Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Hình Thái cực đi từ Dịch truyện vào nội đan và y học

Đạo Học - Khuyên Thiện30/09/202612 phút đọc0 lượt đọc
Hình Thái cực đi từ Dịch truyện vào nội đan và y học

Có người bảo vòng tròn đen trắng ấy là bản đồ của vầng trăng, có người bảo nó lớn lên từ hình đôi cá đuổi nhau trên chiếc chậu gốm, và có người dùng nó làm tấm bản đồ để đi vào chính thân thể mình. Bên trong cả ba cách đọc ấy đều có một câu hỏi về cái gọi là cửa của sự sống...


Hình Thái cực và nhịp của mặt trăng

Vòng tròn đen trắng quen thuộc không chỉ nói chuyện triết lý; một số người còn đọc nó như một cuốn lịch của trời.

Đường cong ôm lấy nhau

Theo tác giả, đường cong ôm lấy hai nửa âm dương trong hình Thái cực gắn với nhịp vận động của mặt trăng. Ông nhắc một số học giả đã đề xuất rằng cơ cấu theo chu kỳ của mặt trăng ứng với Thái cực, tứ tượng và sáu mươi bốn quẻ, và cho rằng Thái cực cùng sáu mươi bốn quẻ có nguồn gốc từ sự vận động ấy. Theo cách nhìn này, sáu mươi bốn quẻ ghi lại chu kỳ cận điểm của mặt trăng, còn Can Chi, ngũ vận lục khí là cái nền của Thái cực. Chu Dịch dùng Thái cực và sáu mươi bốn quẻ để chỉ ra chu kỳ hội hợp của cận điểm nguyệt với ngày sóc vọng, rồi dùng học thuyết ngũ vận lục khí để nói tiếp chu kỳ năm. Ông tin rằng hệ thống Thái cực là một trong những cấu trúc chu kỳ liên hệ mặt trời, mặt trăng và trái đất, nên có ý nghĩa đối với vũ trụ học và thiên văn học. Đây là hướng giải thích của một số nhà nghiên cứu Trung Quốc, chưa phải kết luận phổ biến của giới thiên văn.

Dịch truyện đặt tên và cho Thái cực một nội dung

Cái tên Thái cực xuất hiện trong một câu ngắn, nhưng câu ấy kéo theo cả một hệ thống hiểu về sự chuyển hóa của khí.

Tác giả nhấn mạnh rằng Dịch truyện không chỉ đặt tên cho Thái cực mà còn đưa vào nội dung chuyển hóa khí âm dương. Ông giải nghĩa từng bậc trong câu quen thuộc: vô cực sinh thái cực, và thái cực chỉ trời đất càn khôn; lưỡng nghi là âm dương; tứ tượng là thiếu dương, lão dương, thiếu âm, lão âm, tức sự thịnh suy của âm dương qua bốn mùa; bát quái là trời, đất, gió, sấm, nước, lửa, núi, đầm, tượng trưng cho kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Câu "một âm một dương gọi là đạo" thì được ông hiểu là Thái cực chính là một thể thống nhất của sự chuyển hóa ấy.

Những câu như "âm nghi ngờ dương thì ắt đánh nhau", "hai khí cảm ứng để cùng nhau", hay "trong âm ngoài dương, trong nhu ngoài cương" cho thấy Dịch truyện chú ý tới sự tác động lẫn nhau của hai khí. Nhiều sách khác dường như nói cùng điều dù không nhắc chữ Thái cực: Lão Tử nói vạn vật cõng âm ôm dương, Trang Tử nói âm dương vận hành bốn mùa, Tuân Tử nói trời đất hợp mà sinh vạn vật, Quản Tử, Lã thị Xuân Thu, Hoài Nam Tử, Xuân Thu phồn lộ cũng có ý tương tự. Theo tác giả đó là dấu vết ảnh hưởng của Dịch truyện.

Ba đóng góp mà ông tổng kết

Ông gom công của Dịch truyện vào ba điều: lần đầu thống nhất Thái cực với âm dương, mở ra quan hệ giữa Thái cực và sự chuyển hóa âm dương; gắn Thái cực với bốn mùa, nhấn mạnh sự thịnh suy của âm dương theo tứ thời; và gắn Thái cực với bát quái, làm nổi bật tính vật chất của khí hóa âm dương.

Hình Thái cực đến từ đâu

Không ai biết người nào vẽ ra vòng tròn ấy đầu tiên, nhưng người ta biết khá nhiều về những nguồn có thể đã góp vào nó.

Ông kể Ngụy Bá Dương đời Hán, trong Chu Dịch tham đồng khế, đưa ra hình "thủy hỏa khuông khuếch" và hình "nguyệt thể nạp giáp", mà ông xem là mô hình cá âm dương sớm nhất, dựa trên sự thịnh suy của mặt trăng. Ông cũng cho rằng hình Thái cực không phải do các đạo sĩ như Thiệu Ung hay Chu Đôn Di vẽ ra, vì Thái cực đồ thuyết của Chu Đôn Di lấy từ một bức đồ trong Đạo tạng, trong đó đạo sĩ phát triển hình tu luyện thành hình nói về sự ra đời của vũ trụ. Hình ấy, ông nói, được dựng trên sự kết hợp của hai phái Nho và Đạo.

Ông còn đề xuất một nguồn khác: hình Thái cực hiện nay có thể bắt nguồn từ hình vảy cá thời cổ, từ hình cá mặt người và hình đôi cá đuổi nhau trên các đồ gốm, và như vậy là sản phẩm của tục sùng bái đồ đằng. Dù nguồn gốc là vầng trăng khuyết hay đồ đằng cá, hình ấy vẫn gắn với đời sống lao động, nên được nhân dân coi trọng. Những người truyền bá nó ra rộng là các nhà tư tưởng đời Tống như Chu Hy, Trần Đoàn, Thiệu Ung, Chu Đôn Di, trong đó Chu Hy là người đầu tiên đưa hình vào sách Thái cực bản nghĩa.

Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trình Di

Sau khi hình xuất hiện, ba triết gia Tống tiếp tục phát triển lý luận. Chu Đôn Di nêu ý Thái cực động sinh dương, tĩnh sinh âm. Thiệu Ung bàn việc âm dương giao nhau mà sinh tứ tượng rồi bát quái. Trình Di nói âm dương không gặp nhau thì vạn vật không sinh, và âm cực thì dương sinh. Tác giả cho rằng nhờ bát quái, Thái cực gắn với thế giới vật chất từ đầu, và hình Tiên thiên của Trần Đoàn về thực chất là hình Thái cực bát quái của Dịch truyện.

Thái cực đi vào nội đan

Không chỉ đứng trong sách triết học, những vạch âm dương còn được dùng làm bản đồ cho việc tu luyện thân thể.

Tác giả dành một mục cho việc ứng dụng Thái cực trong nội đan của Đạo gia. Ông kể lý luận nội đan xuất hiện sớm nhất trong Chu Dịch tham đồng khế, lấy bốn quẻ Càn, Khôn, Khảm, Ly làm chủ, trong đó Càn Khôn là lò đỉnh và Khảm Ly là nước lửa, gắn với sự vận hành của khí và của mặt trời mặt trăng. Đóng góp của bộ sách này, theo ông, gồm ba điều: dựa vào bát quái Thái cực đặt nền lý luận cho nội đan; kết hợp nguyệt thể nạp giáp với mười hai quẻ tiêu tức để luyện đan tương ứng với nhật nguyệt; và kết hợp khí âm dương với quẻ để làm rõ nguyên tắc vận hành khí. Ông cho rằng nhờ đó Dịch trở thành gốc chung của Nho và Đạo.

Ông nhắc hình vô cực của Trần Đoàn và Chu Đôn Di trở thành nguyên lý tu luyện đạo đan, theo giải thích trong Đồ học biện hoặc của Hoàng Tông Viêm gồm năm bước: huyền tẫn chi môn, luyện tinh hóa khí và luyện khí hóa thần, ngũ khí triều nguyên, thủ khảm điền ly, luyện thần hoàn hư. Nguyên lý chung là tu luyện tinh thần cho tới lúc thoát khỏi trần tục, đi từ hữu cực trở về vô cực.

Ông lần lượt nêu ba bộ kinh điển của đạo đan. Tính mệnh khuê chỉ coi cơ thể con người là một Thái cực nhỏ, sinh hóa cùng Thái cực của trời đất. Hoàng đình kinh dựa vào chuyển hóa âm dương Thái cực và nhấn mạnh âm dương trong thân người cũng như ngoài vũ trụ. Ngộ chân thiên đề cao chân âm chân dương, tức thận thủy và tâm hỏa, chỉ khi hai thứ kết hợp thì Khảm Ly mới tương tế, đồng thời dạy đưa sự chuyển hóa trong thân về khớp với nhịp thịnh suy của mặt trăng mặt trời.

Thái cực trong y học: chuyện mệnh môn

Trong y học Trung Hoa, âm dương Thái cực xuất hiện dưới dạng một câu hỏi rất cụ thể: cái "cửa sinh mệnh" nằm ở đâu.

Ông viết rằng lý luận Trung y lấy âm dương làm nền, xuyên suốt từ lý, pháp, phương đến dược. Trong Nội kinh, "mệnh môn" ban đầu chỉ con mắt, sau Nan kinh liên hệ nó với thận khí và cho rằng đó là nơi cất tinh của nam giới và bào của nữ giới. Sau đó lý luận mệnh môn qua ba giai đoạn. Ở giai đoạn một, Nan kinh nêu mối quan hệ giữa mệnh môn với thận và với khoa học về sự sống. Ở giai đoạn hai, Triệu Hiến Khả đời Minh cho mệnh môn nằm giữa hai quả thận, là động lực gốc như ngọn lửa của cuộc sống, còn Tôn thị nói nó không phải nước cũng không phải lửa mà là gốc của âm dương, nhưng cả hai cách nhìn thiên về mệnh hỏa và coi nhẹ chân thủy. Ở giai đoạn ba, Trương Cảnh Nhạc đưa âm dương Thái cực vào lý luận mệnh môn và đề ra "nguyên âm, nguyên dương", viết hai tác phẩm bàn riêng về điều đó.

Về vị trí của mệnh môn, các thầy thuốc cũng chưa đồng nhất: có người xếp thận bên trái và mệnh môn bên phải, có người gọi chung hai quả thận là mệnh môn, và như Triệu Hiến Khả thì đặt nó ở chính giữa hai thận. Điều tác giả muốn nhấn mạnh là qua mỗi giai đoạn, người ta lại gắn nó chặt hơn với nền âm dương, cho tới khi nó thành một khái niệm trung tâm của cách hiểu về sinh mệnh trong Trung y. Ông cũng nhận xét rằng thuyết mệnh môn ban đầu chỉ nhìn hệ tiết niệu, về sau mới chú ý đến mối quan hệ giữa nội tiết và sinh dục, dù còn lẫn giữa thận và mệnh môn.

Tác giả còn nói khoa học hiện nay đã chứng minh nguyên âm nguyên dương tồn tại trong cơ thể qua hàm lượng cAMP và cGMP. Đây là một liên hệ được đề xuất ở phạm vi Trung y hiện đại, nên nếu cần hiểu chính xác, người đọc nên đối chiếu thêm với tài liệu sinh hóa chuyên ngành.

Thái cực như một biểu tượng của cả một nền văn hóa

Và có một khẳng định lớn: hình tròn hai màu ấy thâu tóm cả tinh thần Trung Hoa.

Từ rồng phượng đến âm dương

Ông cho rằng trong dòng sông Dịch học dài ba nghìn năm, văn hóa Thái cực là dòng chảy chính, và bản thân nó là văn hóa âm dương mang màu sắc của Chu Dịch. Kinh Dịch có công sinh ra lý luận âm dương, Dịch truyện đẩy lý luận ấy lên cao, và nhờ ảnh hưởng của Dịch truyện, các phái như Lão, Trang, Tuân, Mặc đều phát triển học thuyết của mình trên nền Thái cực. Ông đề nghị hiểu Thái cực là cách gọi khác của âm dương, và coi hình Thái cực là "thiên hạ đệ nhất đồ".

Ông kể rằng văn hóa Trung Hoa bắt đầu thời kỳ âm dương từ tục thờ đồ đằng rồng phượng. Quẻ Càn của Kinh Dịch là ghi chép đầu tiên về văn hóa rồng, mô tả các tư thế của rồng ứng với quy luật thịnh suy âm dương, còn Kinh Thi ghi đồ đằng chim huyền, tức chim phượng, sớm nhất. Hình chim huyền trên đồ đồng Thương Chu cùng hình rồng phượng ở các di chỉ Ngưỡng Thiều, Long Sơn, Đại Văn Khẩu cho thấy văn hóa rồng phượng đã trở thành nền của văn hóa Thái cực. Đến đời Tống, nhờ thuyết Dịch đồ và hình Thái cực, các nhà Dịch lý nâng nó lên đỉnh cao mới: Thái cực có mặt trong đạo đan, khoa học tự nhiên, kiến trúc, văn học nghệ thuật, thư họa, ca nhạc, võ thuật và ẩm thực.

Tư duy đường tròn

Tác giả cho rằng tư duy Thái cực là cha đẻ của tư duy phương Đông. Vạn vật đều có thể quy về phạm trù âm dương, và tư duy Thái cực là kết tinh cao độ của quy luật ấy. Hai nửa âm dương cùng tồn tại, chế ngự nhau, bổ sung nhau, đường cong hình chữ S cho thấy hai thứ luôn ở trạng thái động. Ông gọi đó là "tư duy đường tròn", trong đó quy luật vận động hàm ý phủ định của phủ định. Ông nói tư duy này cùng với Dịch học, Nho học đã truyền sớm sang Triều Tiên, Nhật Bản, rồi Việt Nam, tạo thành một vòng văn hóa Đông Á. Ông kể rằng quốc kỳ Hàn Quốc dựng trên lý luận của Dịch, võ đạo Nhu thuật Nhật Bản ứng dụng nguyên lý cương nhu hòa hợp, và cả biểu tượng của một số kỳ Thế vận hội, huy hiệu một hãng hàng không cũng lấy hình Thái cực. Những ví dụ này cho thấy hình Thái cực đã đi xa hơn phạm vi văn hóa Trung Hoa.

Những dự đoán về thế kỷ mới

Ông khép phần này bằng một tiên đoán: thế kỷ hai mươi mốt sẽ là thế kỷ của văn hóa Thái cực. Ông định nghĩa "khoa học Thái cực" bằng ba nguyên lý là âm dương đối lập mà thống nhất, âm dương bổ sung nhau, âm dương hòa hợp nhau, và đề nghị dùng nó trong thiên văn, vật lý, hóa học, sinh vật, toán học, y học. Ông viết rằng bốn nhà khoa học đã được giải Nobel nhờ vận dụng thành công Dịch lý, và cho rằng khoa học Thái cực sẽ thay lối nghiên cứu cục bộ, chia nhỏ bằng tư duy toàn diện, liên hệ, tổng hợp. Ông cũng nói khoa học Thái cực có thể là lý luận cao nhất của khoa học đời sống, vì vũ trụ là một Thái cực lớn còn con người là một Thái cực nhỏ, và văn hóa Thái cực đóng vai trò kết nối Đông Tây với mong ước hòa bình.

Đây là những nhận định mang màu sắc kỳ vọng và tự hào văn hóa của tác giả, nhiều điểm trong số đó như chuyện giải Nobel hay khả năng thay thế tư duy phân tích chưa có bằng chứng được thừa nhận rộng rãi. Người đọc có thể giữ lại phần mô tả lịch sử về hình Thái cực và cách người xưa dùng nó để nghĩ về sự chuyển hóa, còn các dự đoán thì nên coi là quan điểm riêng của người viết.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện