Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Cương và nhu: hai đức bổ khuyết trong Kinh Dịch

Bói Dịch26/09/20266 phút đọc6 lượt đọc
Cương và nhu: hai đức bổ khuyết trong Kinh Dịch

Khổng Tử suốt đời rong ruổi lo việc thiên hạ, dạy học trò 'tận lực tiến hoài', còn Lão Tử thì tin rằng nước mềm mại lại là thứ duy nhất mòn được đá cứng - hai chủ trương coi như đối nghịch nhau tận gốc. Nguyễn Hiến Lê chỉ ra Kinh Dịch không chọn bên nào: đức Cương của quẻ Càn và đức Nhu của quẻ Khôn được đặt cạnh nhau, đàn ông trọng cương, đàn bà trọng nhu, nhưng có lúc người trên phải nhu, người dưới phải cương. Cách dung hòa ấy hóa ra được gói trọn trong đúng hai quẻ...


Thêm vài đức nữa: Cương và Nhu

Nhưng nào chỉ có 9 đức nêu trong Hệ Từ hạ đó mà thôi, còn nhiều đức khác cũng quan trọng, như đức Cương, tự cường trong quẻ Càn.

Càn gồm 6 hào đều là dương cả, tượng trưng cho trời.

"Sự vận chuyển của trời mạnh, người quân tử (nên theo đạo của trời) mà tự cường mãi, không nghỉ" (Quẻ Càn - Đại Tượng truyện).

Hào Từ hào 3 quẻ Càn cũng nói: "Người quân tử suốt ngày hăng hái tự cường".

Còn nhiều quẻ khác nữa cũng thường nhắc tới đạo cương cường, như:

- Quẻ Mông, Đại Tượng truyện giảng: Quẻ này ngoại quái là Cấn, núi, nội quái là Khảm, nước suối, vậy là dưới núi có suối phun ra, thế nước mạnh; người quân tử nên mạnh mẽ như giòng suối đó, quả cảm hành động để nuôi cái đức.

- Quẻ Hằng, Đại Tượng truyện giảng: Quẻ này ngoại quái là Chấn, sấm, gió (trời đất có lúc biến động như sấm, gió, nhưng đạo trời thì vạn cổ y nhiên), người quân tử nên bắt chước thế mà tự lập không bao giờ thay đổi ý chí.

- Quẻ Nhu, Thoán truyện bảo: "Cương kiện mà không hãm (nghĩa là thông đạt) thì không khốn cùng".

- Quẻ Đại Hữu, Thoán truyện giảng: Nội quái là Càn, tức ở trong có đức cương kiện, ngoại quái là Li là ở ngoài có đức văn minh; như vậy đức của quẻ Đại Hữu là cương kiện mà văn minh, ứng với trời mà tùy thời thi hành thì rất tốt.

- Quẻ Đại Súc, Thoán truyện bảo: cứng mạnh, thành thực, rực rỡ mỗi ngày phải sửa đức cho mới hoài, ở ngôi tôn, nghiêm nghị mà chuộng người hiền, ngăn được sự mạnh, như vậy là bậc đại chính.

Còn nhiều chỗ khác, không thể dẫn hết được. Dịch học cho hào dương tượng trưng người quân tử, mà dương thì cương kiện; vậy đức đầu tiên của người quân tử phải là tự cường bất tức, nhật tân, cương quyết tự trau giồi đạo đức không nghỉ, mỗi ngày thêm một điều mới.

Nhưng Dịch có dương thì có âm, có Càn thì có Khôn, cho nên đức nhu cũng được trọng, mà như vậy không phải là mâu thuẫn vì Dịch học chủ trương phải tùy thời, phải biết biến đổi, không cố chấp: đàn ông trọng cương, đàn bà trọng nhu, người trên nên cương, người dưới nên nhu, lại có lúc người trên cũng nên nhu mà người dưới cũng nên cương. Vả lại cương quá như hào 6 quẻ Càn thì xấu, nên phải có nhu. Cương là ý nghĩa của quẻ Càn, nhu là ý nghĩa quẻ Khôn. Sau Càn tiếp ngay tới Khôn.

