Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Thiên Thời Trong Lục Hào: Tử Tôn, Phụ Mẫu Và Phép Đoán Mưa Nắng

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch19/09/202624 phút đọc5 lượt đọc
Thiên Thời Trong Lục Hào: Tử Tôn, Phụ Mẫu Và Phép Đoán Mưa Nắng

Trời nắng đã nhiều ngày, người xem quẻ chỉ hỏi một câu: bao giờ mưa? Hào Phụ Mẫu Ngọ hỏa phát động, Dã Hạc lão nhân đoán ngay giờ Mùi sẽ đổ một trận mưa to, đến giờ Dậu trời quang trở lại — chỉ sáu hào và giờ gieo quẻ đã đủ định thời khắc. Tăng San Bốc Dịch dựng cả một hệ thống để đoán thiên thời như vậy: Tử Tôn là mặt trời trăng sao, Phụ Mẫu là mưa sương, Thê Tài là nắng tạnh, Quan Quỷ là sấm chớp, mỗi hào ứng với một hiện tượng, mỗi lần động lại mang một dấu hiệu khác nhau tùy vượng suy, tùy mùa, tùy Không Vong. Bốn hào gốc ấy còn phải phối thêm tứ thời và ngũ hành mới gọi đúng giờ mưa, giờ tạnh — vậy phép phối hợp ấy vận hành ra sao?


Nguyên lý gốc: Tử Tôn, Phụ Mẫu, Thê Tài, Quan Quỷ trong phép đoán mưa nắng

Thiên đạo hạn lạo bất định, Dịch hào âm tình khả trắc.

Đạo trời hạn lụt bất thường; hào Dịch nắng mưa dễ đoán.

Ngày xưa cho rằng việc xem nắng mưa không thể mang ra thử nghiệm vì là khinh nhờn quỷ thần. Chỉ khi nắng hạn cầu mưa, lụt lội cầu tạnh, mới có thể xem. Ta cho rằng không phải như thế, có thể dùng việc xem nắng mưa để thử nghiệm thuật xem quẻ. Bởi vì sự vi diệu của quẻ, người mới học rất khó biết được. Nếu lấy chuyện của người khác ra thử nghiệm, thì ứng nghiệm không nhanh chóng; lấy thời tiết ra thử nghiệm, sẽ lập tức chứng nghiệm. Thời tiết nắng mưa, nhân gian họa phúc, tất cả đều không tách rời khỏi ngũ hành. Xem về thời tiết mà ứng nghiệm, thì xem về nhân sự cũng ứng nghiệm. Ta lúc mới học xem, cũng dựa vào sự ứng nghiệm với thiên thời mà lĩnh ngộ được cái ý tứ huyền vi của quẻ.

Tử Tôn vi nhật nguyệt tinh đẩu, động tắc vạn lý tình quang;

Tử Tôn là mặt trời trăng sao, động thì trời quang muôn dặm;

"Hoàng kim sách" cho rằng, nếu hào Tài động, thì khắp tám phương trời quang mây tạnh, là không đúng, mà phải là hào Tử Tôn phát động, muôn dặm trời quang. Hào Tử Tôn là Nguyên thần của hào Tài, hào Tài động tuy trời cũng tạnh, nhưng nếu như hào Tử Tôn hưu tù, gặp Không, gặp Phá, hoặc xuất hiện mà không động, thì trời cũng không thực sự quang đãng, mà vẫn có mây nổi, sương mù.

Ví dụ: Ngày Giáp Ngọ tháng Mão, xem khi nào mưa tạnh, được quẻ Đại Tráng biến Quải:

Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng
Quẻ biến Trạch Thiên Quải

Hào Thân kim Tử Tôn động hóa Tiến Thần, đoán rằng ngày Thân Dậu trời trong mây tạnh.

Có người nói rằng: Phàm để lại quẻ chiêm nghiệm, nên để lại những quẻ thâm thúy, kỳ lạ, nhưng quẻ này đơn giản dễ thấy, sao lại chép lại làm gì? Ta bèn bảo rằng: Để cho người mới học dễ hiểu, để đi từ nông cạn đến uyên thâm. Còn những quẻ thâm thúy kỳ lạ, ở quyển sau sẽ có ghi chép.

Phụ mẫu vi vũ tuyết vụ sương, phát tắc bát phương nhuận trạch.

Phụ Mẫu là mưa, tuyết, sương mù, sương giá, động sẽ thấm nhuần bốn phương.

Khi xem, chỉ nên cầu một thứ, như cầu tạnh, hoặc cầu mưa, hoặc cầu tuyết, hoặc cầu sương, tâm niệm phải chuyên nhất vào một chuyện, thì thần sẽ mách bảo. Lại phải nói rõ muốn cầu ở nơi nào. Ví dụ, có thể hỏi: Trong thành có mưa không? Hoặc có tạnh không? Hoặc tình hình mưa, nắng của một làng, một tỉnh xác định. Nếu không, trong khắp thiên hạ ngày nào chẳng có nắng, mưa. Phép xem xưa lấy hào Phụ Mẫu làm trời đất, trời đất bế tắc thì Nhật, Nguyệt bị che khuất, nói như vậy cũng khá hữu lý. Theo ta, hào Phụ Mẫu tượng trưng cho mây dày, mù nặng, nếu hào Phụ động mà tổn thương Tử Tôn, tức mây mù che khuất mặt trời, mặt trăng. Cho nên hào Phụ phát động là tượng mây mù đầy trời, che khuất trời trăng mà thành mưa.

Ví dụ: Ngày Giáp Tuất tháng Tị, xem ngày nào có mưa, được quẻ Tiểu Quá biến Lữ:

Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá
Quẻ biến Hỏa Sơn Lữ

Vì trời nắng to đã nhiều ngày, nên đến giờ Mão ngày này gieo quẻ xem ngày nào sẽ mưa. Nhìn quẻ này có thể đoán rằng đến giờ Thìn mây nổi, cuối giờ Thìn đầu giờ Tị mưa to sấm chớp, ứng vào giờ Thìn, vì Nhật thần Tuất xung Phụ Mẫu Thìn thổ, nên hào Phụ ám động; ứng vào mưa to sấm chớp, do hào Phụ Tuất hóa Tị hỏa Quan Quỷ.

Tân bình thích: Hơi nước ở trên không trung là mây, dưới đất là sương mù. Trên trời tạo thành giọt nước mà rơi xuống là mưa, dưới đất tạo thành hạt nước là sương móc. Mùa đông, hơi nước trên trời đông lại mà rơi xuống là tuyết, dưới đất đông lại mà trở thành sương giá. Tuy hình thể khác nhau nhưng thực ra là một. Nếu Phụ Mẫu lâm hào sơ hào 4 động lại gặp hợp thì chủ sương mù.

Thê Tài thiên khí tình minh.

Thê Tài trời quang mây tạnh.

Hào Tài động khắc Phụ mà sinh Tử Tôn, nên chủ về trời nắng tạnh.

Tân bình thích: Không đúng. Tài chỉ khắc Phụ Mẫu mà không sinh Tử.

Ví dụ: Như Ngày Ất Tị tháng Dậu, xem trong ngày mưa hay nắng, được quẻ Thăng biến Hằng:

Quẻ Địa Phong Thăng
Quẻ biến Lôi Phong Hằng

Trong quẻ này, hào Tài Sửu thổ động, hóa thành Ngọ hỏa Tử Tôn, nên buổi sáng tuy trời tạnh ráo, nhưng thường có mây che khuất mặt trời. Sau giờ Ngọ, trời nắng lớn, không một gợn mây. Vì hào Tài hào tuy chủ về tạnh ráo, nhưng vẫn khó tránh được mây, phải đợi đến giờ Ngọ gặp Tử Tôn, mới trở nên quang đãng.

Tân bình thích: Nửa ngày đầu có mây cũng bởi vì Phụ Mẫu Hợi thủy ám động.

Ví dụ: Ngày Mậu Ngọ tháng Tuất, đoán thời tiết hôm sau, được Thủy Trạch Tiết.

Quẻ Thủy Trạch Tiết

Thê Tài trì Thế, được Nhật tỉ phù vượng tướng, Thê Tài chủ tạnh, nhưng lại tương hợp với Phụ Mẫu, Phụ Mẫu chủ mây mù, vì vậy là trời nắng gặp nhiều mây. Quả nhiên ứng nghiệm.

Quan Quỷ lôi đình vụ điện.

Quan Quỷ là sấm sét, sương mù, chớp.

Quan Quỷ là Nguyên thần của Phụ Mẫu, nếu động sẽ sinh Phụ Mẫu, nên chủ về sấm sét, sương mù, chớp, có thể ứng với mây đen hoặc sấm sét, bất kể xuân, hạ, thu, đông, cũng không nhất định là sấm, mà còn chủ về mây đen, mù dày.

Tân bình thích: Chỗ này cũng phân biệt vùng, mùa, không thể cố chấp.

Ví dụ: Ngày Đinh Mão tháng Tị, xem ngày nào có mưa, được Hằng biến Đại Quá:

Quẻ Lôi Phong Hằng
Quẻ biến Trạch Phong Đại Quá

Hào Thế Dậu kim Quan Quỷ ám động, hào Quan Quỷ Thân kim động hóa Tiến thần, nên đoán là giờ Thân hôm đó, sấm sét động trời, mưa to ở phương xa, nhưng nơi đây chỉ lác đác vài giọt.

Có người hỏi: Nhưng hào Phụ gặp Nguyệt phá. Ta đáp: Không phải! Nếu hào Phụ động, tuy gặp Nguyệt phá cũng mưa to.

Ứng nãi thái hư, phùng Không vũ tình nan định. Thế vi đại khối, thụ khắc thiên biến phi thường.

Ứng là thái hư, gặp Không trời nắng trời mưa khó định. Thế là đại khối, chịu khắc thời tiết biến hóa bất thường.

Giác Tử nói: Xem trời mưa dùng hào Phụ, xem trời nắng dùng hào Tử, hào Tài, đâu có liên quan gì đến Thế, Ứng? Ta từng xem mưa xem nắng, một quẻ chưa hiện thì xem thêm quẻ nữa. Nếu cả sáu hào không động, cần phải tìm chỗ động để đoán về ứng nghiệm, tại sao lại cho là "nắng mưa khó định"? Nếu người ta đến xem về lành dữ, anh có thể trả lời là "rất khó xác định" hay sao? Còn như hào Thế bị khắc mà thời tiết biến hóa bất thường, chẳng qua chỉ là ngẫu nhiên có một đôi quẻ trùng hợp mà thôi, sao có thể lấy làm khuôn phép. Ta từng xem được nhiều quẻ mà hào Quan, hào Phụ, hào Huynh khắc Thế, mà không hề thấy thời tiết biến đổi. Vì thế hai câu này cần phải cắt bỏ.

Nhược luận phong vân, toàn bằng Huynh Đệ;

Nếu luận gió mây, hoàn toàn dựa vào Huynh Đệ;

Hào Huynh Đệ phát động, tuy chủ về gió mây, nhưng cũng chỉ là tượng mây bay gió nhẹ, trời không mưa không nắng. Khi gặp hào Huynh động, là tượng mặt trời mặt trăng bị mây che, lúc ẩn lúc hiện.

Ví dụ: Ngày Đinh Hợi tháng Ngọ, xem trong ngày mưa hay nắng, được quẻ Độn biến Bĩ:

Quẻ Thiên Sơn Độn
Quẻ biến Thiên Địa Bĩ

Có người nói rằng: "Hào Huynh động là tượng gió mây, nên hôm nay trời sẽ âm u". Ta bèn nói: "Đến giờ Thân trời sẽ nắng". Người này hỏi nguyên nhân, ta bèn giải thích: "Hào Thân kim Huynh Đệ tượng trưng cho mây, động mà hóa thành hào Tài Mão mộc, là tượng mặt trời hiện ra từ trong mây mù". Quả thực trời âm u cả ngày, đến giờ Thân mới thấy ánh nắng. Đến giờ Mão hôm sau thì nắng to.

Tân bình thích: Huynh Đệ tuy là gió mây, nhưng cũng cần phải tùy theo quẻ mà phân tích một cách linh hoạt.

Ví dụ: Ngày Tân Mùi tháng Tuất, bởi vì hôm nay mưa, xem khi nào tạnh? Được Đại Tráng biến Đại Hữu.

Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng
Quẻ biến Hỏa Thiên Đại Hữu

Huynh Đệ độc phát, không gặp Tử Tài phát động, chẳng lẽ không tạnh? Không phải vậy. Huynh Đệ Tuất thổ phát động, Phụ Mẫu nhập Mộ, là tượng ngừng mưa, nhưng bởi vì Tuất thổ Không Vong, nhất định đến giờ Thìn xung thực liền tạnh. Huynh Đệ chủ gió, tất có gió nổi lên. Quả nhiên đến giờ Thìn chuyển tạnh, giờ Tị tạnh hẳn, giờ Thân gió nổi.

Phối hợp tứ thời và ngũ hành để định mưa nắng

Bốn yếu tố gốc đã định vị, phép đoán còn phải gọi thêm mùa và ngũ hành mới trọn nghĩa.

Cánh án tứ quý thôi tường, tu phối ngũ hành tham quyết.

Biết tùy bốn mùa suy luận, kết hợp ngũ hành quyết đoán.

"Hoàng kim sách" viết rằng: Hào Phụ Mẫu bốn mùa đều chủ về mưa. Nếu ở hào kim thủy thì mưa to mà không dứt. Nếu ở hào hỏa thổ, thì mưa nhỏ mà không lâu.

Giác Tử nói: Câu trên có nghĩa là bất luận suy vượng, trong suốt bốn mùa, nếu Phụ Mẫu tại hào thủy là có mưa, tại hào hỏa thì mưa nhỏ. Đã không tính đến suy, vượng, tại sao ở chương sau lại viết: "Phụ gặp Nguyệt kiến, ắt mưa dầm suốt tuần?"

Giả sử tại các tháng Tị, Ngọ, Mùi, là lúc hỏa thổ đương quyền đắc lệnh, lại chính là thời điểm mưa nhiều. Trong thời điểm đó, nếu hào Phụ lâm hỏa thổ mà phát động, căn cứ vào vượng suy để luận đoán, là tượng mưa liền suốt tuần. Nếu dùng ngũ hành để quyết đoán hỏa thổ, thì lại là tượng mưa nhỏ. Phép xem xưa đã sai lầm đến vậy, tại sao còn chưa xóa bỏ?

Lại đáng cười hơn nữa, là phần chú trong sách viết rằng: "Mùa đông lấy hào Tử Tôn làm sương tuyết. Lấy hào Tử Tôn làm sương tuyết, nếu vào mùa đông muốn xem trời nắng, thì lấy hào nào làm mặt trăng mặt trời? Người xưa có điều sai lầm trái khoáy, mà người ngày nay vẫn không tỉnh ngộ, ấy là tại sao?

Ví dụ: Ngày Kỷ Hợi tháng Tý, vì tuyết xuống đã nhiều ngày, nên xem lúc nào trời tạnh, được quẻ Quan biến Tỷ:

Quẻ Phong Địa Quán
Quẻ biến Thủy Địa Tỷ

Ta đoán rằng: Hai hào hỏa Quỷ ám động, nên hôm nay trời vẫn âm u. Hào Tài Mão mộc động hóa Tử Tôn Tý thủy, nên đến giờ Mão ngày mai sẽ tạnh. Quả nhiên đến giờ Mão hôm sau trời quang mây tạnh, mặt trời xuất hiện. Hào Tử thủy lâm Nguyệt kiến lại được Nhật thần Hợi thủy trợ giúp, nên rất vượng. Nếu lấy hào Tử Tôn làm sương tuyết, thì không những không tạnh, mà tuyết lại càng thêm dày. Cho nên khi xem về thời tiết, bất luận vượng suy không thể lấy hào Tử Tôn làm sương tuyết.

Tình hoặc phùng Quan, vi yên vi vụ;

Tạnh mà gặp Quan, là sương là khói;

Vốn trong sách xưa chú thích rằng: Quẻ được điềm trời tạnh, nếu trong quẻ có hào Quan Quỷ động, ắt sẽ có mây nặng sương dày, hoặc cuồng phong u ám, nếu mùa đông sẽ gặp rét lớn, nếu mùa hè sẽ có gặp nắng cháy, nói tóm lại không phải là tượng thời tiết ôn hoà. Ta cho rằng câu này là hữu lý, nhưng phải xác định rõ thời điểm xuất hiện.

Ví dụ: Vào ngày Kỷ Mão tháng Thìn, xem trong ngày mưa hay nắng, được quẻ Truân biến Lâm:

Quẻ Thủy Lôi Truân
Quẻ biến Địa Trạch Lâm

Ta đoán rằng: Hào Dần mộc Tử Tôn hóa Tiến thần, hôm nay nắng to. Hào 5 Tuất thổ Quan Quỷ động, đến Tuất giờ Hợi, sẽ có mây đen. Sau quả nhiên đến giờ Tuất, mây đen che khuất trời sao. Nếu đoán là cả ngày có sương mù, là sai.

Vũ nhi ngộ Phúc, vi điện vi hồng.

Mưa mà gặp Phúc, là chớp, cầu vồng.

Ý nói được tượng quẻ có mưa, mà hào Tử Tôn (tức Phúc đức) động, thì không chớp cũng có cầu vồng. Theo ta câu này cũng không đúng.

Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Thìn, do mưa dầm dài ngày, nên xem trong ngày có tạnh không, được quẻ Khốn biến Tỷ:

Quẻ Trạch Thủy Khốn
Quẻ biến Thủy Địa Tỷ

Trong quẻ, hào 2 Thìn thổ động, nên hào Phụ Mẫu gặp Nguyệt kiến, lại gặp Nhật thần, động hóa Tị hỏa hồi đầu sinh, nên là tượng có mưa. Nhưng hào Hợi thủy Tử Tôn cũng động, hóa thành Thân kim, nhưng ta không đoán là chớp hay cầu vồng, mà đoán rằng đến giờ Thân trời sẽ hửng, đến giờ Hợi thì tạnh ráo. Quả nhiên đến giờ Hợi, trời quang không một gợn mây. Hào Tử Tôn là tượng mặt trời, trăng sao, chứ không phải là chớp là cầu vồng.

Tân bình thích: Cầu vòng được tạo thành từ nguyên lý khúc xạ ánh sáng mặt trời, tùy theo khu vực mà các mùa khác nhau mà tần suất xuất hiện cũng không giống nhau. Học viên của tôi ở Nhật Bản có ví dụ lấy Tử Tôn nghiệm được cầu vồng.

Tam hợp thành Tài, vấn vũ nan kham nhập quái.

Tam hợp Tài cục, hỏi mưa khó mà ứng quẻ.

Tam hợp Tài cục, tức cục Tử Tôn, chủ về nắng tạnh. Tam hợp Phụ cục chủ mưa, Tam hợp Quan cục chủ về trời mù, hoặc sấm chớp. Tam hợp mộc cục chủ về gió.

Ngũ hương liên Phụ, cầu tình quái sát lâm Không.

Phụ thuộc hành nào, cầu nắng kỵ sát lâm Không.

Nguyên trong sách xưa chú rằng: Tức hào Phụ hào lâm Không thì không mưa, hào Tử Tôn và Thê Tài lâm Không thì không nắng.

Ta thường xem về mưa, nếu hào Phụ Mẫu hưu tù bất động, quả thật khó mà mong có mưa. Còn nếu là lâm Không, thì vẫn còn hy vọng. Thường thấy hào Phụ động mà lâm Không, đợi đến ngày xung Không hoặc ngày điền thực sẽ có mưa, xem trăm lần ứng nghiệm cả trăm. Nếu hào Tài và hào Tử Tôn lâm Không, cũng tương tự như vậy.

Tài hóa Quỷ, tình minh bất cửu;

Tài hóa Quỷ, nắng tạnh không lâu;

Nguyên trong sách xưa chú rằng: Hào Tài hóa Quỷ thì nắng mưa bất định, điều này không đúng.

Ví dụ: Ngày Giáp Dần tháng Tị, do nắng lâu ngày, nên xem ngày nào mưa, được quẻ Ký Tế biến Kiển:

Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế
Quẻ biến Thủy Sơn Kiển

Nếu căn cứ vào câu "hào Tài hóa Quỷ, nắng mưa bất định" thì quẻ này Mão mộc Tử Tôn hóa Quỷ Thìn thổ, chẳng phải là tượng nắng mưa bất định hay sao. Lý luận như vậy là không biết được rằng, Mão mộc Tử Tôn thì ngày Mão nắng; Thìn thổ Quỷ, đến ngày Thìn đổi trời, sẽ không nắng. Ta đoán rằng: "Ngày Thìn trời âm u, ngày Tị sẽ có mưa". Vì sao biết ngày Tị trời mưa? Vì trong quẻ trên, hào Phụ Thân kim ám động, động mà gặp ngày hợp, chủ về trời tạnh không lâu. Hào Phụ động hóa Tài, hóa Tử là tượng mưa không lâu, chứ không phải là nắng mưa bất định.

Tân bình thích: Lý luận của Dã Hạc có lý. Nhưng cũng cần phải xem suy vượng của lục thân.

Ví dụ: Ngày Nhâm Thân tháng Tuất, xem thời tiết ngày hôm sau, được Minh Di biến Khiêm.

Quẻ Địa Hỏa Minh Di
Quẻ biến Địa Sơn Khiêm

Ví dụ này và ví dụ ở trên rất giống nhau, một hào độc phát, Tử Tôn động mà hóa Quan. Buổi sáng quang đãng, giờ Thìn nổi sương mù, giờ Mùi Thân nổi mây, sau đó lại quang đãng.

Bởi vì Tử Tôn hóa ra Quan Quỷ Nguyệt phá, giờ Thìn thực Phá, từ quang đãng mà nổi sương mù. Giờ Mùi Tử Tôn nhập Mộ, giờ Thân lâm Tuyệt, vì vậy nổi mây, nhưng bởi vì Quan Quỷ Nguyệt phá nên có mây không lâu.

Phụ hóa Huynh, phong vũ mị thường.

Phụ hóa Huynh, mưa gió bất thường.

Hào Phụ hóa hào Huynh, hào Phụ hóa hào Quỷ, hoặc trong quẻ có hào Phụ, hào Huynh động, đều chủ về vừa mưa vừa gió. Về trình tự, hào động là cái xuất hiện trước, hào biến là cái xuất hiện sau. Ví dụ hào Huynh hóa hào Phụ, là gió trước mưa sau. Hào Quỷ hóa hào Phụ, mà xem vào mùa xuân mùa hè, là tượng sấm trước mưa sau.

Giác Tử nói: Hào Quỷ động tuy là tượng sấm chớp, nhưng ứng vào sấm thì ít, ứng vào mây đen lại nhiều, nên câu trên không đúng.

Mẫu hóa Tử, vũ hậu tình minh; Đệ hóa Tôn, vân khai nhật xuất.

Mẫu hóa Tử, sau mưa trời sáng; Đệ hóa Tôn, mây tan nắng hiện.

Sách xưa chú rằng hào Phụ Mẫu hóa Tử Tôn thì cầu vồng xuất hiện, không đúng.

Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Ngọ, do mưa liên tục nhiều ngày, nên xem ngày nào tạnh, được quẻ Di biến Cấn:

Quẻ Sơn Lôi Di
Quẻ biến Cấn Vi Sơn

Ta nói với người bạn rằng: Giờ Dậu hôm nay sẽ thấy mặt trời lặn về tây, ngày mai trời vẫn âm u. Bạn ta bèn hỏi: Tại sao vậy? Ta đáp rằng: Hào 6 Phụ Mẫu Dậu hóa Tử Tôn, nên giờ Dậu hôm nay nhìn thấy mặt trời. Hào sơ Mão mộc hóa Thìn Quỷ, ngày mai là ngày Thìn, trời sẽ nhiều mây, âm u. Quả nhiên đến giờ Dậu, đột nhiên mây tan, nắng hiện, hôm sau nữa mây đen kín trời nhưng không có mưa.

Phụ trì Nguyệt kiến, tất âm vũ liên tuần;

Phụ gặp Nguyệt kiến, ắt mưa dầm suốt tuần;

Trong sách xưa chú rằng, hào Phụ Mẫu lâm Nguyệt kiến mà phát động, là tượng mưa lâu không tạnh.

Dã Hạc bàn rằng: Đấy là căn cứ vào vượng suy, ta thử thấy không linh nghiệm.

Ví dụ: Ngày Bính Ngọ tháng Ngọ, xem ngày nào có mưa, được quẻ Đại Tráng biến Thăng:

Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng
Quẻ biến Địa Phong Thăng

Lại vào ngày Bính Thìn tháng Thân, xem ngày nào có mưa, được quẻ Khảm biến Khốn:

Quẻ Khảm Vi Thủy
Quẻ biến Trạch Thủy Khốn

Quẻ trước hào Ngọ hỏa Phụ Mẫu động, đến giờ Mùi sẽ có trận mưa to, đến giờ Dậu thì tạnh. Quẻ sau hào Thân kim Phụ Mẫu động, đến ngày Canh Thân có mưa, ngày Tân Dậu nửa tạnh nửa âm u, đến giờ Hợi tạnh hẳn. Quẻ trước hào Phụ không chỉ gặp Nguyệt kiến, còn lâm Nhật thần. Quẻ sau hào Phụ gặp Nguyệt kiến, được Nhật thần tương sinh, nên đều rất vượng. Vượng đến mức đó, chẳng phải là tượng mưa gió suốt tuần ư? Ta xem về thời tiết thì không luận đến vượng suy.

Huynh tọa Trường Sinh, nghĩ định cuồng phong lũy nhật.

Huynh gặp Trường Sinh, ắt hẳn gió lớn nhiều ngày.

Ví dụ: Ngày Mậu Thân tháng Thìn, xem tình hình mưa nắng trong ngày, được quẻ Trung Phu biến Tiểu Súc.

Quẻ Phong Trạch Trung Phu
Quẻ biến Phong Thiên Tiểu Súc

Hào Huynh Sửu thổ động hóa Tiến thần, gặp Nguyệt kiến, lại gặp Trường Sinh tại ngày Thân (Nhật thần), nếu luận về vượng suy, thì là cực vượng. Nhưng không hề thấy gió lớn nhiều ngày, mà chỉ thấy một ngày mây dày âm u mà thôi.

Có người hỏi: "Hào Huynh động hóa Tiến thần mà không thấy gió lớn, thì hào nào chủ về gió lớn?" Ta đáp rằng: "Hào mộc động hóa Tiến thần mới có gió lớn".

Tân bình thích: Ở đây lại dùng ngũ hành để luận gió. Tôi được nghiệm, Huynh Đệ lâm mộc, tại cung Tốn, thì càng ứng nghiệm.

Những biến thể phối hợp thêm: hạn lụt, nhật thực, Không Vong và ứng kỳ

Khi các hào chính không đủ tự quyết, ứng nghiệm còn nương vào phối hợp, hình xung và mốc ngày giờ cụ thể.

Phụ Tài vô trợ, hạn lạo hữu thường.

Phụ, Tài không được giúp, hạn lụt đã định.

Trong sách xưa chú rằng: Hào Quan Quỷ phục, lâm Không, hào Phụ Mẫu vô khí mà hào Tài vượng động, ắt trời hạn. Hào Tử Tôn phục, lâm Không, hào Thê Tài vô khí, hào Phụ vượng động, ắt sẽ lụt, lại thêm hào động, Nhật thần, Nguyệt kiến sinh phò, sẽ có lụt lớn.

Giác Tử nói: Nếu trọng vượng suy, thì lý luận này không hề vô lý. Ta đã có kinh nghiệm bốc dịch hơn 40 năm, có ngày nào không xem về thời tiết. Nếu gặp mùa lụt lội, thì hào Quỷ động cũng mưa, hào Huynh động cũng mưa, hào Phụ hào Quỷ hưu tù vô khí mà động cũng mưa. Nếu gặp mùa nắng hạn, hào Phụ gặp Nguyệt kiến cũng chỉ có mây, mù, hay lác đác vài giọt mà thôi. Cho nên cuối chương này có câu: "Phụ, Quan tranh nhau động, mưa gió nhiều ngày", xem quẻ nếu thấy hào Phụ, hào Quan đều động, là tượng mưa gió liên miên không dứt.

Phúc đức đới hình, nhật nguyệt tất thực.

Tử Tôn gặp tương hình, nhật thực nguyệt thực.

Đây là lời chiêm nghiệm dành riêng cho trường hợp xem về mặt trăng, mặt trời, không áp dụng trong trường hợp xem về nắng mưa, mù tạnh, chẳng qua là trùng hợp ngẫu nhiên nên lấy đó mà đoán ẩu.

Vũ hiềm Thê vị dĩ phùng xung.

Xem mưa kỵ thấy hào Thê gặp xung.

Khi xem về mưa, nếu hào Phụ không động mà hào Thê ám động, chủ về trời tạnh ráo. Khi xem về nắng, mà hào Tử, hào Tài không động, hào Phụ Mẫu ám động, là chủ về trời mưa.

Tình lợi Phụ Quan nhi hóa thoái.

Xem nắng nên gặp Phụ, Quan hóa Thoái.

Sách xưa cho rằng xem về trời nắng, nên gặp hào Phụ nhập Mộ, tức hào Phụ nhập Mộ, hoặc động hóa Mộ là chủ về trời nắng, ta cho rằng như vậy là sai. Hào Phụ nhập Mộ, đến lúc xung khai sẽ mưa, làm sao lại có lợi cho việc xem về trời nắng tạnh. Chỉ khi hào Phụ động hóa Thoái thần, thì trời sẽ tạnh.

Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Sửu, do tuyết rơi lâu ngày, nên xem khi nào trời tạnh, được quẻ Tùy biến Chấn:

Quẻ Trạch Lôi Tùy
Quẻ biến Chấn Vi Lôi

Ta đoán rằng: Hào Quỷ hóa Thoái thần, nên mưa tuyết sắp ngừng. Quả nhiên đến ngày Dậu, mây tan trời rạng. Phàm xem quẻ thấy hào Phụ Mẫu hóa Thoái thần là tượng mưa sắp tạnh. Hào Huynh động hóa Thoái thần, là tượng mây sắp tan. Hào Tử, hào Tài hóa Thoái thần, là tượng nắng tạnh không lâu.

Tân bình thích: Chú thích xưa cũng đúng, chưa gặp được quẻ tương ứng thì cũng không thể nói là không đúng lý.

Ví dụ: Đây là quẻ đã nêu ra ở phía trước. Ngày Tân Mùi tháng Tuất, bởi vì hôm nay mưa, xem khi nào tạnh? Được Đại Tráng biến Đại Hữu.

Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng
Quẻ biến Hỏa Thiên Đại Hữu

Huynh Đệ Tuất thổ phát động, Phụ Mẫu nhập Mộ, là tượng ngừng mưa, nhưng bởi vì Tuất thổ Không Vong, nhất định đến giờ Thìn xung thực liền tạnh. Huynh Đệ chủ gió, tất có gió nổi lên. Quả nhiên đến giờ Thìn chuyển tạnh, giờ Tị tạnh hẳn, giờ Thân gió nổi.

Tử phục Tài phi, đạm vân vụ khinh.

Tử phục dưới Tài, sương thưa mây mỏng.

Sách xưa cho rằng, hào Tử Tôn phục dưới Phi thần là hào Tài, chủ về trời âm u, nghĩa là hào Tài động tuy là điềm nắng tạnh, nhưng nếu hào Tử Tôn hưu tù, phục, lâm Không, là tượng trời tạnh mà âm u.

Ta thấy câu này là có lý. Câu đầu tiên trong chương này là "Thê Tài phát động, tám phương đều hưởng ánh dương quang ", ta đã sửa thành "Tử Tôn phát động, muôn dặm trời quang", cũng khớp với ý của câu này.

Tân bình thích: Lý luận này có ứng nghiệm.

Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Tuất, bởi vì trời mưa, xem hôm nay có tạnh không? Được Trung Phu biến Càn.

Quẻ Phong Trạch Trung Phu
Quẻ biến Càn Vi Thiên

Ví dụ này Tử Tôn phục tàng nhập Mộ, Huynh Đệ động mà hóa Phụ, Phụ Mẫu vượng mà hồi đầu sinh hợp Thế, thậm chí âm u mấy ngày, đến ngày Mùi mới tạnh.

Phụ suy Quỷ vượng thiếu vũ nùng vân.

Phụ suy Quỷ vượng, mưa ít mây dày.

Xem về trời mưa, lấy hào Phụ làm chủ, nếu hào Phụ không động mà cũng không ám động, trong khi hào Quan lại động, là tượng mây mù dày đặc nhưng không mưa. Nếu hào động biến ra Phụ Mẫu, dù vượng hay suy đều chủ trời mưa.

Tân bình thích: Chưa hẳn, đôi khi hóa ra hào Phụ Mẫu chủ trời âm u hoặc mây đen.

Quái trị ám xung, tuy Không hữu vọng.

Quẻ gặp ám xung, lâm Không vẫn còn hy vọng.

Hào Phụ Mẫu, hào Quan Quỷ tĩnh mà lâm Không, bị Nhật thần tương xung, chủ về trời mưa.

Hào Tử Tôn và hào Tài tĩnh mà lâm Không, bị Nhật thần tương xung, chủ về trời tạnh.

Hào mộc tại Huynh tại Quỷ, tĩnh mà lâm Không, bị Nhật thần tương xung, chủ về nổi gió. Hào Huynh Đệ lâm Không, bị Nhật thần tương xung, chủ gió nhẹ mù thưa. Ví dụ: Ngày Kỷ Mão tháng Tị, xem ngày nào tạnh, được quẻ Ly:

Quẻ Ly Vi Hỏa

Ta đoán rằng: Hào Dậu Tài gặp Tuần Không, lại được Nhật thần xung động, nên hôm sau sẽ tạnh. Đấy là ứng với ngày hào động gặp hợp.

Phúc hưng bị khắc, xung tắc thành công.

Hào Phúc động bị khắc, gặp xung ắt thành công.

Hào Tử Tôn động hóa hồi đầu khắc, hoặc bị hào động tương khắc, cần đợi đến ngày xung mất hào khắc sẽ tạnh. Nếu hào Phụ, hào Tài động hóa hồi đầu khắc, cũng tương tự như vậy.

Ví dụ: Ngày Giáp Tuất tháng Sửu, xem ngày nào mưa, được quẻ Chấn biến Dự:

Quẻ Chấn Vi Lôi
Quẻ biến Lôi Địa Dự

Hào Phụ Tý thủy động hóa Mùi thổ hồi đầu khắc, đến ngày Sửu sẽ mưa. Sở dĩ ứng vào ngày Sửu, vì Sửu xung mất Mùi thổ mà hợp với Phụ Mẫu Tý thủy, nên sẽ có mưa.

Giác Tử bàn rằng: Sách xưa cho rằng: "Hào bị hợp, có động cũng uổng công" là không đúng. Hào Phụ Mẫu bị hợp, đợi đến ngày xung khai sẽ có mưa; hào Tài bị hợp, đợi đến ngày xung khai sẽ tạnh, làm sao có thể cho là uổng công, nên ta xóa bỏ câu này.

Tân bình thích: Đôi khi cũng ứng hợp trú hào biến.

Ví dụ: Ngày Bính Dần tháng Tý, xem ngày nào tuyết rơi? Được Hàm biến Cách.

Quẻ Trạch Sơn Hàm
Quẻ biến Trạch Hỏa Cách

Phụ Mẫu động mà chủ tuyết, nhưng động mà hóa hồi đầu khắc, lại Nguyên thần Quan Quỷ Ngọ hỏa Nguyệt phá, tất là ra khỏi tháng Tý mới có tuyết. Hào biến Mão mộc khắc Phụ Mẫu, tất đợi Dậu kim xung mất Mão mộc, hào Phụ Mẫu lại động mà gặp hợp là ứng kỳ của nó. Nhưng ngày Quý Dậu vẫn thuộc tháng Tý, vì vậy đoán ngày Ất Dậu tháng Sửu sẽ có tuyết rơi. Về sau ứng ngày Bính Tuất tuyết rơi, chính là ứng ngày hào biến gặp hợp, không khắc hào động.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch