Bài tổng quan
Cộng số âm dương của Bát Tự rồi thu gọn thành hai quẻ đơn
Mười hai con số nằm trong một lá số, nhưng chỉ khi chúng bị bớt đi hai mươi lăm, ba mươi, rồi lại bớt hàng chục, quẻ Dịch mới hiện ra. Và có một con số đứng giữa Lạc Thư không thuộc quẻ nào, buộc phải hỏi đến thời đại người ta chào đời...
Dương nam, Âm nữ: người nam người nữ xếp hàng khác nhau
Khi Bát Tự đã đổi hết ra số Hà Lạc, việc kế tiếp là xếp số Âm với số Âm, số Dương với số Dương để làm hai phép cộng, tìm tổng số Âm và tổng số Dương. Nhưng trước đó phải biết người cần tính thuộc loại nào. Nam mà Can Chi của năm sinh là Âm, như Ất Mão, Quý Tị, là Âm nam. Nam mà Can Chi năm là Dương, như Giáp Dần, Bính Thìn, là Dương nam. Nữ mà Can Chi năm là Âm, như Ất Mão, Đinh Tị, là Âm nữ. Nữ mà Can Chi năm là Dương, như Giáp Dần, Bính Thìn, là Dương nữ.
Từ đó có trật tự sắp hàng: tuổi Dương nam và Âm nữ thì Dương ở trên, Âm ở dưới. Tuổi Âm nam và Dương nữ thì Dương ở dưới, Âm ở trên.
Cộng số: mỗi lá số có đúng mười hai con số
Bốn Can cho bốn số, bốn Chi cho tám số; chỉ cần bỏ sót một con số là cả quẻ đổi khác.
Ví dụ một: Âm nữ, năm Kỷ Sửu
Năm Kỷ: Can Kỷ số 9, Chi Sửu số 5 và 10. Tháng Mậu: Can Mậu số 1, Chi Thìn số 5 và 10. Ngày Quý: Can Quý số 2, Chi Mùi số 5 và 10. Giờ Giáp: Can Giáp số 6, Chi Dần số 3 và 8. Xếp số lẻ vào hàng Dương: 9 + 1 + 5 + 5 + 5 + 3 = 28. Xếp số chẵn vào hàng Âm: 2 + 6 + 10 + 10 + 10 + 8 = 46. Tổng số Dương là 28, tổng số Âm là 46.
Ví dụ hai: Âm nam, năm Đinh Dậu
Năm Đinh: Can Đinh số 7, Chi Dậu số 4 và 9. Tháng Giáp: Can Giáp số 6, Chi Thìn số 5 và 10. Ngày Đinh: Can Đinh số 7, Chi Mão số 3 và 8. Giờ Canh: Can Canh số 3, Chi Tuất số 5 và 10. Hàng Âm: 6 + 4 + 10 + 8 + 10 = 38. Hàng Dương: 7 + 9 + 5 + 7 + 3 + 3 + 5 = 39.
Khi sắp xếp, có thể đọc ngang, đọc xuôi hay ngược tùy ý, miễn là số Âm vào hàng Âm, số Dương vào hàng Dương, và nhớ đếm cả hai hàng với tất cả mười hai con số, đừng bỏ sót con nào vì bốn Can là bốn số, bốn Chi là tám số, cộng lại ra tổng.
Tổng số Dương có thể lẻ hay chẵn, còn tổng số Âm bao giờ cũng chẵn: số lẻ cộng với số lẻ có thể thành chẵn như 1 + 3 = 4, còn số chẵn cộng với số chẵn thì vẫn chẵn như 2 + 4 = 6.
Ba lần chuyển hình, chữ nghĩa vào thay con số
Từ khi lọt lòng mẹ, ngày sinh tháng đẻ đã chuyển ra Bát Tự là một lần. Bát Tự nhờ có trị số của Hà Đồ Lạc Thư nên được kinh tế hóa, chuyển ra tổng số Âm Dương là lần hai. Tổng số ví như người đã giàu có; giàu rồi thì tự nhiên nghĩ đến sang là lẽ thường, cũng phải có danh với núi sông chứ chỉ nhiều tiền lắm của thì chẳng thú. Vì vậy tổng số lại muốn chuyển ra quẻ Dịch để vui cùng chữ nghĩa của Thánh hiền. Đó là lần chuyển thứ ba, khác nào "Vũ Môn tam cấp lãng", vượt qua cửa Vũ Môn, cá hóa rồng.
Biện pháp chuyển hình đòi hỏi nhiều đợt kế toán, nhưng một khi đã thông các nguyên tắc thì rùa thủ túc cũng biết phi nhanh như ngựa.
Đợt một: thu tổng số về hàng đơn
Tám quẻ Lạc Thư chỉ có số hàng đơn từ một đến chín. Vì thế tổng số căn bản tối đa của Trời (Dương) chỉ có 25, tức 1 + 3 + 5 + 7 + 9. Tổng số căn bản tối đa của Đất (Âm) chỉ có 30, tức 2 + 4 + 6 + 8 + 10. Thế mà tổng số Âm và Dương do Bát Tự đổi ra, nhờ sự ngẫu nhiên của sinh thành, thường to hơn mười rất nhiều, nhiều khi lớn hơn cả tổng số căn bản 25 và 30. Không thể để nó lộng hành như thế, phải có cách kéo mọi tổng số về chín số hàng đơn, coi đó là mức hợp lý nhất, đồng thời giúp tổng số phản bản hoàn nguyên. Đó là phép truy hồi tổng số.
Có bảy trường hợp cần nhớ.
Một, tổng số Dương lớn hơn 25 thì bớt 25 đi, chỉ được bớt một lần, còn lại là hiệu số. Ví dụ 29 trừ 25 còn 4; 51 trừ 25 còn 26.
Hai, tổng số Âm lớn hơn 30 thì bớt 30 đi, cũng chỉ bớt một lần, còn lại là hiệu số. Ví dụ 38 trừ 30 còn 8; 42 trừ 30 còn 12.
Ba, những hiệu số Dương hay Âm từ 10 trở lên gọi là số sai biệt lớn; bớt hàng chục đi thì còn lại là số sai biệt nhỏ. Ví dụ 26 trừ 20 còn 6; 12 trừ 10 còn 2.
Bốn, những số sai biệt lớn bằng 10 hay bội số của 10 (20, 30, 40...) theo nguyên tắc sẽ bị bớt hết, không còn gì. Nhưng để tránh số sai biệt nhỏ bị biến thành số không, vốn sẽ tiêu hủy cả phép tính, nên đặc biệt giữ lại con số có nghĩa của hàng chục. Đáng lẽ 20 trừ 20 còn 0 thì được đặc ân giữ lại số 2; đáng lẽ 40 trừ 40 còn 0 thì giữ lại số 4. Cũng giống 22 trừ 20 còn 2, 44 trừ 40 còn 4.
Năm, tổng số Dương bằng 25 hay nhỏ hơn 25 thì theo trường hợp ba, tức bớt hàng chục. Ví dụ 25 bớt 20 còn 5; 19 bớt 10 còn 9.
Sáu, tổng số Âm bằng 30 thì theo trường hợp bốn, giữ lại 3. Tổng số Âm nhỏ hơn 30 cũng theo trường hợp ba, ví dụ 28 bớt 20 còn 8.
Bảy, trường hợp phức tạp là sự chồng của nhiều trường hợp trên. Ví dụ Dương: 51 trừ 25 còn 26 (theo một), 26 trừ 20 còn 6 (theo ba). Ví dụ Âm: 60 trừ 30 còn 30 (theo hai), 30 giữ lại 3 (theo bốn).
Những trường hợp này phải xem thật kỹ và thực tập nhiều mới nhớ. Tính sai thì công thức Hà Lạc của mỗi tuổi đều sai hết. Phần này không phải là chỗ cổ thư nói nhiều; nhờ kinh nghiệm truyền từ thầy tổ mới phân tích ra thành nhiều trường hợp như vậy.
Đợt hai: hiệu số hóa thành quẻ đơn
Hai tổng số bị bớt dần cho đến khi thành số hàng đơn thì gọi là số sai biệt Âm và số sai biệt Dương, sẵn sàng chuyển ra quẻ. Chỉ cần nhớ bảng mười Can phối quẻ với số của quẻ: một là Khảm, hai là Khôn, ba là Chấn, bốn là Tốn, sáu là Càn, bảy là Đoài, tám là Cấn, chín là Ly.
Với ví dụ một (Âm nữ Kỷ Sửu): tổng Dương 28, trừ 25 còn 3; tổng Âm 46, trừ 30 còn 16, bớt 10 còn 6. Sai biệt Dương 3 là Chấn, sai biệt Âm 6 là Càn. Âm nữ thì Dương trên, Âm dưới: Chấn ở trên, Càn ở dưới, ra quẻ Lôi Thiên Đại Tráng.
Với ví dụ hai (Âm nam Đinh Dậu): tổng Âm 38 trừ 30 còn 8, tức Cấn; tổng Dương 39 trừ 25 còn 14, bớt 10 còn 4, tức Tốn. Âm nam thì Âm trên, Dương dưới: Cấn ở trên, Tốn ở dưới, ra quẻ Sơn Phong Cổ.
Thêm hai lá số để thử tay
Âm nữ có năm Ất Sửu, tháng Kỷ Mão, ngày Mậu Dần, giờ Giáp Tý: Dương gồm 1 + 9 + 3 + 3 + 5 + 1 = 22; bớt 20 còn 2, là Khôn. Âm gồm 2 + 6 + 10 + 8 + 8 + 6 = 40; trừ 30 còn 10, giữ lại 1, là Khảm. Dương trên, Âm dưới: Khôn trên Khảm dưới, ra quẻ Địa Thủy Sư.
Dương nữ có năm Canh Thân, tháng Kỷ Mão, ngày Nhâm Ngọ, giờ Canh Tý: Âm gồm 6 + 4 + 8 + 2 + 6 = 26, bớt 20 còn 6, là Càn. Dương gồm 3 + 9 + 3 + 9 + 3 + 7 + 1 = 35; trừ 25 còn 10, giữ lại 1, là Khảm. Dương nữ thì Âm trên, Dương dưới: Càn trên Khảm dưới, ra quẻ Thiên Thủy Tụng.
Mỗi lần tính xong, vòng chuyển hình khép lại thành một dây: Can Chi ra quẻ, quẻ ra số, số ra tổng số, tổng số lại ra quẻ. Phải đổi ra quẻ mới tìm thấy nghĩa lý, vì chỉ giữ nguyên những con số thì chẳng biết được điều gì về đường đời của một con người.
Khi tổng số rơi đúng vào số năm
Số năm đứng một mình giữa Lạc Thư, không đi cùng quẻ nào, nên phải nhờ đến lẽ của thời gian để chọn cho nó một chỗ ngồi.
Trên Lạc Thư, số năm đứng giữa một mình, không đi với quẻ nào. Vậy khi số sai biệt ra năm thì chuyển ra quẻ gì? Câu trả lời nằm ở luật Tam Nguyên. Tam Nguyên là danh từ của nhà lý số: mỗi chu kỳ sáu mươi năm Hoa Giáp gọi là một nguyên, ba chu kỳ Hoa Giáp nối nhau tạo thành một chu kỳ lớn gọi là Tam Nguyên, gồm 60 × 3 là 180 năm. Chu kỳ đầu gọi là Thượng nguyên, chu kỳ thứ hai gọi là Trung nguyên, chu kỳ thứ ba gọi là Hạ nguyên.
Theo cách tính của Trần Hy Di, từ Giáp Tý 1864 đến Quý Hợi 1923 là Thượng nguyên; từ Giáp Tý 1924 đến Quý Hợi 1983 là Trung nguyên; từ Giáp Tý 1984 đến Quý Hợi 2043 là Hạ nguyên. Mỗi nguyên đều dài sáu mươi năm, đi từ Giáp Tý đến Quý Hợi. Mỗi người sinh ra đều rơi vào đúng một trong ba nguyên ấy, nên chỗ ngồi của số năm thật ra được quyết định bởi thời đại mà người ta chào đời, cộng với giới tính và Âm Dương của tuổi.
Từ đó có luật cho số năm. Sinh vào Thượng nguyên thì bất luận Âm Dương: nam là Cấn, nữ là Khôn. Sinh vào Trung nguyên thì Dương nam và Âm nữ là Cấn, còn Dương nữ và Âm nam là Khôn. Sinh vào Hạ nguyên thì bất luận Âm Dương: nam là Ly, nữ là Đoài.
Bốn bước tóm gọn từ Bát Tự đến quẻ
Một, Bát Tự chuyển hình ra số Hà Lạc: nhớ hai bảng trị số của Can và của Chi dựa trên Hà Đồ của Long Mã và Lạc Thư của Thần Quy. Chi nhờ ngũ hành trong Hà Đồ làm trung gian mới đổi được ra số; Can nhờ tám quẻ Lạc Thư và bảng mười Can phối quẻ mới đổi được ra số. Hai, tìm tổng số Âm và tổng số Dương: Can Chi có tất cả mười hai con số, phải xếp Âm Dương riêng ra để cộng. Ba, tổng số chuyển hình ra quẻ, một công việc hoán chuyển tuần hoàn từ Can Chi sang quẻ, sang số, sang tổng số, rồi lại sang quẻ. Bốn, tìm Hóa Công, Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí: Hóa Công theo tháng sinh, còn Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí theo Can Chi năm sinh.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