Dịch cho Khôn có đức nhu thuận, nhờ vậy mà tiếp tục công việc của Càn để nuôi vạn vật. Cho nên bài học của Càn là "quân tử tự cường bất tức", thì bài học của Khôn là "Quân tử dĩ hậu đức tải vật" (Người quân tử nhờ đức dày mà dung chở được vạn vật).

Thoán Truyện bảo: "An tĩnh giữ đức trinh (bền vững), hợp với đạo vô cùng của đất".

Quẻ Hằng cũng trọng đức nhu: "Hằng nghĩa là lâu dài; cứng ở trên mà mềm ở dưới, sấm gió cùng hiện với nhau (vì quẻ Hằng gồm quẻ Chấn ở trên là sấm, quẻ Tốn ở dưới là gió, sấm thì cương, gió thì nhu), nhún nhường mà động, cứng mềm đều ứng nhau".

Quẻ Tùy khuyên phải cương mà cũng phải nhu: "Quẻ Tùy: cái cứng đến mà ở dưới cái mềm (vì gồm quẻ Chấn là sấm, cứng, ở dưới quẻ Đoài là chằm, mềm), động mà đẹp lòng (Đoài còn có nghĩa là đẹp lòng)".

Tự cường bất tức, cương kiện là chủ trương của Nho. Chúng ta nhớ cách Khổng Tử dạy học, bắt môn sinh phải tận lực tiến hoài, mỗi ngày mỗi tháng biết thêm được điều mới mà không quên điều cũ, luôn luôn ôn cố tri tân, "học thì như sợ không kịp, học được điều gì rồi thì sợ quên mất" (Luận ngữ - Thái Bá - bài 17); khiến môn sinh ưu tú nhất của ông là Nhan Hồi phải than thở:

"Thầy - tức Khổng Tử - dùng thư tịch mà mở rộng tri thức ta, dùng lễ tiết ước thúc hành vi của ta, dù ta muốn thôi cũng không được. Ta tận dụng năng lực mà cơ hồ vẫn thấy có cái gì cao lớn sừng sững ở phía trước, ta muốn leo lên tới cùng mà không sao theo cho nổi" (Luận ngữ - Tử Hãn - bài 10).

Nhu, trái lại là chủ trương của Lão.

Đạo Đức kinh Chương 36, Lão bảo: "Nhu nhược thắng cương cường"; chương 78, ông chứng minh: "Trong thiên hạ không có gì nhu nhược hơn nước, mà phá được cái cương cường thì không gì hơn nó", như nước chảy hoài mà đá phải mòn.

Chương 76 ông lại nói: "Người ta sinh ra thì mềm yếu mà khi chết thì cứng đơ. Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu mà khi chết thì khô cứng. Cho nên cứng mạnh là cùng loài với chết, mềm yếu là cùng loài với sống".

Hai chủ trương ngược nhau: Khổng hữu vi nên trọng cương cường, Lão vô vi nên thích nhu nhược.

Lão biết rằng "vật cùng tắc phản", thịnh cực thì suy, đầy rồi thì vơi, cho nên không muốn lên tới cùng, không muốn thịnh, không muốn đầy, không muốn ở trên cao, không muốn mạnh, không muốn cương mà muốn yếu, muốn nhu. Ở thời loạn thì thái độ đó khôn, yên thân.

Dịch học phái cũng nghĩ rằng "vật cùng tắc phản", cho nên cũng trọng đức nhu; nhưng cũng trọng đức cương, cho rằng phải có cả cương lẫn nhu như trong hai quẻ Hằng và Tùy tôi mới dẫn ở trên.

Hơn nữa, Dịch còn cho rằng kẻ dưới phải thuận tòng người trên, nhưng phải lựa bậc đại nhân có tài đức mà tin, mà thuận tòng (Thoán truyện quẻ Tốn) chứ không phải thuận tòng bất kì kẻ trên nào, lại nên thuận tòng vừa phải thôi, nếu quá mức thì đáng xấu hổ (như hào 3 quẻ Tốn), nếu thuận tòng tới mức ti hạ, siểm nịnh, mất tư cách con người thì chẳng những xấu mà còn bị họa nữa (như hào 6 quẻ Tốn).

Vậy Dịch học phái đã dung hòa được Khổng và Lão.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương VI.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch