Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Số trời, số đất và cặp lẻ chẵn: nền móng của Dịch số

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202614 phút đọc0 lượt đọc
Số trời, số đất và cặp lẻ chẵn: nền móng của Dịch số

Năm số lẻ cộng lại ra hai mươi lăm, năm số chẵn cộng lại ra ba mươi, rồi hai nhóm ấy gộp vào một bảng. Từ bảng cộng tưởng như đơn giản đó, người xưa dựng lên cả cách nhìn trời đất, âm dương và hư thực. Nhưng con số ấy còn đi xa hơn nhiều so với một phép tính…


Theo tác giả, Dịch số là sự thăng hoa của tượng. Con số trong Chu Dịch mọc ra từ hình tượng, và các hào trong sách chính là tổ của muôn vàn con số về sau. Phần nội dung của Dịch số gồm số của trời đất, số đại diễn, số lẻ chẵn và bốn con số lớn sinh thành. Trong đó có phần Hà đồ, Lạc thư mang nội hàm quan trọng đối với khoa học về sinh mệnh.

Khi tượng và số kết hợp lại, người ta gọi là học thuyết tượng số. Nó giúp đi sâu vào lẽ Dịch, bởi từ tượng sang số rồi từ số sang lý, lối nghĩ bằng hình ảnh được nâng dần lên thành lối nghĩ trừu tượng. Còn khi con số được đem vào việc bói toán thì người ta gọi là thuật số. Hai việc này không tách bạch mà bổ sung cho nhau, cùng làm hạt nhân cho Dịch học.

Tác giả tóm quy luật phát triển như sau: Dịch tượng nảy ra từ hình tượng rồi lại làm hình tượng phát triển thêm; Dịch số nảy ra từ lý rồi lại thúc cho lý phát triển. Số, tượng, lý ba bên nương nhau mà thành, cùng thúc đẩy cả Dịch học lẫn khoa học tự nhiên.

Số trời và số đất: năm số lẻ gặp năm số chẵn

Số trời đất là phần gốc của Dịch số. Tác giả chia nội hàm của nó thành ba lớp, và lớp đầu tiên là dùng số trời đất để chứng minh trời đất hợp nhất. Sách Hệ từ viết:

Thiên nhất, địa nhị; thiên tam, địa tứ; thiên ngũ, địa lục; thiên thất, địa bát; thiên cửu, địa thập.

Chu Dịch trọng trời đất, vì có trời đất rồi muôn vật mới sinh ra. Cho nên khi bàn về số, mục đích chính của sách là dùng con số để nói sự biến hóa vận động của trời đất. Hệ từ nói thêm:

Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập; phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ, thử sở dĩ thành biến hóa nhi hành quỷ thần dã.

Nghĩa là lấy năm số lẻ 1, 3, 5, 7, 9 làm số trời, cộng lại được 25; lấy năm số chẵn 2, 4, 6, 8, 10 làm số đất, cộng lại được 30; hai bên gộp lại thành 55. Cái cách người xưa cho trời đất cùng vào một bảng cộng, theo tác giả, chính là cách mượn con số để nói quan hệ hợp nhất của hai bên.

Số thuận, số nghịch và bốn con số của tứ tượng

Từ tổng số của trời đất, người đọc đi tiếp sang chiều quay của con số, vì mỗi con số trong bảng ấy còn mang theo một hướng đi.

Lớp thứ hai là lấy số trời đất làm dấu hiệu cho quá trình tiêu trưởng của Dịch, nhất là lấy cái thuận nghịch của số để chỉ chuyện âm dương trời đất đang còn hay đang mất. Thuyết quái viết rằng đếm cái đã qua là thuận, biết cái sẽ đến là nghịch, cho nên Dịch là số nghịch.

Theo tác giả, chữ thuận nghịch ở đây chỉ sự đi và đến của số. "Đi" là quay sang trái, theo trời mà chạy nên gọi là thuận; "đến" là quay sang phải, ngược trời nên gọi là nghịch. Thuận số tượng trưng cho dương sinh âm lớn; nghịch số cho thấy âm lớn dương tiêu. Hãy nhìn hình vị trí tiên thiên bát quái của Phục Hy: bốn quẻ Càn, Đoài, Ly, Chấn ở nửa vòng bên trái đi theo chiều thuận, ứng với dương lớn âm tiêu; còn bốn quẻ Tốn, Khảm, Cấn, Khôn ở nửa vòng bên phải đi theo chiều nghịch, thể hiện âm lớn dương tiêu. Đúng như lời Chu Hy: trời đi về bên trái, đất xoay về bên phải.

Thứ tự thuận của bát quái chạy từ phải sang trái, tức Khôn, Cấn, Khảm, Tốn, Chấn, Ly, Đoài, Càn. Dương sinh xoay sang trái theo thời trời, âm lớn đi sang phải, hai bên ngược hướng nhau, nên mới có câu Dịch là số nghịch. Qua đó tác giả cho rằng Dịch lấy cái thuận nghịch của số để giải thích mối quan hệ chặt chẽ giữa vị trí bát quái và sự vận hành của trời đất, và phản chiếu cả bối cảnh thiên văn dày dặn đứng sau bát quái.

Lớp thứ ba là dùng số trời đất để tượng trưng cho tứ tượng: lão dương, lão âm, thiếu dương, thiếu âm. Theo nguyên lý thái cực âm dương tiêu trưởng, bốn con số này đánh dấu bốn giai đoạn của quá trình ấy. Số 6 là số lão âm, chỉ chỗ cực của đất âm; số 7 là số thiếu dương, chỉ chỗ khởi đầu của trời dương; số 9 là số lão dương, chỉ chỗ cực của trời dương; số 8 là số thiếu âm, chỉ chỗ khởi đầu của đất âm. Dịch truyện còn đi thêm một bước, khớp số tứ tượng với số hào để dùng trong việc bói toán.

Trần Đoàn và Lưu Mục nối số trời đất vào Hà đồ, Lạc thư

Con số bốn mùa ấy chưa dừng lại ở Chu Dịch cổ. Tới đời Tống, hai người đã cầm nó đi một đoạn đường khá xa.

Tác giả nhấn mạnh người phát triển số trời đất quan trọng nhất là Trần Đoàn đời Bắc Tống. Ông lấy số trời đất của Dịch làm cơ sở để biến thành Hà đồ, Lạc thư. Trong Long đồ tam biến nổi tiếng của ông (bản Long đồ Dịch nay không còn, chỉ có phần ghi trong Tống sử, mục Nghệ văn chí), hình đồ Hà Lạc được diễn giải thêm: số trời đất của Dịch, số lẻ chẵn và số sinh thành ngũ hành đời Hán được hợp làm một. Lần biến thứ ba nêu rõ mối quan hệ giữa số trời đất và âm dương. Lời của Tống Văn Giám chép lại có đoạn:

Thiên nhất cư thượng vi đạo chi tông, địa lục cư hạ vi địa chi bản; thiên tam, địa nhị, địa tứ vi chi dụng. Tam nhược tại dương tắc tỵ cô âm, tại âm tắc tỵ quả dương.

Hiểu nôm na, số 1 của trời ở trên làm tông chỉ của đạo, số 6 của đất ở dưới làm gốc của đất, còn 3, 2, 4 đều được đem ra dùng. Số 3 nếu ở phía dương thì số âm khỏi cô độc, ở phía âm thì số dương khỏi thiếu bạn.

Tiếp theo, Lưu Mục dựa trên nền Trần Đoàn mà đẩy thêm một bước: gom số trời đất, số lẻ chẵn và ngũ hành sinh thành vào cùng một bảng, tạo nên thuyết sinh thành số Hà Lạc rất nổi tiếng. Lời của ông đại ý rằng: trời 1 sinh thủy, đất 2 sinh hỏa, trời 3 sinh mộc, đất 4 sinh kim, trời 5 sinh thổ, đó là các số sinh. Nếu dừng ở đó thì số dương không có bạn, số âm không gặp cặp, nên đất 6 làm nên thủy, trời 7 làm nên hỏa, đất 8 làm nên mộc, trời 9 làm nên kim, đất 10 làm nên thổ. Âm dương nhờ vậy đều có đôi có cặp, vật mới thành được, vì thế mà gọi là số thành. Tác giả kết luận Lưu Mục đã kết hợp số trời đất, số lẻ chẵn và số ngũ hành sinh thành, đặt nền cho số Hà Lạc và có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của Dịch tượng.

Số trời đất là mẹ của các số khác

Ba nhánh lớn của Dịch số cùng mọc ra từ một gốc.

Theo tác giả, số trời đất là mẹ của muôn số, và sức ảnh hưởng của nó chảy vào ba nơi.

Nơi thứ nhất là số ngũ hành sinh thành. Chính số trời đất làm nền, rồi hợp với ngũ hành mà thành. Hệ từ nói trời 1, đất 2, trời 3, đất 4, trời 5, đất 6, trời 7, đất 8, trời 9, đất 10; Hán thư, Ngũ hành chí nói trời lấy số 1 sinh thủy, đất lấy số 2 sinh hỏa, trời lấy số 3 sinh mộc, đất lấy số 4 sinh kim, trời lấy số 5 sinh thổ. Sách Dịch số câu ẩn đồ cũng viết đủ cả sinh số lẫn thành số. Cả cái lẽ số trời đất tương hợp trong Long đồ tam biến của Lưu Mục cũng là từ câu "thiên số ngũ, địa số ngũ" trong Hệ từ mà ra. Nói gọn, từ số trời đất của Dịch phát triển ra số ngũ hành, rồi dưới tiền đề ấy phát triển thêm thành số sinh thành Hà Lạc.

Nơi thứ hai là số lẻ chẵn âm dương. Dịch lấy số trời làm số lẻ, số dương; lấy số đất làm số chẵn, số âm. Trong bảng số trời đất ở Hệ từ, mọi số của trời đều là số lẻ, mọi số của đất đều là số chẵn, lại lấy trời làm dương, đất làm âm, cho thấy quan hệ rất sâu giữa số lẻ chẵn âm dương và số trời đất.

Nơi thứ ba là số đại diễn dùng trong bói toán. Số 50 của đại diễn là số người xưa dùng để diễn giải việc bói của Dịch, và nó liên hệ chặt với số trời đất, vì chính nó thoát thai từ tổng số trời đất. Hệ từ nói số đại diễn là năm mươi; số trời hai mươi lăm, số đất ba mươi, trời đất cộng lại năm mươi lăm, nhờ đó mà thành biến hóa và vận hành quỷ thần.

Số lẻ số chẵn: dấu hiệu của trời đất, của âm dương, của hư thực

Số trời đất còn có một người em song sinh: cặp lẻ chẵn, nhỏ gọn hơn mà có sức lan tỏa còn lớn hơn.

Tác giả coi số lẻ chẵn là một nội dung quan trọng của Dịch số, có ảnh hưởng tới sự phát triển của Dịch học và cả nền văn hóa Trung Quốc. Nội hàm của nó gồm ba nét.

Nét thứ nhất là lấy số lẻ chẵn tượng trưng trời đất. Thuyết quái nói rằng lấy ba cho trời, hai cho đất mà dựng số lẻ chẵn. Chữ "tham" là ba, tức số lẻ; chữ "lưỡng" là hai, tức số chẵn. Câu ấy có nghĩa trời lẻ đất chẵn, trời dương đất âm, và lấy âm dương của con số làm thước đo âm dương của trời đất.

Nét thứ hai là lấy số lẻ chẵn làm dấu của âm dương. Dịch lấy số lẻ làm dương, số chẵn làm âm, bắt nguồn từ hào âm và hào dương: hào dương một vạch liền là số lẻ, là cha của các số dương; hào âm hai vạch đứt là số chẵn, là mẹ của các số âm. Từ đó mối quan hệ giữa lẻ chẵn và âm dương được đóng chặt, ảnh hưởng rất sâu tới Dịch số và văn hóa Trung Hoa.

Nét thứ ba là lấy số lẻ chẵn để nói hư thực. Số chẵn là hư, số lẻ là thực, cũng bắt nguồn từ hào âm và hào dương. Nội hàm này hiện ra ngay trong bát quái: quẻ Ly rỗng ở giữa, quẻ Khảm đầy ở giữa. Các chấm đen chấm trắng của Hà đồ, Lạc thư cũng chứa cùng ý: chấm trắng là số lẻ, tượng trưng cho thực; chấm đen là số chẵn, tượng trưng cho hư.

Từ cặp lẻ chẵn đến triết lý: nhất phân vi nhị, hàm tam vi nhất

Khi con số đã mang trong mình âm dương và hư thực, nó không còn là vật để đếm nữa mà thành cái khung để người xưa nghĩ về vũ trụ.

Về mặt triết lý, tác giả chỉ ra sự phát triển chủ yếu của số lẻ chẵn nằm ở Dịch truyện và sách Lão Tử.

Dịch truyện nhấn mạnh số chẵn, từ góc độ ấy phân tích sự sinh thành của vũ trụ. Câu nổi tiếng: Dịch có thái cực, thái cực sinh hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh bát quái. Sự sinh thành của bát quái và vạn vật bằng số lẻ chẵn phản ánh triết lý một chia làm hai. Thế hệ sau nhờ ánh sáng gợi mở ấy mà vẽ ra hình thứ tự tiên thiên bát quái và hình thứ tự sáu mươi bốn quẻ tiên thiên, cả hai đều chứa rõ nguyên lý nhất phân vi nhị. Ngoài ra, từ cơ sở ba hào làm một quẻ, Dịch truyện còn đưa ra tư tưởng tam tài, trời đất người là một chỉnh thể, rồi người đời sau phát triển thành quan điểm hàm tam vi nhất, tức bao gồm ba mà làm một. Trong Tam thống lịch, Mạnh Khang chú rằng thái cực nguyên khí hàm tam vi nhất: hai con cá đen trắng tượng trưng trời đất, đường phân ranh giữa hai con cá tượng trưng người, nói rõ ba tài trời đất người hợp làm một.

Sách Lão Tử thì đẩy số lẻ lên cao. Ông nói: đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật (Đạo đức kinh, chương 42). Tác giả so sánh: Dịch truyện nhấn mạnh số hai, nêu cao lưỡng nghi, dựng nên triết lý rực rỡ một chia làm hai; Lão Tử phát huy số ba, đề xướng ba sinh vạn vật, tức một chia làm ba. Cả hai bên đều dùng "ba" và "hai" để giải thích vũ trụ, đúng như Thuyết quái nói: lấy ba cho trời, hai cho đất mà dựng số lẻ chẵn.

Luật lẻ chẵn, luật mâu thuẫn và luật chính phản

Từ trong triết lý, cặp lẻ chẵn đi ra khắp các ngành nghề của người xưa, và để lại ba vết lớn.

Vết thứ nhất là luật lẻ chẵn. Dịch lấy hào dương làm số lẻ, hào âm làm số chẵn; ba hào gộp thành quẻ đơn, hai quẻ đơn gộp thành quẻ kép. Vì vậy Dịch đã xác lập quy tắc số đơn là lẻ, số đôi là chẵn, đặt nền cho luật lẻ chẵn của cổ đại, đồng thời gắn lẻ với dương và chẵn với âm. Ban Cố trong Bạch hổ thông cũng nói số dương lẻ, số âm chẵn. Luật ấy ảnh hưởng sâu tới nhiều ngành: lịch pháp, thuật số, chiêm phệ, vận khí học. Chẳng hạn lịch can chi (chu kỳ mười hai năm) lấy số lẻ làm dương can, số chẵn làm âm can; học thuyết vận khí trong Hoàng đế nội kinh cũng vậy; các phép Kỳ môn độn giáp, lục nhâm đều lấy lẻ chẵn âm dương làm tiền đề.

Vết thứ hai là luật mâu thuẫn. Tác giả nói rõ đây không phải luật không mâu thuẫn trong logic học, mà là quy luật thống nhất của các mặt đối lập trong triết học: hai bên bài xích nhau mà vẫn nương vào nhau để tồn tại. Chữ "mâu thuẫn" gặp sớm nhất ở Hàn Phi Tử, nhưng ý nghĩa của nó đã nằm sẵn trong Kinh Dịch: hào dương và hào âm là mẹ của số lẻ chẵn và cũng là bào thai của luật mâu thuẫn, hào âm tượng trưng cho nhất phân vi nhị, hào dương có ý hợp nhị vi nhất. Ý nghĩa ấy còn hiện ra trong kết cấu quẻ, ví dụ quẻ Ly và quẻ Khảm vừa bài xích nhau như thủy hỏa, vừa tồn tại nhờ nhau. Dịch truyện tiếp đó nêu rõ tư tưởng một chia làm hai, đặt cơ sở cho phép biện chứng cổ đại Trung Quốc.

Vết thứ ba là luật chính phản, tức hướng chính và hướng phụ của sự vật. Hào dương và hào âm của Kinh Dịch, cá đen cá trắng của thái cực đồ, chấm đen chấm trắng của Hà đồ Lạc thư đều chứa nguyên lý ấy, và đều lấy số lẻ làm chính, làm thực, làm dương; lấy số chẵn làm phản, làm hư, làm âm. Dịch truyện làm sáng thêm quy luật này: cửa đóng gọi là Khôn, cửa mở gọi là Càn; một lần đóng một lần mở gọi là biến. Ý nó bao gồm đóng mở, tối sáng, xa gần, sống chết. Tác giả kết luận, luật chính phản nhờ lẻ chẵn mà bổ sung và làm phong phú luật mâu thuẫn, đóng góp cho triết học truyền thống Trung Quốc, có liên hệ khăng khít tới khoa dự báo, chiêm bốc, kham dư, dưỡng sinh, luyện đan, văn học, nghệ thuật.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện