Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Âm dương trong Chu Dịch: giao khí, tiêu tức và hỗ căn

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202613 phút đọc4 lượt đọc
Âm dương trong Chu Dịch: giao khí, tiêu tức và hỗ căn

Trong cả bộ Kinh Dịch cổ nhất, chữ dương còn chưa xuất hiện, mà chỉ có tiếng hạc kêu ở chỗ tối. Vậy mà từ một nét liền và một nét đứt, người xưa đã dựng nên cả một cách hiểu về mây, mưa, sấm chớp và vòng quay bốn mùa...


Ba cách nhìn nền tảng và hạt nhân âm dương

Cả cuốn Dịch có thể đọc như một cây ba rễ, trong đó rễ cái là âm dương.

Tác giả mở chương mới bằng nhận định rằng lý luận cơ bản của Chu Dịch nằm ở ba nguyên lý: âm dương quan, tức quan niệm về âm dương, nhân uân quan, tức quan niệm về sự hỗn độn, và biến dịch quan, tức quan niệm về biến đổi. Trong đó lý luận âm dương là hạt nhân của Dịch lý và đặt nền cho văn hóa âm dương Trung Hoa. Nhân uân quan mở ra một dòng chảy mới cho quan niệm về bản thể vũ trụ. Biến dịch quan là tinh túy, là hồn sống của Chu Dịch.

Ngoài ra, Chu Dịch còn có tam tài chỉnh thể quan, quan niệm về chỉnh thể ba tài, tức đạo của trời, đạo của đất và đạo của con người. Ông coi đó là một khoa học chỉ đạo phương pháp nghiên cứu. Các quan niệm về hành động trong Chu Dịch là triết lý nhân sinh, tư duy biện chứng, và là phương pháp chỉ đạo cách đối nhân xử thế. Vì thế Chu Dịch trở thành đầu nguồn của lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học, văn hóa, tư tưởng Trung Hoa, ảnh hưởng sâu đến khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Chữ Dịch là tên gọi thay cho phần nghĩa lý trong Chu Dịch, gồm ba phần chính: lý luận về âm dương, Dịch lý và trung hòa quan.

Âm dương là gì, và vì sao Chu Dịch đưa nó lên đỉnh

Từ bóng nắng trên mái nhà đến cả một bộ sách, hai chữ âm dương đi một chặng đường dài.

Một nét liền và một nét đứt

Dịch truyện nói một âm một dương gọi là đạo. Hào âm được ký hiệu bằng hai gạch nối, hào dương bằng một gạch liền, chính là sự phản ánh của quy luật ấy. Cách suy luận này khái quát được quan hệ mâu thuẫn giữa các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ. Tác giả ví nó như Vạn Lý Trường Thành tượng trưng cho văn minh Trung Hoa, tượng trưng cho ngọn hải đăng của triết lý. Đặc trưng của văn hóa Trung Hoa là văn hóa âm dương, và Chu Dịch là đại diện của văn hóa ấy. Lý luận âm dương là lý luận hạt nhân của Dịch lý.

Vậy âm dương là gì? Hệ từ nói Dịch có thái cực, thái cực sinh hai nghi. Hai nghi chính là hai cực âm và dương ôm lấy nhau. Âm dương là hai mặt đối lập của sự vật. Dương gồm số lẻ, sáng, hướng chính, động, cứng mạnh, lên trên, ngoài, số dương, đặc, ấm nóng, hưng phấn, mở. Âm gồm số chẵn, tối, hướng phụ, tĩnh, mềm thuận, xuống dưới, trong, số âm, rỗng, hàn lạnh, kìm chế, đóng. Ông nói điều này khái quát rằng âm dương là hai mặt đối lập nhưng thống nhất, tồn tại dựa vào nhau và chuyển hóa cho nhau.

Từ bóng mặt trời đến hai chữ trong sách

Âm dương xuất hiện và luân chuyển không ngừng. Từ thời đầu, người Trung Hoa quan sát bóng mặt trời và khẳng định hướng về mặt trời là dương, bóng của nó là âm. Trong nền văn hóa Ngưỡng Thiều mấy nghìn năm trước, người ta xây nhà đều chọn mặt trước hướng dương, mặt sau hướng âm, đó là sự ứng dụng quan niệm âm dương. Sách Thuyết văn thông huấn định thanh có câu rằng khí âm là khi chỉ thấy mây mà không thấy mặt trời, khí dương là khi mây mở ra mà thấy mặt trời.

Tác giả để ý rằng với hai chữ âm và dương, trong Kinh Dịch chỉ có chữ âm mà chưa có chữ dương, cụ thể là ở hào quẻ Trung Phu có câu hạc kêu ở chỗ tối. Hai chữ âm và dương cùng xuất hiện sớm nhất trong Chu ngữ thượng của Quốc ngữ, nói khí của trời đất không được để mất thứ tự, nếu vượt quá trật tự ấy thì dân loạn. Khí dương nằm xuống mà không ra được, khí âm bị ép mà không bốc lên được, nên mới có động đất. Thiên Chiêu Công nguyên niên trong Tả truyện nói trời có sáu khí, sáu khí ấy là âm, dương, gió, mưa, tối, sáng. Chương bốn mươi hai của Lão Tử có câu vạn vật cõng âm mà ôm dương.

Nhưng Chu Dịch mới là tác phẩm đưa lý luận âm dương lên mức thăng hoa cao nhất. Bộ sách thực chất là một bộ sách chuyên về âm dương. Thiên Thiên hạ trong Trang Tử nói Dịch lấy âm dương làm đạo. Trương Cảnh Nhạc đời Minh viết rằng âm dương tuy có trong Nội kinh, nhưng chỗ biến hóa lớn nhất lại ở Chu Dịch, nghĩa là trong Nội kinh âm dương còn nhỏ, trong Chu Dịch thì lớn vô cùng. Câu ấy đủ để nói lên giá trị của âm dương trong Chu Dịch.

Kinh Dịch lấy sự chuyển hóa mâu thuẫn giữa lành dữ, họa phúc làm hạt nhân, thông qua quẻ, hào tượng và hào từ để phản ánh quan hệ đối lập mà thống nhất, từ đó nắm được quy luật phổ biến của vũ trụ, chính là quy luật âm dương. Dịch truyện khái quát trừu tượng ở mức cao nhất nguyên lý cơ bản của quy luật phổ biến ấy, đặt nền móng cho văn hóa âm dương Trung Hoa. Trong cả quá trình phát triển của Dịch lý, nó có những ứng dụng kỳ diệu của lý luận cơ bản về âm dương. Dù là triết lý, vật lý hay luân lý đều phải chạm đến quan niệm âm dương, nên nó trở thành nội dung cơ bản của văn hóa âm dương. Tác giả kết rằng âm dương không chỉ là hạt nhân của Chu Dịch mà còn là hạt nhân của văn hóa truyền thống Trung Hoa, ảnh hưởng rất lớn đến y học, triết học, luân lý và văn hóa tư tưởng.

Khí hóa âm dương: ba nguyên lý trụ cột

Khí hóa là cốt tủy, và cốt tủy ấy xoay quanh ba chuyển động: gặp nhau, đầy vơi và nương nhau.

Ông nói khí hóa âm dương là cốt tủy của lý luận âm dương trong Chu Dịch, thấm sâu vào toàn bộ Dịch lý. Khí hóa là sự vận động biến hóa của khí. Chu Dịch cho rằng khí hóa là do trời đất giao khí, và giao khí là hình thức chủ yếu của khí hóa.

Âm dương giao khí

Trước hết Chu Dịch nhận định vạn vật sinh ra nhờ khí hóa. Khí hóa nơi trời đất chính là sự vận động của vũ trụ, nguồn gốc của sự chuyển hóa khí âm dương. Hệ từ nói trời đất nhân uân, muôn vật hóa thuần. Thoán truyện quẻ Quy Muội nói trời đất không giao thì muôn vật không hưng. Nhân uân là khí mịt mù, hỗn độn, là lý luận khí bản thể của Chu Dịch, ý nói nguyên khí hỗn độn của thái cực, vật chất của giai đoạn Dịch có thái cực. Văn ngôn của Kinh Dịch có câu rồng lặn chớ dùng, dương khí tiềm tàng, ứng với giai đoạn sinh ra hai nghi, tượng trưng cho sự giao nhau và chuyển hóa của khí âm khí dương. Ở giai đoạn này, quy luật tiến thoái, tiêu trưởng của âm dương hiện rõ, và Chu Dịch lấy hai nghi sinh bốn tượng làm tiêu chí.

Âm đầy thì thành âm cực, âm cực sinh ra một dương. Dương đầy thì thành dương cực, dương cực sinh ra một âm. Thiếu dương là trạng thái trung gian của dương lớn lên và âm mòn đi, thiếu âm là trạng thái trung gian của âm lớn lên và dương mòn đi. Thái cực âm dương thể hiện quy luật âm dương nương gốc nhau, và quy luật tiêu trưởng, chuyển hóa. Âm đầy thì sinh thiếu dương, dương đầy thì sinh thiếu âm, hàm chứa lý luận âm cực sinh dương, dương cực sinh âm. Hai khí giao nhau và chuyển hóa cho nhau ở giai đoạn này chính là sự giao nhau của tinh khí. Câu tinh khí là vật, du hồn là biến nói rằng tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật, hồn đi ra làm nên biến hóa. Du hồn là sự vận động biến hóa của tinh khí, và sự giao nhau của tinh khí, kể cả cơ chế thăng giáng xuất nhập, là hình thức cao nhất của khí hóa âm dương.

Hoàng đế nội kinh phát triển thêm khí hóa âm dương. Ví dụ thiên Âm dương ứng tượng đại luận của Tố vấn nói dương hóa thành khí, âm thành hình. Nhận định ấy nhấn mạnh thêm quan hệ giữa âm dương và khí hóa. Kê lãm đồ trong Dịch vĩ viết rằng tượng của âm dương là mây, hòa lại là mưa, ngưng lại là tuyết, hợp lại là sấm, đập vào nhau là chớp, giao nhau là cầu vồng, giận dữ là gió. Tác giả nói điều này cho thấy mọi biến hóa trong tự nhiên đều do hai khí âm dương giao nhau. Trương Cảnh Nhạc trong Loại kinh đồ dực cũng viết âm dương hợp thì vạn vật mới sinh, khẳng định hai khí giao nhau có ý nghĩa vô cùng quan trọng với sự sinh hóa.

Âm dương tiêu tức

Tiêu tức là kết quả của sự lớn lên, mòn đi, tiến và thoái của âm dương. Kinh Dịch viết biến hóa là cái tượng của tiến thoái. Dương tiến thì âm thoái, âm tiến thì dương thoái, tiến thoái khiến âm dương tiêu tổn. Có câu giải rằng tiêu là ích, là tiến, tức là tổn, là thoái. Sáu mươi bốn quẻ đều lấy sự lên xuống, tiến thoái của hào âm và hào dương để thể hiện quy luật chuyển hóa tiêu trưởng. Dịch truyện, trên cơ sở đó, đưa ra hiện tượng âm dương tiêu tức, như câu trong Thoán truyện quẻ Phong rằng trời đất đầy rồi vơi, cùng thời mà tiêu tức. Dịch vĩ viết rằng đầy thì mòn, rỗng thì thêm ích, đó là lẽ tuần hoàn của trời đất, âm tiêu thì dương tức, dương tiêu thì âm tức.

Điều này khẳng định nguyên lý âm dương tiêu trưởng doanh hư, và đó là nhờ bước phát triển quan trọng của Mạnh Hỷ đời Tây Hán, người đưa ra mười hai quẻ tiêu tức, tức mười hai quẻ tịch. Gồm quẻ Phục, Lâm, Thái, Đại tráng, Quải, Càn, Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn. Quẻ Khôn là cực âm, trong âm cực mà quẻ Phục sinh một hào dương. Từ quẻ Phục đến quẻ Càn, hào dương từ dưới tăng dần lên trên, hào âm giảm dần, tượng trưng quá trình dương sinh âm tiêu, đến quẻ Càn là dương cực. Ở quẻ Cấu, trong dương cực sinh ra một âm, từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn hào âm đi từ dưới lên, hào dương giảm dần, thể hiện âm sinh dương tiêu. Mười hai quẻ ấy bổ sung và phản ánh quá trình chuyển hóa tiêu trưởng của âm dương, là cốt tủy của sáu mươi bốn quẻ. Tám quẻ trong Kinh Dịch cũng được phân ra để thể hiện các trạng thái dương cực, dương tiêu âm trưởng, âm trưởng dương suy, âm cực, âm tiêu dương trưởng, dương trưởng âm suy.

Quẻ và hào từ của Kinh Dịch ẩn chứa nguyên lý ấy. Ở quẻ Càn, qua hình ảnh con rồng ẩn, hiện, nhảy, bay, quá cao, hối hận, quá trình tiêu trưởng của dương khí từ nhỏ đến thịnh, rồi từ thịnh đến suy, được phản ánh. Lời hào ghi như sau.

Sơ cửu: Tiềm long vật dụng. Cửu nhị: Kiến long tại điền, lợi kiến đại nhân.

Cửu tam: Quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu. Cửu tứ: Hoặc dược tại uyên, vô cữu.

Cửu ngũ: Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân. Thượng cửu: Kháng long hữu hối. Dụng cửu: Kiến quần long vô thủ, cát.

Còn hào sơ lục của quẻ Khôn có câu giẫm lên sương, thì chẳng bao lâu nước sẽ đông cứng, phản ánh quá trình khí hóa từ nhỏ đến thịnh của khí âm. Như vậy quẻ Khôn với lời giẫm sương băng cứng đến, và quẻ Càn với các bước ẩn, hiện, nhảy, bay, quá, hối, đã phản ánh quy luật tiêu trưởng của khí hóa âm dương: nhỏ đến cực thì thịnh, thịnh đến cực thì suy.

Âm dương hỗ căn

Âm dương hỗ căn cũng là một nguyên lý quan trọng của lý luận âm dương trong Chu Dịch. Hỗ căn nghĩa là dựa vào nhau và chế ước nhau. Đó là nguyên lý quan trọng về tương quan âm dương, biểu hiện cụ thể nhất là ký hiệu hai cực âm và dương ôm nhau trong một vòng tròn, tượng trưng cho khối hỗn mang. Nguyên lý ấy được thu nhỏ trong thái cực và bát quái. Hai khí bao bọc nhau, bao hàm ý dương là gốc của âm, âm là nguồn của dương. Tổ hợp của tám quẻ và hào âm, hào dương thấm nhuần nguyên lý hỗ căn, tức hỗ tàng: trong âm có dương, trong dương có âm.

Âm dương hỗ căn phản ánh quan hệ đối lập mà thống nhất. Âm dương vừa nương tựa vào nhau vừa quy định nhau, cùng duy trì trạng thái cân bằng. Đó là điều kiện tất yếu của khí hóa âm dương, tức âm sinh ra từ dương, dương sinh ra từ âm. Chu Hy nhận định trong Chu Tử ngữ loại rằng trong âm có dương, trong dương có âm, ấy là ý hai bên ẩn gốc của nhau. Trương Cảnh Nhạc đời Minh viết âm gốc ở dương, dương gốc ở âm, âm dương hợp nhau mà vạn vật sinh ra. Nếu âm dương mất sự gắn bó, chỉ có âm mà không có dương, hoặc chỉ có dương mà không có âm, thì sự chuyển hóa âm dương không còn nữa. Chỉ khi dương dựa vào âm, âm chứa dương, hai bên nương nhau thì khí hóa mới thịnh. Lão Tử có câu vạn vật cõng âm mà ôm dương, xung khí để thành hòa.

Nói tóm lại, tác giả cho rằng âm dương giao nhau, âm dương tiêu tức và âm dương hỗ căn là nội dung chủ yếu của sự chuyển hóa âm dương. Trong đó quan niệm âm dương giao nhau lấy việc trời đất giao nhau làm cội nguồn của sự chuyển hóa. Điều ấy phản ánh tính khách quan của sự chuyển hóa âm dương mà Chu Dịch nêu ra, cùng với nền tảng thiên văn dồi dào.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện