Bài tổng quan
Nguồn gốc ngũ hành và dấu ấn của Chu Dịch trong thuyết sinh khắc
Người xưa khoan gỗ lấy lửa, đào đất đúc đồng, đắp đê chống lũ, rồi từ năm thứ vật ấy dựng nên cả một cách nhìn thế giới. Nhưng khi vòng sinh khắc bị đem đặt lên vai các triều đại, điều gì đã xảy ra...
Ngũ hành là gì mà gắn bó với âm dương đến vậy
Trước khi có những bảng sinh khắc dày đặc, ngũ hành chỉ là năm thứ vật đứng ngay cạnh bàn tay người.
Tác giả mở đầu bằng nhận xét rằng văn hóa ngũ hành là một hiện tượng rất quan trọng trong nền văn hóa truyền thống Trung Hoa, và vì nó liên hệ mật thiết với âm dương nên cần xét cả hai mặt cùng lúc. Ngũ hành là năm thứ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, và là một phạm trù lớn của triết học cổ đại.
Theo ông, đây là tư tưởng duy vật giản đơn xuất hiện sớm nhất ở Trung Hoa. Cái gọi là duy vật ở đây nằm ở chỗ người xưa lấy năm loại vật chất cụ thể để tính toán và giải thích một thế giới tự nhiên vốn rất phức tạp. Cách làm ấy còn thô sơ, mang màu sắc nguyên thủy, nhưng đã le lói ánh sáng của lối nghĩ coi vật chất là gốc.
Nguồn gốc của ngũ hành rất xa xưa, và giới nghiên cứu đưa ra ba cách giải thích chính. Tác giả lần lượt điểm qua từng cách, rồi cho biết ông nghiêng về cách nào.
Ba cách giải thích nguồn gốc ngũ hành
Có người tìm gốc rễ ở bầu trời, có người ở bốn phương tám hướng, và có người ở ngay thửa đất dưới chân.
Thuyết năm vì sao
Cách thứ nhất cho rằng ngũ hành có liên quan đến năm vì sao trên trời mang tên kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Người đại diện cho thuyết này là Cố Hiệt Cương. Tuy vậy, tác giả chỉ ra rằng thuyết năm vì sao chỉ nảy ra từ thời Chiến Quốc, trong khi sang thời Xuân Thu người ta đã nói đến ngũ hành. Sách Tả truyện chép lời của Khích Khuyết bàn về sáu phủ và ba việc:
Lục phủ tam sự, vị chi cửu công. Thủy hỏa kim mộc thổ cốc, vị chi lục phủ.
Ngoài ra, Quốc ngữ và Thượng thư cũng có những ghi chép khá sớm về ngũ hành. Bởi vậy, theo tác giả, nói ngũ hành xuất phát từ năm vì sao thì vẫn chưa đủ lý do vững chắc.
Thuyết năm phương
Cách thứ hai cho rằng ngũ hành bắt nguồn từ năm phương: đông, nam, tây, bắc và trung tâm. Người chủ trương là Quách Mạt Nhược. Ông dựa vào văn giáp cốt, nơi có những chữ chỉ bốn phương và chữ chỉ trung tâm, gọi là trung thương. Tác giả dẫn một lời bốc thời Ân, đại ý ghi rằng vào ngày Mậu Dần có bói, vua Trinh hỏi về mùa màng của miền trung thương trong tháng mười.
Ông còn nhắc thiên Cam thệ trong Thượng thư, nơi có cụm từ nói đến ngũ hành, mà theo cách hiểu của ông thì rõ ràng là chỉ dân chúng của năm khu vực. Từ đó ông kết luận văn giáp cốt và văn hiến lịch sử cho thấy năm phương có quan hệ nhất định với nguồn gốc ngũ hành, và thực ra năm con số cũng bắt nguồn từ năm phương ấy.
Thuyết năm thứ của cải
Cách thứ ba, mà tác giả cho là thuyết phục nhất, là thuyết ngũ tài. Nước, lửa, gỗ, kim loại và đất là năm yếu tố cơ bản nhất của đời sống con người, gần gũi tới mức từ rất sớm người ta đã để ý đến chúng. Chuyện người họ Toại khoan gỗ lấy lửa, hay chuyện Cổn rồi Đại Vũ chống lũ, đều đã có từ lâu. Về gỗ, Hệ từ truyện của Dịch nhắc việc chặt gỗ làm lưỡi cày, uốn gỗ làm cán cày, khoét gỗ làm thuyền, vót gỗ làm chèo.
Hàn Phi Tử kể lại buổi thượng cổ: có bậc thánh nhân kết cành làm tổ để dân tránh thú dữ, nên được suy tôn, gọi là họ Hữu Sào. Lại có bậc thánh nhân khoan gỗ lấy lửa để trừ mùi tanh hôi của đồ sống, dân vui lòng, đưa lên làm vua, gọi là Toại Nhân. Đến buổi trung cổ thiên hạ gặp nạn nước lớn, Cổn và Vũ khơi thông sông ngòi. Tác giả nhắc thêm Sử ký, nơi nói người xưa sống chung với cầm thú. Theo ông, những chuyện ấy cho thấy nước, lửa, gỗ gắn chặt với đời sống từ buổi sơ khai.
Về chữ viết, giáp cốt văn đã có các chữ thổ, thủy, hỏa, mộc, còn kim văn có chữ kim và chữ thổ. Giáp cốt văn thiếu chữ kim, nhưng chiếc đỉnh đồng của bà Mẫu, đào được trong ngôi mộ một phụ nữ thời Ân Thương ở An Dương, Hà Nam, cho thấy nghề đúc đồng thau thời ấy đã rất phát triển. Vì vậy chữ gần giống chữ kim đã sớm xuất hiện, như trong kim văn.
Đến thiên Hồng phạm trong Thượng thư, năm vật liệu đã chuyển thành ngũ hành và quan niệm ngũ hành bắt đầu thành hình. Thiên ấy xếp thứ tự thủy, hỏa, mộc, kim, thổ, rồi gán cho mỗi hành một tính chất và một vị:
Thủy viết nhuận hạ, hỏa viết viêm thượng, mộc viết khúc trực, kim viết tòng cách, thổ ái giá sắc.
Nhuận hạ tác hàm, viêm thượng tác khổ, khúc trực tác toan, tòng cách tác tân, giá sắc tác cam.
Hiểu nôm na là nước thấm xuống và vị mặn, lửa bốc lên và vị đắng, gỗ cong mà thẳng và vị chua, kim loại thuận theo khuôn mà đổi hình và vị cay, đất để gieo trồng gặt hái và vị ngọt. Tác giả kết luận ngũ hành là kết quả của nhiều nhân tố cùng tác động, đặc biệt là thuyết ngũ tài, bởi năm thứ ấy gắn với cuộc sống con người hơn hết. Theo ông, không có lý luận nào mà không phải là sự tổng kết rồi nâng lên từ thực tiễn, và ngũ hành cũng vậy: đó là quy luật mà người xưa đúc rút sau một thời gian dài sống giữa đất trời.
Chu Dịch đã góp phần vào lý luận ngũ hành ra sao
Nếu năm thứ vật là chất liệu thô, thì quẻ Dịch là chiếc khung giúp chúng đứng thành hệ thống.
Tác giả nói rằng gốc của ngũ hành nằm ở đời sống lao động, nhưng Chu Dịch cũng thúc đẩy nhất định việc hình thành và phát triển lý luận này. Chu Dịch là cội nguồn của lý luận âm dương, mà âm dương và ngũ hành lại quan hệ rất mật thiết, nên quan hệ giữa Dịch và ngũ hành không phải chuyện bình thường. Ông phân tích qua ba mặt.
Quan niệm ngũ hành ẩn trong bát quái
Thực ra bát quái đã khái quát năm loại nguyên tố cơ bản. Càn thuộc kim. Khôn là đất và Cấn là núi, cùng thuộc thổ. Chấn và Tốn thuộc mộc. Khảm là nước và Đoài là đầm, cùng thuộc thủy. Ly thuộc hỏa. Thuyết quái truyện nói Càn là trời, là kim, Khôn là đất, Chấn là sấm, Tốn là gỗ, Khảm là nước, Ly là lửa, Cấn là núi, Đoài là đầm. Vì vậy, theo tác giả, bát quái không phải được đặt ra tùy tiện mà được khái quát từ cuộc sống của người lao động thời cổ.
Ông còn dẫn câu nổi tiếng về thiên số và địa số, từ một đến mười, trời lẻ đất chẵn. Cuốn Chu Dịch tập giải của Lý Đỉnh Tộ chú rằng trời một là thủy, đất hai là hỏa, trời ba là mộc, đất bốn là kim, trời năm là thổ, rồi đất sáu lại là thủy, trời bảy là hỏa, đất tám là mộc, trời chín là kim, đất mười là thổ. Điều này khớp với số trong Hà đồ, Lạc thư, tức là nói trời một sinh thủy, đất sáu làm cho thành, đất hai sinh hỏa, trời bảy làm cho thành, và cứ thế đến thổ. Tác giả cho rằng cách bày số ấy nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của năm loại vật chất đối với sinh mạng.
Về thứ tự, ông giải thích như sau. Thủy ở phương bắc, thuộc âm, là nền tảng của mọi vật nên đứng đầu. Hỏa ở phương nam, thuộc dương, đứng thứ hai. Có thủy hỏa âm dương thì sức sống mới sinh ra, nên mộc đứng thứ ba, ở phương đông. Đã sinh thì phải lớn, nên kim tượng trưng cho sự trưởng thành, đứng thứ tư, ở phương tây. Thổ là mẹ của vạn vật, cội nguồn sinh ra mọi thứ, nên đứng thứ năm và giữ vai chính trong các con số.
Dịch truyện còn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nước lửa. Thuyết quái có câu nói rằng thứ thấm nhuận muôn vật không gì hơn nước, thứ làm khô muôn vật không gì hơn lửa. Theo tác giả, lời ấy khẳng định nền tảng vật chất của nước và lửa, từ đó đặt nền cho tính vật chất của cả ngũ hành. Ông rút ra rằng giữa các thành phần của bát quái và của ngũ hành có quan hệ mật thiết, và Chu Dịch, nhất là Dịch truyện, đã bao hàm một quan niệm nhất định về ngũ hành, khiến tư tưởng ấy đi theo hướng duy vật giản đơn.
Từ ngũ tài đến sinh và khắc
Ngũ tài thời Chu đã phát triển thành ngũ hành, và còn được coi là những nguyên tố sinh ra vạn vật. Quốc ngữ, thiên Trịnh ngữ, có câu nói các tiên vương đem đất hòa với kim, mộc, thủy, hỏa mà thành muôn vật. Sang thời Xuân Thu, lý luận phát triển chủ yếu theo hướng tương khắc. Tả truyện, năm thứ ba mươi mốt đời Chiêu Công, nhắc rằng lửa thắng kim nên không thể thắng, và nước thắng lửa nên đánh nước Khương thì được, đó là những biểu hiện của quan hệ hạn chế lẫn nhau.
Dịch truyện thì chịu ảnh hưởng của tư tưởng trung dung trong Kinh Dịch, như lời hào chín năm quẻ Quải nói rằng đi giữa thì không lỗi. Nó chú trọng quan hệ nương tựa để cùng tồn tại giữa các hành. Quẻ Ký Tế nói lên sự bổ sung giữa nước và lửa, quẻ Thái là trời đất giao hòa. Những câu như nước lửa không chán ghét nhau, hay nước lửa cùng dựa vào nhau, đều chỉ ra mối quan hệ bổ trợ ấy.
Rất nhiều lời Tượng truyện lấy hình ảnh hai hành chồng lên nhau để dạy người quân tử. Ở quẻ Đỉnh, lửa đặt trên gỗ, và người quân tử lấy đó mà đứng ngay ngắn trên ngôi vị để vững mệnh. Ở quẻ Tỉnh, nước ở trên gỗ, người quân tử lấy đó mà khuyên dân siêng năng, giúp nhau. Ở quẻ Cách, trong đầm có lửa, người quân tử nhờ đó sắp đặt lịch số để làm rõ thời đại. Ở quẻ Lữ, lửa ở trên núi, người quân tử lấy đó mà sáng suốt, thận trọng khi dùng hình phạt, không để ai nằm tù lâu. Ở quẻ Khuê, lửa ở trên mà đầm ở dưới, người quân tử tìm chỗ đồng trong cái khác. Dịch truyện cũng nhấn mạnh rằng các hành chỉ có thể cùng tồn tại, bổ sung cho nhau thì mới sinh ra vạn vật, như câu nói rằng nước lửa nương nhau, sấm gió không làm hại nhau, núi đầm thông khí, rồi sau đó mới có thể biến hóa mà thành muôn vật.
Từ bói toán sang đức hạnh và khí chất
Ngoài ra, thời Xuân Thu ngũ hành còn được dùng để bói, Tả truyện ghi nhiều chuyện như vậy. Dịch truyện thì chủ yếu đem ngũ hành vào triết lý về đức hạnh và hành vi. Quẻ Kiển có nước trên núi, người quân tử nhìn đó mà quay về xét mình, tu dưỡng đạo đức. Quẻ Tiệm có gỗ trên núi, người quân tử lấy đó mà giữ hiền đức để phong tục dần thuần hậu.
Thuyết quái còn gắn ngũ hành với tính cách người. Khảm là nước, mang nét lo âu tăng thêm. Tốn là gỗ, là dây mực thẳng. Khôn là đất, là sự keo kiệt, hà tiện. Tác giả nhấn rằng Dịch truyện đã kết hợp đầy đủ ngũ hành với tính cách con người, chẳng hạn Tốn tượng trưng cho gỗ là ngay thẳng, Khôn tượng trưng cho đất là tằn tiện.
Đặc biệt, qua lý luận về quẻ, Dịch truyện gắn ngũ hành với khí chất, điều có liên quan đến việc nghiên cứu khí chất con người. Người bẩm thụ khí của Càn, tức trời và kim, thì ngực rộng, chí khí thông suốt như thông được với trời. Người bẩm thụ chất của Khôn, tức đất và thổ, thì lấy đức dày mà chở muôn vật, tính nhu thuận mà lợi cho sự chính đáng. Người bẩm chất của Tốn, tức gỗ, thì vừa mềm vừa cương, ở giữa cương và nhu, giữ khí bình hòa. Người bẩm chất của Ly thì như mặt trời mặt trăng bám vào trời, bậc đại nhân nối ánh sáng để soi bốn phương. Người mang khí chất quẻ Khảm thì trong cương mà ngoài nhu.
Tổng kết phần này, tác giả cho rằng đóng góp chủ yếu của Chu Dịch với lý luận ngũ hành là đặt cơ sở cho quan niệm tương sinh và bổ sung lẫn nhau, và đặt nền cho lý luận tương sinh của Trâu Diễn. Mặt khác, Chu Dịch tăng thêm tính duy vật cho ngũ hành, đồng thời đưa ngũ hành vào mảng khí chất và đạo đức, mở rộng phạm vi ứng dụng, tạo móng cho Trâu Diễn và các thế hệ sau hoàn thiện lý luận.
Trâu Diễn, vòng sinh khắc và cái giá của lối suy diễn máy móc
Một vòng tròn sinh khắc đủ đẹp để giải thích cơ thể, nhưng khi đem áp vào các triều đại thì nó bắt đầu hóa cứng.
Trâu Diễn là nhà âm dương học tiêu biểu thời Chiến Quốc, người có công lớn với lý luận ngũ hành. Ông kế thừa hai mạch trước đó: tư tưởng ngũ hành tương thắng chép trong Tả truyện, và ngũ hành tương tế có gốc ở Chu Dịch. Trên nền ấy ông nêu ra thuyết sinh thắng, làm lý luận này tiến thêm một bước.
Vòng tương sinh của ông là mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc. Vòng tương thắng, tức tương khắc, là thủy thắng hỏa, hỏa thắng kim, kim thắng mộc, mộc thắng thổ, thổ thắng thủy.
Thuyết sinh thắng ấy ảnh hưởng sâu sắc đến học thuyết ngũ hành của đời sau. Nhưng Trâu Diễn lại đem áp dụng một cách tuần hoàn và máy móc vào chính trị quốc gia, tức đưa ngũ hành vào cội nguồn của lối suy luận tiên nghiệm, và theo tác giả điều đó để lại ảnh hưởng không tốt. Ông còn đề ra thuyết ngũ đức chung thủy, cho rằng việc đổi triều đại nhất định tuân theo thứ tự tuần hoàn của năm hành. Đời Ngu thuộc thổ, đời Hạ thuộc mộc, đời Ân thuộc kim, đời Chu thuộc hỏa, mỗi đời lần lượt thắng đời trước. Từ đó suy ra thế chỗ nhà Chu phải là thủy. Ông còn nói mỗi lần đổi đời đều có điềm báo trước, và trời tất hiện điềm trước để dân biết. Tác giả cho rằng loại lý luận này để lại ảnh hưởng xấu: nó dọn đường cho thuyết điềm lành của thời Tần Hán và nguồn gốc của tai họa trong thuyết trời người cảm ứng, rồi đến thuyết khiển trách của Đổng Trọng Thư.
Nhận xét chung của ông là công và tội của Trâu Diễn ngang nhau. Việc nêu ra lý luận sinh thắng đã thúc đẩy ngũ hành, được dùng rộng rãi trong y học, thiên văn học cổ, tính lịch, tượng số học của đời sau. Nhưng thuyết ngũ đức chung thủy đi theo lối tiên nghiệm duy tâm, dẫn đến chủ trương trời không đổi thì đạo cũng không đổi của Đổng Trọng Thư, thuyết điềm lành và tai dị, và còn cung cấp chỗ dựa lý luận cho nền quân chủ chuyên chế của giai cấp thống trị. Ông ấy không đặt ngũ hành vào ngũ đức theo hướng Dịch truyện đã mở, mà lại đẩy ngũ hành vào vòng tiên nghiệm thần bí. Vì thế, theo tác giả, lý luận ngũ hành của Trâu Diễn có đóng góp ở mặt khoa học tự nhiên nhưng thất bại ở mặt khoa học xã hội.
Sau khi kế thừa thuyết sinh thắng, bộ Xuân thu phồn lộ của Đổng Trọng Thư đời Hán trình bày thành một hệ thống. Trong đó có những câu tóm lại rằng ngũ hành là năm vị quan, vừa sinh nhau vừa xen kẽ thắng nhau, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc, còn kim thắng mộc, thủy thắng hỏa, mộc thắng thổ, hỏa thắng kim, thổ thắng thủy. Rồi học thuyết ngũ hành được ứng dụng vào y học, và Hoàng đế nội kinh đã phát triển thêm. Tác giả kết rằng qua thời Tiên Tần và Lưỡng Hán, lý luận của học thuyết ngũ hành đã dần dần hoàn thiện.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
