàn ba mặt: trong đục, vơi đầy và ẩn hiện.
Âm dương trong đục
Dương là trong, âm là đục. Dương thanh trong, âm trầm đục. Trong là hư, đục là thực, nên trong đục là một đặc tính của âm dương hư thực. Trời là dương, phía trên là dương, bên ngoài là dương, nên dương trong ở trên trời, phía trên và bên ngoài. Đất là âm, phía dưới là âm, bên trong là âm, nên âm đục ở dưới đất, phía dưới và bên trong. Cái thanh thì sinh tán, tán thì sinh hư. Cái trầm đục thì sinh tụ, tụ thì sinh thực. Vì thế trong đục liên hệ mật thiết với sự phân tán, tích tụ, hư thực của vật chất. Nguyên lý này phát triển mạnh trong y học Trung Hoa: kết hợp nguyên lý trong đục với nguyên lý thăng giáng xuất nhập đã tạo ra lý luận thăng thanh giáng trọc, cái trong bay lên, cái đục hạ xuống, rất có ý nghĩa trong lâm sàng.
Âm dương vơi đầy
Đầy thì đặc, vơi thì rỗng. Nguyên lý này liên hệ mật thiết với nguyên lý hư thực. Tác giả nói âm dương hư thực sinh ra từ sự vơi đầy, và vơi đầy sinh ra từ quá trình thịnh suy của âm dương do sự vận động của mặt trời mặt trăng. Hoàng đế nội kinh nêu quan điểm rằng trăng tròn thì huyết thực, trăng khuyết thì huyết hư: khi trăng đầy là lúc khí dương thịnh cần bớt đi, khi trăng khuyết là lúc âm hư cần thêm vào. Tạp quái truyện nói tổn và ích là bắt đầu của thịnh suy. Mục đích của việc thêm bớt là điều tiết thịnh suy vơi đầy của âm dương, như Thoán truyện quẻ Tổn nói bớt cứng thêm mềm là có thời, bớt thêm đầy rỗng đều đi cùng thời. Nghĩa là bớt cái cứng thêm cho cái mềm phải thuận thời mà làm, thời không đáng bớt thêm mà bớt thêm là sai, hoặc bớt hoặc thêm, hoặc đầy hoặc rỗng chỉ là tùy thời. Thêm bớt liên hệ với bốn mùa. Kinh Dịch đặt riêng hai quẻ về tổn và ích, đủ thấy sự coi trọng đến mức nào.
Lý luận tổn ích đã phát triển mạnh trong y học, nhạc luật và số học Trung Hoa. Trong y học, nguyên lý bớt thêm đầy rỗng được ứng dụng trong trị liệu, nghiên cứu sinh lý và điều dưỡng sức khỏe, cho thấy quy luật này giữ vai trò rất quan trọng. Trong nhạc luật, người ta cũng dựa vào trong đục, đầy rỗng để phân biệt dương luật và âm luật.
Âm dương ẩn hiện
Hư sinh ra ẩn, thực sinh ra hiện. Hư thực và ẩn hiện là đặc tính quan trọng của âm dương, và lý luận ấy trong Kinh Dịch rất phong phú. Hào âm nét đứt nghĩa là hư, hào dương nét liền nghĩa là thực. Hai quẻ Ly và Khảm còn gọi là trong Ly rỗng, trong Khảm đặc. Hình con cá đen trắng trong biểu tượng âm dương, các chấm trắng đen trong Hà đồ Lạc thư đều là biểu tượng của đầy và rỗng.
Kinh Dịch khẳng định ẩn hiện có quan hệ mật thiết với sự vận động của thiên thể trong vũ trụ: ngày đêm, sáng tối, sinh tử đều gắn chặt với sự vận động của vũ trụ. Hệ từ nói Dịch lấy trời đất làm mực thước, nên có thể hiểu đạo và trật tự của trời đất, ngẩng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, nên biết cái cớ của sáng tối, quay về nguyên thủy rồi theo đến cuối cùng, nên biết lẽ sống chết. Chu Dịch còn khẳng định sự đóng mở, ra vào của trời đất, tức Càn Khôn, là nguồn gốc sinh ra ẩn hiện, hư thực, như câu đóng cửa gọi là Khôn, mở cửa gọi là Càn, một lần đóng một lần mở gọi là biến. Lại có câu rằng không hình nào trên trời sáng hơn mặt trời mặt trăng, rồi thầm dò chỗ sâu kín, đi vào nơi ẩn khuất, sức vươn đi rất xa. Tác giả cho rằng những điều này cho thấy cơ sở thiên văn của sự sinh ra ẩn hiện, nên quan niệm ẩn hiện của Chu Dịch có tính khoa học.
Về sau quan niệm ẩn hiện phát triển nhiều, như ở góc độ thông tin. Thông tin ẩn hiện là một thể thống nhất của cặp mâu thuẫn. Các hình vẽ của quẻ là sự rút gọn nhất của thông tin, có thể hiện ra thêm nhiều thông tin, nên bát quái, thái cực, Hà Lạc được coi là kho thông tin ẩn, còn quái từ và hào từ là kho thông tin hiện. Nhìn từ toàn bộ thông tin của sự vật, ẩn hiện là một thể thống nhất của các cặp mâu thuẫn. Ý thức là toàn bộ thông tin: có ý thức nổi, tức hiển thức, thì tất có ý thức chìm, tức tiềm thức, có khả năng lặp lại. Theo lý luận toàn bộ thông tin về ý thức, ý thức của mỗi cá thể có thể tái hiện bất cứ một chủng hệ nào và một tầng đoạn nào trong quá trình phát triển ý thức của quần thể. Đó là ý nghĩa quan trọng của tiềm thức, và là giá trị lớn cho việc phát triển tiềm thức.
Nhìn từ quan điểm hệ thống luận, ẩn hiện là một thể thống nhất của cặp mâu thuẫn trong một hệ thống: có hệ thống hiện mở và hệ thống ẩn đóng, gọi là hộp đen. Hệ thống ẩn đóng mở có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển của sự vật, và tiềm thức đóng mở đã mở ra một lĩnh vực mới cho sự phát triển ý thức. Tóm lại, tiềm thức và hiển thức mở ra một viễn cảnh rộng cho việc phát triển trí tuệ và môn dự đoán học. Lý luận ẩn hiện của Chu Dịch đến nay đã được các nhà chiêm bốc, nhà dự đoán và nhà quân sự phát triển thêm rất nhiều. Tác giả kết rằng trong đục, vơi đầy và ẩn hiện hợp lại làm nên âm dương hư thực, phản ánh một đặc tính quan trọng của âm dương, có giá trị rất lớn trong lý luận âm dương.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
