Bài tổng quan
Dịch tượng sinh số, lời quẻ và phép thủ khảm điền ly
Cái vạch ngang trên bức quẻ không biết nói, vậy mà từ nó lời quẻ đã cất lên rành rọt. Đến người thầy dưỡng sinh, ông lại bảo muốn trẻ lại thì phải lấy cái đầy của nước bù vào cái rỗng của lửa...
Dịch tượng, nguồn gốc của muôn số
Tác giả khẳng định bát quái khởi nguồn từ tượng, điều đã được Chu Dịch xác nhận. Hệ từ kể rằng thời họ Bào Hy cai trị thiên hạ, ngẩng lên xem tượng trên trời, cúi xuống xem phép dưới đất, thấy văn vẻ của chim muông, gần thì lấy nơi thân, xa thì lấy nơi vật, rồi mới sinh ra tám quẻ để thông với đức của thần minh và hợp với tình của vạn vật. Do quan sát tượng mà giải được bát quái, còn số lại do tượng mà có, từ nguồn gốc của chiêm bốc. Điều này có thể chứng minh bằng việc phép bói cổ đại lúc đầu là xem xét hình tượng, rồi sau mới phát triển thành lấy số. Tả truyện viết rằng mai rùa là tượng, cỏ thi là số; vật sinh ra rồi mới có tượng, có tượng rồi mới có sinh sôi, có sinh sôi rồi mới có số.
Tuy vậy cũng có quan điểm khác cho rằng số có trước tượng. Hán thư, phần Luật lịch chí, viết rằng Phục Hy vẽ bát quái, khởi đầu từ số. Ngày nay có học giả, qua việc khai quật đồ cổ, tìm thấy giáp cốt thời Tây Chu và chữ số khắc trên đồ đồng, nên phán đoán bát quái có nguồn gốc từ số, như Trương Chính Lãng và những người khác. Từ năm 1993, khi khai quật một ngôi mộ cổ thời Hán, người ta phát hiện trên mai rùa những quẻ bát quái xưa nhất, có khắc quẻ Chấn và quẻ Càn, và lại nêu lên vấn đề rằng nét vẽ quẻ có nguồn gốc sớm nhất, không phải tượng sinh ra từ số.
Tác giả lập luận rằng theo quy luật phát triển của loài người, tư duy trừu tượng bắt nguồn từ tư duy hình tượng, vậy tượng phải có trước số, số do tượng sinh ra mới hợp với quy luật của tư duy. Bát quái và sáu mươi bốn quẻ đều bao hàm sự tàng ẩn của số như số lẻ chẵn, số trời đất, số âm dương, số đại diễn. Vì vậy dịch tượng là nguồn gốc của vạn số; dịch số do dịch tượng sinh ra lại phát triển dịch tượng, và có tác dụng lớn đối với sự phát triển của số học trong dịch tượng.
Dịch tượng, khởi thủy của muôn lời
Cái vạch ngang trên bức quẻ không biết nói, nhưng từ nó lời quẻ đã cất lên, rành rọt đến mức người đời sau chép mãi vẫn chưa hết.
Phù hiệu là một trong những đặc trưng của văn hóa Trung Quốc thời cổ. Người xưa chế tác phù hiệu nhằm biểu ý, nên ý tượng là một hàm nghĩa của dịch tượng: trong tượng có ý, ý được xưng danh qua tượng. Chu Dịch viết:
Lập tượng dĩ tận ý, thiết quái dĩ tận tình ngụy.
Nghĩa là dựng tượng để tỏ hết ý, đặt quẻ để biểu lộ hết tình thật giả. Điều đó thể hiện rõ mối quan hệ mật thiết giữa tượng và ý. Ý bao hàm trong quái tượng vô cùng sâu sắc, như nguyên lý âm dương tiêu trưởng, nguyên lý thống nhất đối lập của âm dương, nguyên lý vận động tăng giảm của khí cơ; tất cả phản ánh đầy đủ quy luật mâu thuẫn và nguyên lý vận động của sự vật. Nhất là qua những quan hệ biến hóa giữa các hào âm hào dương, phản ánh những nguyên lý biện chứng về vận động, liên hệ và biến hóa giữa các sự vật. Những ẩn nghĩa sâu kín ấy trong quái tượng thành đầu mối sinh ra lời Dịch, như nguyên lý chuyển hóa âm dương tiêu trưởng mà các chữ tiềm, hiện, dược, phi, cang trong hào từ quẻ Càn bao hàm, cùng những quy luật mâu thuẫn, nguyên lý vận động làm sáng sự vật trong Hệ từ, tất cả đều là sự tinh luyện của dịch tượng. Có thể nói hẳn rằng dịch từ vốn gốc ở dịch tượng, lại thăng hoa dịch tượng.
Tóm lại, dịch tượng là sự tổng kết văn hóa phù hiệu Trung Quốc, còn dịch từ là sự thăng hoa của dịch tượng, nên cũng là sự tổng kết lớn nhất đối với văn hóa Trung Quốc. Dịch từ có nguồn gốc ở dịch tượng, dịch tượng là khởi thủy của vạn từ. Điều ấy phù hợp với quy luật tư duy trừu tượng bắt nguồn từ tư duy hình tượng thời cổ đại Trung Quốc, và đó cũng là ý nghĩa cao nhất của câu xem tượng để lấy ý.
Từ hình tượng đến pháp tượng
Trước hết người ta chỉ nhìn, rồi đến lúc quên cả cái đang nhìn mà vẫn hiểu; chặng đường ấy được người xưa chia thành ba bậc.
Từ hiện tượng đến quan tượng
Hiện tượng là biểu hiện bên ngoài của sự vật. Chu Dịch nói rằng ở trời thành tượng; hiện tượng là biểu hiện bề ngoài của sự vật, là một mặt mà giác quan con người nhận biết được, và cũng là sự tổng kết hình thức đối với hiện tượng của sự vật. Hình tượng là giai đoạn đầu của dịch tượng, thuộc giai đoạn quan tượng, tức là nhận thức về sự vật, trước hết bắt đầu từ lấy tượng đo cái tàng ẩn, gồm nhận thức về sự lý và vật lý. Chu Dịch rất coi trọng và lập riêng quẻ Quan để làm sáng điều ấy, như các câu:
Quan ngã sinh tiến thoái. Trung chính dĩ quan thiên hạ. Tiên vương dĩ tỉnh phương quan dân thiết giáo.
Ta xem sự sinh sống của mình mà tiến lui; giữ trung chính để xem thiên hạ; bậc tiên vương đi khắp các phương xem dân mà lập giáo hóa. Những lời ấy cho thấy sự coi trọng quan tượng ở mức cao. Quan tượng của Chu Dịch là giai đoạn nhận thức đầu tiên đối với hiện tượng sự vật, là một nội dung chủ yếu của dịch tượng; từ hiện tượng đến quan tượng chính là lấy tượng đo cái tàng ẩn.
Từ tượng hình đến ý tượng
Hình tượng chỉ dáng vẻ, hình trạng của sự vật, thuộc biểu tượng của sự vật. Hình tượng của Chu Dịch lại gọi là tượng hình, là sự hợp nhất của đồ tượng và trưng tượng. Tượng hình của Chu Dịch phát triển thêm một bước trên cơ sở hình tượng, là sự kết hợp giữa hình tượng và ý tượng, là sự thăng hoa trong phạm trù triết học. Tượng hình ảnh hưởng lớn đến đặc sắc văn hóa truyền thống Trung Quốc, từ văn tự tượng hình cho đến mỹ thuật, hội họa, điêu khắc, y học, ẩm thực, tất cả đều thấm nghệ thuật tượng hình. Nguồn sâu xa của quan niệm tượng hình trong Chu Dịch đã đặt nền móng cho văn hóa tượng hình Trung Quốc.
Giai đoạn cao nhất của tượng hình là ý tượng, tức khi tượng hình đạt tới giới hạn biểu ý cao nhất, là lúc có thể quên hình tượng mà vẫn hiểu ý, nghĩa là đã thoát khỏi sự ràng buộc của hoàn cảnh của tượng. Như Vương Bật nêu:
Đắc ý tại vong tượng.
Được ý là ở chỗ quên tượng. Cho nên ý tượng là bước phát triển phi thường của tượng hình. Tóm lại, từ tượng hình đến ý tượng là hai giai đoạn phát triển quan trọng của dịch tượng trong Chu Dịch học đối với tư duy, văn học và nghệ thuật văn hóa Trung Quốc.
Pháp tượng, sự thăng hoa của việc so sánh tượng
Pháp tượng là một nội dung chủ yếu về phép của dịch tượng. Hệ từ nói cao thì bắt chước trời, thấp thì noi theo đất. Pháp tượng là thuật ngữ triết học, một trong những phương pháp luận để nhận thức sự vật, như Chu Dịch nói rằng pháp tượng không gì lớn bằng trời đất, và biến thông không gì lớn bằng bốn mùa. Pháp tượng lại là sự thăng hoa của việc so sánh tượng, tức lấy loại để so với tượng. Chu Dịch nói ngẩng lên xem tượng ở trời, cúi xuống xem pháp ở đất, thế rồi mới làm bát quái để thông đức thần minh và hợp tình vạn vật; điều ấy nhằm lấy loại để so tượng. Chu Dịch còn nói:
Tượng dã giả, tượng dã.
Nghĩa là tượng là giống hình vậy; trong đó đã bao hàm ý so sánh hình tượng. Vậy so sánh tượng là cách nói thay cho lấy tượng theo loại, còn pháp tượng là sự kết hợp giữa ý tượng và so sánh tượng, ở giai đoạn cao hơn của dịch tượng, vì pháp tượng mang ý nghĩa ở tầng cao nhất của chặng đi từ hình tượng đến trừu tượng. Đặc biệt, pháp tượng của Chu Dịch nhấn mạnh việc lấy tượng không thể tùy tiện suy đoán; câu pháp tượng không gì lớn bằng trời đất chính là chỉ ra rằng không được vượt ra ngoài quy luật tự nhiên. Pháp tượng coi trọng so sánh tượng nên cần có hình tượng, lại nhấn mạnh sự khác nhau giữa ý tượng và tượng suy đoán, tức nêu bật pháp tượng là sự thống nhất của hình tượng và ý tượng.
Tổng quát lại, quan hệ giữa hình tượng, ý tượng và pháp tượng của Chu Dịch là sự thống nhất biện chứng: vừa đối lập vừa gắn bó mật thiết, thành hạt nhân quan trọng của dịch tượng, và ảnh hưởng sâu xa đến văn hóa tượng hình của Trung Quốc.
Dịch đồ, tinh hoa quý báu của dịch tượng
Khi tượng chưa đủ chỗ để đứng, người ta vẽ cho nó một cái vòng, và trong vòng ấy tám quẻ ngồi theo bốn phương.
Dịch đồ là kho báu quan trọng trong dịch học, có tác dụng thúc đẩy lớn đối với sự phát triển của dịch học. Tác giả nói trước về hệ thống bát quái đồ và ảnh hưởng của nó. Bát quái đồ gồm hai bộ phận lớn là hệ thống tám quẻ kinh và hệ thống sáu mươi bốn quẻ kép, đều ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa Trung Quốc. Trước hết là hai đồ tiên thiên và hậu thiên. Tiên thiên bát quái đồ đặt Càn ở nam, Khôn ở bắc, Ly ở đông, Khảm ở tây; hậu thiên bát quái đồ đặt Ly ở nam, Khảm ở bắc, Chấn ở đông, Đoài ở tây. Tiên thiên bát quái đồ còn gọi là Phục Hy bát quái đồ, hậu thiên là Văn Vương bát quái đồ, hai đồ mẫu cơ bản nhất và ảnh hưởng lớn nhất trong bát quái đồ.
Về ý nghĩa của tiên thiên bát quái đồ: nó có ý nghĩa lớn trong sự hình thành triết lý dịch học. Đồ lấy trời đất Càn Khôn làm kinh bản, lấy mặt trời, mặt trăng, nước, lửa làm vĩ độ, còn sấm, gió, núi, đầm quây quần ở giữa vòng. Điều này phản ánh quan điểm trọng yếu về nguồn gốc vũ trụ của bát quái Chu Dịch, đồng thời cô đọng đậm nét tư tưởng vũ trụ sinh thành luận của Chu Dịch. Tiên thiên bát quái đồ và dịch từ cùng soi sáng cho nhau, đặt cơ sở quan điểm vật chất vũ trụ cho dịch lý.
Về ý nghĩa của hậu thiên bát quái đồ: đồ lấy Ly Khảm, lửa và nước, làm nam bắc, Chấn Đoài ở đông tây, thể hiện ưu thế về phương vị, thời gian và không gian của bát quái. Nó cô đọng đậm nét nguyên lý tiêu trưởng âm dương của bát quái, tập trung mối quan hệ giữa bát quái và sự di chuyển của bốn mùa, và ảnh hưởng lớn đến lịch pháp, y học, dưỡng sinh và chiêm bốc dự đoán của đời sau. Tiên thiên bát quái có ý nghĩa quan trọng đối với bộ môn dưỡng sinh và đạo đan, còn hậu thiên bát quái có quan hệ mật thiết với y học và lịch pháp.
Phép thủ khảm điền ly
Phép lấy Khảm lấp Ly, và phép quan sát vòng trời của nhiếp sinh, là sự kết hợp của tiên thiên và hậu thiên bát quái. Các nhà đạo gia và nhiếp sinh cho rằng con người trước khi sinh đều thuộc tiên thiên bát quái, cấu trúc ấy là Càn ba nét liền, Khôn ba nét đứt, tức Càn hỏa và Khôn thủy chủ nơi tim và thận. Người mới sinh ra, trời đất Càn Khôn liền chuyển hóa thành Ly Khảm, nước lửa, từ đó xuất hiện tình trạng trong Ly thì rỗng, trong Khảm thì đầy. Người càng nhiều tuổi thì trong Ly càng rỗng, dương hỏa càng suy, trong Khảm càng đầy, âm thủy càng thịnh. Vì vậy càng cần lấy Khảm lấp Ly để bồi bổ chỗ rỗng trong Ly và phòng chỗ đầy trong Khảm, từ đó dần phục hồi diện mạo gốc của Càn Khôn. Đó chính là phương pháp tu luyện dưỡng sinh làm cho hậu thiên bát quái trở về tiên thiên bát quái.
Phép lấy Khảm lấp Ly trong đồ vô cực của Trần Đoàn biểu thị đúng quy tắc của đạo đan tu luyện, mà nó lại bắt nguồn từ đồ khuông khoách thủy hỏa trong Chu Dịch tham đồng khế. Tiên thiên bát quái đồ và hậu thiên bát quái đồ đều là kết tinh của dịch lý, bao hàm những triết lý tinh thâm sâu sắc của Chu Dịch. Cụ thể hơn, tiên hậu thiên của Trần Đoàn chỉ đạo cho đạo đan tu luyện: mượn tiên hậu thiên bát quái để lấy Khảm lấp Ly, ý nói con người trước khi sinh ra, âm dương hợp nhau rất mật thiết, nước lửa đầy đủ, tỏ rõ trạng thái tiên thiên bát quái, tức Càn ba hào dương, Khôn ba hào âm. Sau khi sinh, nước lửa lên xuống, âm dương giao nhau, biến thành trạng thái hậu thiên bát quái, trong Ly rỗng, trong Khảm đầy.
Như vậy đạo đan tu luyện cần lấy chân âm trong Ly để giao xuống thận, và dẫn chân dương trong Khảm lên bổ cho tim. Khảm Ly giúp nhau thành ký tế, nước lửa giao hòa; trong Ly cái rỗng thành Càn ba nét liền, trong Khảm cái đầy thành Khôn ba nét đứt, mục đích là khôi phục hậu thiên bát quái thành trạng thái tiên thiên bát quái. Tu luyện nội đan như vậy gọi là thủ khảm điền ly.
Ảnh hưởng của tiên thiên và hậu thiên trong dịch học
Thời Bắc Tống là thời hoàng kim của sự phát triển sâu rộng của dịch đồ học. Thiệu Ung gọi bát quái đồ lấy Càn Khôn Khảm Ly làm kinh vĩ, theo phép Trần Đoàn truyền, là tiên thiên đồ hình và xưng là Phục Hy bát quái đồ; trên cơ sở đó dịch học phát triển mạnh thành tiên thiên dịch học. Ông gọi bát quái đồ lấy Khảm Ly Chấn Đoài làm đường dọc ngang, vốn lưu hành từ Dịch Hán, là hậu thiên đồ, gọi là Văn Vương bát quái đồ, và từ đó phát triển thành hậu thiên dịch học. Tiên hậu thiên dịch học của Thiệu Ung theo nghĩa căn bản là: con người khi chưa sinh ra mà hành sự thì gọi là tiên thiên, sau khi sinh ra mà hành sự thì gọi là hậu thiên, đúng như Văn ngôn của Chu Dịch nói:
Phù đại nhân giả, dữ thiên địa hợp kỳ đức, dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh, dữ tứ thời hợp kỳ tự, dữ quỷ thần hợp kỳ cát hung. Tiên thiên nhi thiên phất vi, hậu thiên nhi phụng thiên thời.
Bậc đại nhân hợp đức với trời đất, hợp sáng với mặt trời mặt trăng, hợp thứ tự với bốn mùa, hợp lành dữ với quỷ thần; làm trước trời mà trời không trái, làm sau trời thì vâng theo thời trời.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
