Bài tổng quan
Thái cực đồ, Hà Lạc từ Trần Đoàn đến Chu Hy
Có một con ngựa rồng bước ra từ dòng sông Hoàng Hà và một con rùa thần nổi lên giữa nước Lạc. Từ hai tấm lưng ấy người xưa chép lại cách mình nhìn trời đất, rồi một đạo sĩ trên núi ngồi vẽ lại bằng hai chấm đen trắng...
Cổ thái cực đồ, bức đồ của phương sĩ và đan gia
Về sự phát triển và ảnh hưởng của hệ thống thái cực đồ, tác giả bắt đầu bằng điểm thứ nhất: lấy tiên thiên thái cực đồ làm tiêu chuẩn cho thái cực và cho sự thống nhất của bát quái tượng. Tiên thiên thái cực đồ do Trần Đoàn thời Tống lập nên, phát triển trên nền thái cực đồ của thời cổ. Cổ thái cực đồ còn có tên là Phục Hy bát quái phương vị đồ, qua các đời được lấy làm hình đồ tiêu chuẩn của thái cực bát quái đồ, và thấy sớm nhất trong sách của Triệu Trọng Toàn đời Minh.
Đặc điểm của hình đồ là thống nhất thái cực đồ với bát quái tượng, lại ghép ngày với phương vị, phản ánh đầy đủ ý nghĩa ẩn chứa về thời gian và không gian trong sự tiêu trưởng âm dương của thái cực đồ. Nhất là sự tương ứng với Chu Dịch tham đồng khế và nguyệt thể nạp giáp: dựa theo số lần thịnh suy của thái cực âm dương, lấy khí của trăng tròn trăng khuyết đầu tháng và cuối tháng làm tiêu chí cho hỏa hầu tiêu tức của đan gia. Tác giả gọi đó là một kiệt tác về hình thể mặt trăng khi tròn khi khuyết, khi ẩn khi hiện. Các phương sĩ dùng hình đồ này để giải thích mặt trăng, mặt trời, trời đất, và phép luyện đan tu luyện của Tham đồng khế. Bốn quẻ chính ở bốn phương chính tượng trưng cho trời đất, mặt trăng mặt trời; bốn quẻ ở bốn góc làm tiêu chí không gian thời gian của sự tiêu trưởng âm dương. Nhất là sự giao ứng giữa hình con cá đen trắng của thái cực với bát quái làm tiêu chí cho quá trình âm dương tiêu tức của vầng trăng tròn khuyết. Nhờ ưu thế về không gian và thời gian, tập trung được ánh sáng của trời đất, mặt trời mặt trăng và sự tiêu tức của âm dương, hình đồ nguyên bản qua mấy nghìn năm vẫn trước sau như một, được đan gia dùng khi tu luyện và nhiếp sinh, ảnh hưởng rất lớn về sau.
Tiên thiên thái cực đồ của Trần Đoàn
Hình đồ cổ thái cực ấy được vị thánh của dịch đồ là Trần Đoàn phát triển thành tiên thiên thái cực đồ, đăng trong Lục thư bản nghĩa. Hình đồ này bỏ đi tiêu chí tuyến phương vị và phương vị của cổ thái cực đồ, thêm vào phân số âm dương, ảnh hưởng đến đời sau, hầu như thành hình đồ nguyên bản của thái cực bát quái. Vì thế tiên thiên thái cực đồ, phát triển trên cơ sở cổ thái cực đồ, về cơ bản trở thành hình đồ tiêu chuẩn thống nhất thái cực với bát quái tượng, và là bước phát triển lớn của thái cực đồ.
Đồ vô cực, tiêu chuẩn của đạo đan tu luyện
Điểm thứ hai là sự phát triển của đồ vô cực, làm tiêu chuẩn cho đạo đan tu luyện đo ánh sáng mặt trời. Đồ vô cực là bước phát triển tiếp theo của thái cực đồ, tương truyền do Trần Đoàn, một đại biểu dịch học của Đạo gia thời Tống, sáng lập. Hình đồ này là tiêu chuẩn của đạo đan tu luyện, cũng là sự hợp nhất tượng trưng của đạo và dịch. Đồ khuông quách thủy hỏa, về phương diện đạo đan, bắt nguồn từ Chu Dịch tham đồng khế và đồ nguyên triều ngũ khí, nêu bật quan điểm âm dương hỗ bổ, thủy hỏa hỗ tế và ngũ tạng khí hóa tụ thành thánh thai trong tu luyện. Về tư tưởng học thuật, nó lại lấy quan điểm đạo dịch dung hợp để giải thích đạo đan tu luyện: từ cảnh giới hư vô thấp nhất trong hình đồ, cửa huyền tẫn, qua việc lấy Khảm lấp Ly, rồi trở về hình đồ luyện thần hoàn hư, phục quy vô cực. Tóm lại, đồ vô cực của Trần Đoàn trở thành tiêu chí phép độ của đạo đan tu luyện và là tiêu chí của đạo dịch dung hợp; điều này ảnh hưởng lớn trong đạo đan tu luyện, nhất là đối với việc Chu Đôn Di sáng chế thái cực đồ, và thúc đẩy sự phát triển của đạo giáo dịch học. Vì thế tác giả coi đồ vô cực là sự phát triển lớn nhất của thái cực đồ.
Chu Đôn Di sửa vô cực đồ thành thái cực đồ
Điểm thứ ba là việc sáng chế thái cực đồ gây ảnh hưởng lớn đối với triết lý dịch học. Chu Đôn Di thời Tống sáng chế thái cực đồ trên cơ sở vô cực đồ của Trần Đoàn. Chủ yếu ông sửa phép lấy Khảm lấp Ly của vô cực đồ thành dương động âm tĩnh; đổi luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần ở hình thứ hai thành Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ; xóa cửa huyền tẫn của Đạo gia ở hình thấp nhất, và xóa phần chữ luyện thần hoàn hư phục quy vô cực ở hình cao nhất.
Sự sáng lập thái cực đồ họ Chu có ý nêu quan điểm theo thái cực của Chu Dịch làm nguồn gốc của vũ trụ, nhấn mạnh âm dương thái cực là dương động âm tĩnh, nêu bật bản thể tối cao của thái cực âm dương khí hóa, là sự sinh thành vũ trụ. Hình đồ thái cực họ Chu được ghi trong Thái cực đồ thuyết của Chu Đôn Di, được Chu Chấn sửa lại để dâng hoàng đế Cao Tông; sau đó Chu Hy lại sửa tiếp phần quan trọng, tức dời âm tĩnh dương động sang hai bên trái phải của vòng bao hợp, ở hình thứ hai Khảm Ly âm dương. Làm như vậy càng nhấn mạnh ý nghĩa triết lý của âm dương khí hóa, nâng cao trình độ triết lý của thái cực đồ. Chu Hy lại giải thích tiếp hình đồ ấy, ghi trong Thái cực đồ thuyết giải, về sau được in trong sách của họ Chu, khiến thái cực đồ càng lưu truyền rộng; đóng góp của Chu Hy đối với thái cực đồ rất lớn. Hình đồ có bước đột phá rộng về quan điểm dịch học triết học bản thể, là sự phát triển quan trọng của dịch đồ. Tóm lại, cổ thái cực đồ, qua tay các học giả Trần Đoàn, Chu Đôn Di, Chu Chấn, Chu Hy, được mở rộng và dựng thành một hình đồ súc tích, diễn tả mô thức sinh thành thái cực của vũ trụ và giải thích Chu Dịch được thăng hoa, bao hàm triết lý sâu xa hơn.
Thái cực đồ lưu hành hiện nay
Điểm thứ tư: thái cực đồ lưu hành ngày nay là sự cô đọng cao độ lý luận âm dương của Chu Dịch. Đó là hình thái cực do hai con cá âm dương đen trắng kết hợp thành, thoát thai từ sự bao hợp âm dương hình cá của cổ thái cực đồ. Hình đồ ấy hầu như chứa toàn bộ triết lý của dịch lý, gồm triết lý thống nhất đối lập của âm dương, triết lý hỗ bổ của âm dương, triết lý trung hòa và triết lý dương động âm tĩnh. Nó không chỉ cô đọng cao độ triết lý dịch học mà còn đạt mức giản ước, tinh xảo, trọn vẹn cái đẹp, cao siêu đáng khâm phục, nên được mọi người hoan nghênh rộng rãi và vượt lên thành kiệt tác tiêu biểu của thái cực đồ xưa nay, ảnh hưởng sâu xa đến sự lưu truyền của Chu Dịch. Tóm lại, trong hàng loạt hình đồ thái cực, cổ thái cực đồ, tức Chu Dịch tham đồng khế thái cực đồ, và thái cực đồ lưu hành hiện đại có ảnh hưởng lớn nhất; sự phát triển của thái cực đồ còn thúc đẩy mạnh sự lưu truyền và phát triển của dịch đồ lẫn dịch học.
Hà Đồ Lạc Thư, hai bức đồ nhỏ chứa cả trời đất
Có một con ngựa rồng bước ra từ dòng sông Hoàng Hà, và một con rùa thần nổi lên giữa nước Lạc; từ hai tấm lưng ấy người xưa chép lại cách nhìn của mình về trời đất.
Hà Đồ Lạc Thư qua các thời đại sinh ra rất nhiều đồ thị quý giá, ẩn nghĩa uyên thâm, ảnh hưởng rất lớn trong dịch học. Tác giả nói trước hết về truyền thuyết. Về hình đồ long mã mang đồ và hình đồ thần quy mang đồ, lý thuyết bắt nguồn từ Chu Dịch, như Hệ từ viết:
Hà xuất đồ, Lạc xuất thư.
Thượng thư, thiên Cố mệnh, ghi rằng thời vua Phục Hy trị thiên hạ, long mã ra khỏi sông Hà, Phục Hy thuận ý trời đất mà vẽ bát quái, gọi là Hà Đồ. Luận ngữ, thiên Tử Hãn, chép rằng chim phượng không bay đến, sông không hiện đồ, ta hết hy vọng rồi. Tức theo truyền thuyết thời Phục Hy, trong sông Hoàng Hà có long mã mang đồ ra, vua Phục Hy liền nhận được Hà Đồ mà vẽ bát quái. Còn Lạc Thư thì tương truyền thời Hoàng Đế tìm được thần quy mang đồ. Trúc thư kỷ niên chép năm thứ mười lăm đời Hoàng Đế, mùa thu tháng bảy, ngày canh thân, chim phượng bay đến, vua làm lễ tế ở sông Lạc; Lương Trầm Ước chú thêm rằng Long đồ ra ở sông Hà, thư của rùa ra ở sông Lạc, nói về hình đồ ngựa rồng mang ra và hình đồ trên lưng rùa thần. Theo thiên Cố mệnh của Thượng thư, Hà Đồ Lạc Thư đã có ít nhất từ thời Chu Thành Vương và được dùng làm lễ vật cúng tế của vương triều, tức là vật linh thiêng dùng để dự đoán thời cuộc lúc bấy giờ, như câu đại ngọc, di ngọc, thiên cầu, Hà Đồ ở nhà đông.
Hà Đồ Lạc Thư được lưu truyền và long đồ tam biến
Hà Đồ Lạc Thư được lưu truyền sâu rộng hiện nay là do Trần Đoàn chế tác, in trong Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy; Chu Hy còn sửa lại tên gọi Hà Đồ Lạc Thư của Trần Đoàn. Trong Long đồ tự của Trần Đoàn có thuyết long đồ tam biến, tức Trần Đoàn dựa theo số trời đất và nghĩa tam trận cửu quái của Trọng Ni mà dựng nên. Long đồ tự đại ý nói rằng hình đồ ngựa rồng mang ra bắt đầu có từ thời Phục Hy, thuở đầu thượng cổ; về sau người ta tìm được ý nghĩa của tam trận cửu quái của Trọng Ni, thấy rõ ý của hình đồ; những người trí thức cao thượng lúc đó phát hiện ý nghĩa của tượng đồ, đó là Long đồ; vì còn tản mạn nên đến thời Phục Hy mới được gom lại mà dùng. Long đồ tam biến của Trần Đoàn: biến thứ nhất là số trời đất chưa hợp; biến thứ hai là vị trí trời đất đã hợp; biến thứ ba là hình ngựa rồng mang đồ.
Các nhà dịch học, căn cứ vào chuyện Phục Hy dùng ngựa rồng mà vẽ bát quái, nhận ra mối quan hệ mật thiết giữa bát quái và Hà Lạc, từ đó sinh ra hệ liệt đồ Hà Lạc bát quái; hình đồ tiêu biểu khá rõ là hình trong sách Chu Dịch chiết trung của Lý Quang Địa. Sách Hà lạc tinh uẩn của Giang Vĩnh đời Thanh phát triển thêm một bước mối quan hệ giữa Hà Lạc và bát quái, cho rằng Hà Lạc và bát quái, dù ở vị trí phương hướng hay ở thứ tự các số, đều ngầm hợp nhau, từ đó nhấn mạnh mối quan hệ có nguồn gốc sâu xa giữa Hà Lạc và bát quái.
Số lý và tượng lý của Hà Đồ Lạc Thư
Nguyên lý chủ yếu của Hà Đồ Lạc Thư nằm ở số; số của Hà Lạc thể hiện tập trung trong dịch số, gồm số trời đất, số sinh thành và số ngũ hành trong thiên Hồng phạm của Thượng thư. Những số ấy được phản ánh rất rõ trong long đồ tam biến. Thứ nhất là số trời đất của Hà Lạc. Hà Lạc là sự tập hợp số trời đất của Chu Dịch, thể hiện đầy đủ trong biến thứ nhất của long đồ của Trần Đoàn. Trần Đoàn cho rằng biến thứ nhất là số trời đất chưa hợp, chỉ có năm mươi lăm số, trên hai mươi lăm là số trời, dưới ba mươi là số đất.
Thứ hai là số ngũ hành của Hà Lạc. Biến thứ hai của long đồ sinh ra số ngũ hành của Hà Lạc: số một là nước ở dưới, số hai là lửa ở trên, số ba là gỗ ở phía đông, số bốn là kim ở phía tây, số năm là đất ở giữa. Số ngũ hành của Hà Lạc đặt nền vững cho số sinh thành ngũ hành. Thứ ba là số sinh thành của Hà Lạc, thể hiện chủ yếu ở Hà Đồ và rõ nhất ở biến thứ ba của long đồ: một sinh nước ở phương bắc, hai sinh lửa ở phương nam, ba sinh gỗ ở phương đông, bốn sinh kim ở phương tây, năm sinh đất ở giữa, và đó là tiêu chí của mười số thành. Tóm lại Hà Đồ Lạc Thư có ý nghĩa sâu sắc về phương diện số lý, có tác dụng đặt cơ sở quan trọng cho dịch số.
Về tượng lý, tượng hình của Hà Đồ Lạc Thư là dấu hiệu của quan niệm trời tròn đất vuông thời cổ, đồng thời tượng trưng cho sự hợp bích của mặt trời mặt trăng. Đặc điểm của nó là tượng và số đan xen nhau, tượng ở trong số ở ngoài, có ý nghĩa quan trọng về phương vị. Cửu cung bát phong trong Hoàng Đế nội kinh thể hiện mẫu mực của sự dung hợp ấy giữa số và phương vị của Lạc Thư. Cửu cung bát phong được tạo ra trên cơ sở hình đồ chín cung trong Dịch vĩ và phương vị bát quái, đều có giá trị rất cao về lịch pháp và y học.
Giá trị của Hà Đồ tượng số, từ âm dương tiêu trưởng đến không gian và thời gian
Một con số đặt đúng phương, đúng tiết thì thành nhiệt độ, thành ánh sáng, thành sự sống; người xưa gọi đó là số của trời.
Tác giả nói rằng Hà Đồ tượng số có giá trị rất cao và ảnh hưởng khá lớn, qua ba điểm. Thứ nhất, giá trị tượng số của Lạc Thư dẫn đến việc tìm ra quy luật âm dương tiêu trưởng. Số một của Lạc Thư đặt ở chính bắc, thẳng đến tiết đông chí, tượng trưng cho nhiệt độ thấp nhất, ánh sáng yếu nhất, âm khí thịnh nhất, dương khí yếu nhất. Số ba đặt ở chính đông, vào lúc xuân phân, là tiêu chí nhiệt độ bắt đầu lên, ánh sáng bắt đầu mạnh, dương trưởng âm tiêu. Số chín đặt ở chính nam, đến thời hạ chí, tượng trưng cho nhiệt độ cao nhất, dương khí thịnh nhất, âm khí rất yếu. Số bảy đặt ở chính tây, đúng lúc thu phân, ý chỉ nhiệt độ chuyển xuống thấp, ánh sáng giảm yếu, âm trưởng dương tiêu. Số đặt ở giữa ứng với ngày cuối quý bốn, thể hiện tiêu chí thích hợp của nhiệt độ, ánh sáng và âm dương. Vì ý nghĩa tượng số của Lạc Thư dẫn đến quy luật âm dương tiêu trưởng, người xưa lấy đó kết hợp với chín cung để vận dụng vào lịch pháp và y học, rồi tiếp tục ảnh hưởng lớn hơn.
Thứ hai, ý nghĩa của Hà Đồ tượng số đối với việc đi sâu quy luật sinh trưởng thịnh suy của sinh vật. Số sinh thành ngũ hành của Hà Đồ là sự dung hợp của ngũ hành trong Thượng thư với quái khí của Chu Dịch, nên có khả năng cao nhất làm tiêu chí cho quy luật sinh thành thịnh suy của sinh vật. Nước là tượng trưng của chí âm, là mẹ đẻ của vạn vật; có âm tất có dương, nên có nước tất có lửa, nước lửa giúp nhau, sinh khí hóa âm dương thì sinh vạn vật. Tính chất thăng phát của cây đại biểu cho sự sinh của vạn vật; có sinh tất có trưởng thành, nên kim khí là tiêu chí cho sự thành thục và thu hoạch của vạn vật; đất là nguồn hóa sinh của vạn vật. Số một của Hà Đồ tượng trưng cho sự cất giữ của vạn vật, số ba là tiêu chí cho sự sống, số hai đại biểu cho sự trưởng thành, số năm tượng trưng cho sự chuyển hóa, số bốn là tiêu chí cho sự thu hoạch. Tóm lại, Hà Đồ tượng số ẩn chứa sâu kín sự sinh, trưởng, hóa, thu, tàng và sự sinh, trưởng, tráng, lão của vạn vật.
Thứ ba, ý nghĩa vị trí phương hướng, không gian và thời gian trong Hà Đồ tượng số. Một ưu thế lớn nhất của Hà Đồ Lạc Thư là ưu thế về không gian và thời gian. Hệ liệt bát quái, hệ liệt thái cực, hệ liệt Hà Lạc trong dịch đồ đều có đặc sắc phản ánh không gian và thời gian, nhưng nổi bật nhất là hệ Hà Lạc, vì nó dung hợp thống nhất âm dương với ngũ hành ở tầng cao. Nước là lão âm, phương bắc là âm, thời gian là đông chí, nên nước là sự kết hợp của hành Thủy với phương bắc thuộc âm. Lửa là lão dương, phương nam là dương, nên lửa là sự kết hợp của hành Hỏa với phương nam. Gỗ là thiếu dương, phương đông là chỗ dương mới lên, nên gỗ là sự kết hợp của hành Mộc với phương đông thiếu dương. Kim là thiếu âm, phương tây là chỗ âm thịnh, nên kim là sự thống nhất của hành Kim với phía tây thiếu âm.
Lạc Thư kết hợp chữ số ở bốn phương bốn góc nên ưu thế phương vị mạnh hơn Hà Đồ, vì vậy được dùng kết hợp với hình đồ cửu cung, đẩy đến tầng cao hơn phản ánh quan hệ chuyển hóa tiêu trưởng của âm dương trong không gian và thời gian. Điểm đen trắng của Hà Lạc, con cá âm dương của thái cực đồ và các hào âm dương của bát quái đều bao hàm nguyên lý không gian thời gian hư thực. Như Càn, Khôn, Ly, Khảm chia ở bốn chỗ thực, còn Đoài, Chấn, Tốn, Cấn chia ở bốn chỗ hư, đều nói rõ hình đồ này. Đặc sắc của văn hóa truyền thống Trung Quốc là sự dung hợp của âm dương với ngũ hành, mà Hà Lạc tập trung phản ánh mối quan hệ ấy; nên Hà Lạc tuy chỉ là hai trang đồ nhỏ bé nhưng đúc kết cao độ giữa sự tiêu trưởng của âm dương và mối quan hệ tồn tại của ngũ hành, lấy chữ số để phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa âm dương và ngũ hành, lại lấy số sinh thành để thể hiện nguyên lý quái khí. Năm tiêu chí không gian thời gian của Hà Lạc là năm điểm xuất phát của mối tương quan âm dương ngũ hành; phương vị không gian thời gian của Hà Lạc phản ánh tầng cao nhất của quan niệm không gian thời gian trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Vì vậy Hà Đồ Lạc Thư qua các đời được dùng để giải thích hình đồ mô thức tốt nhất của sự sinh thành vạn vật trong vũ trụ, đồng thời là cơ sở lý luận của bộ môn này, và có giá trị quan trọng trong nền văn hóa truyền thống.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
