Bài tổng quan
Độc Phát Và Độc Tĩnh: Một Hào Riêng Động Hay Riêng Tĩnh Định Ứng Kỳ
Một người xin triều đình cho đón linh cữu cha về, gieo được quẻ Đại Hữu biến Ly. Năm hào tĩnh, riêng hào Dần mộc động hóa Sửu. Môn khách hiểu Dịch của ông đoán ngay tháng giêng sẽ gặp linh cữu, vì hào độc phát là Dần. Dã Hạc lão nhân gọi lối xem ấy là gãi ngứa ngoài giày: hào Phụ trì Thế đang bị Dần mộc khắc, thân mình chưa động được thì linh cữu cũng chưa động được, phải đợi năm tháng Thân xung khai Dần mộc. Năm Thân được chuẩn, năm Dậu đón linh cữu về. Thành bại ở Dụng thần, nhanh chậm mới xét hào độc phát, độc tĩnh. Thế nhưng vì sao trong hai quẻ tìm trẻ lạc của Vương Hồng Ứng, Dụng thần vượng tướng mà một hào độc phát vẫn báo điềm dữ?
Mục lục · 6 phần
- 01Độc phát, độc tĩnh và quyền quyết định của Dụng thần
- 02Xin đón linh cữu cha: quẻ Đại Hữu biến Ly, quẻ Cách biến Ký Tế
- 03Hào độc phát chưa hẳn là ngày ứng: quẻ Đồng Nhân biến Cách, Gia Nhân biến Ích
- 04Hào độc tĩnh trong quẻ xem bệnh: quẻ Vị Tế biến Kiển, Cấu biến Vô Vọng
- 05Lý Ngã Bình bàn về lời bất định của sách Dịch mạo
- 06Vương Hồng Ứng nghiệm hào độc phát: ba quẻ ly hôn và hai quẻ tìm trẻ
Độc phát, độc tĩnh và quyền quyết định của Dụng thần
Trong một quẻ, nếu năm hào đều động, một hào bất động, gọi là độc tĩnh; nếu năm hào đều tĩnh, chỉ có một hào động, gọi là độc phát.
Sự thành hay bại, đều căn cứ vào Dụng thần; ứng nghiệm nhanh hay chậm, phải xem Dụng thần độc phát hay độc tĩnh. Sách xưa cho là ứng nghiệm, ta thử xem cũng thấy ứng nghiệm. Sau khi chiêm nghiệm thấy ứng nghiệm, mới bắt đầu lĩnh hội được thần cơ, chứ không phải ngay từ đầu đã căn cứ ngay theo đó để suy đoán họa phúc và ứng kỳ. Huống gì quẻ độc tĩnh thì ít mà độc phát thì nhiều. Nếu bỏ qua Dụng thần, chỉ dựa vào độc phát, độc tĩnh là rất sai lầm.
Xin đón linh cữu cha: quẻ Đại Hữu biến Ly, quẻ Cách biến Ký Tế
Một hào riêng động dễ khiến người xem quên mất hào chủ sự, và quẻ xin đón linh cữu cho thấy cái giá của sự quên ấy.
Ví dụ: Ngày Đinh Mão tháng Dần, xem về việc xin đón linh cữu của cha có được chấp thuận không, được quẻ Đại Hữu biến Ly:


Người này có một môn khách biết về Dịch lý, đoán rằng quẻ này có hào Dần mộc độc phát, biến thành hào Sửu Phụ, ứng vào tháng giêng sẽ được gặp linh cữu của cha. Ta nói rằng: "Xem như thế khác gì gãi ngứa ngoài giày! Trong quẻ này hào Phụ trì Thế, bị hào động Dần mộc khắc chế, chủ về bản thân không thể động, mà linh cữu của cha cũng không thể động. Nếu muốn đi đón linh cữu của cha, cần đợi đến tháng hoặc năm xung khai được Dần mộc." Bèn bảo người này xem thêm một quẻ nữa để quyết đoán, được quẻ Cách biến Ký Tế:


Ta bèn đoán rằng: Quẻ này rất trùng hợp với quẻ trước. Quẻ trước cần gặp được Thân kim để xung khai Dần mộc. Quẻ này hào Thế hóa Thân kim hồi đầu sinh, cũng ứng vào tháng Thân. Thế nằm tại Bạch Hổ động, là điềm đi vì việc tang. Nhật thần Mão xung động hào 5 để sinh hào Thế, nên tháng Thân, tháng Mão năm nay ắt được ân chuẩn. Trước mắt gặp Nguyệt phá, nên tuyệt đối không thể hành động.
Về sau, quả nhiên đến năm Thân được phê chuẩn, đến năm Dậu đón linh cữu về. Hai quẻ này đều là độc phát, nhưng đâu có thể chỉ trông vào mình hào độc phát?
Hào độc phát chưa hẳn là ngày ứng: quẻ Đồng Nhân biến Cách, Gia Nhân biến Ích
Thần linh cho hào động để đáp nỗi lo của người hỏi, còn ngày ứng phải tìm ở chỗ hào ấy gặp hợp, gặp xung.
Lại ví dụ: Ngày Đinh Hợi tháng Ngọ, xem lúc nào mưa tạnh, để đề phòng nước lụt hại lúa, được quẻ Đồng Nhân biến Cách:


Người bạn cầm quẻ này đến hỏi ta rằng: "Hào Tuất thổ Tử Tôn là độc phát, căn cứ vào đó thì hôm qua ngày Bính Tuất ắt phải tạnh ráo, tại sao vẫn có mưa?" Ta bèn đáp rằng: "Anh lo lắng ruộng lúa bị nước lụt, thần linh cho anh hào Tử Tôn phát động, để khắc đi Quỷ ở thân mình (Thế), là ý bảo anh không phải lo lắng, chứ không phải ứng với tạnh mưa. Tuy trước mắt mưa chưa tạnh, nhưng chắc sẽ không lụt. Nếu căn cứ vào quẻ này để tính ngày tạnh ráo, thì đến ngày Mão mưa sẽ tạnh." Người này hỏi: "Tại sao?" Ta bèn đáp: "Động mà gặp hợp, trời sẽ tạnh, anh sẽ không còn phải lo lắng." Sau quả nhiên đến ngày Mão mưa tạnh hẳn.
Tân bình thích: Ở đây do Tử Tôn động mà hóa thoái, ngày Mão hợp thì không thoái.
Lại ví dụ: Ngày Giáp Ngọ tháng Thìn, xem về việc khai mỏ than, được quẻ Gia Nhân biến Ích:


Hào Tài Sửu thổ trì Thế, được Nhật thần Ngọ tương sinh, nên đoán rằng có thể khai thác được. Người đó hỏi, lúc nào thì đào được đến than? Ta đáp rằng: Hào Tài Sửu thổ tĩnh, bị tháng Mùi xung khai, nên ứng vào tháng Mùi (tháng sáu). Nhưng đến tháng sáu vẫn chưa thấy than, nghỉ rồi lại đào, đào rồi lại nghỉ. Năm Mùi xem quẻ, cho đến tháng Thìn năm Hợi mới đào được than. Như vậy là ứng vào hào độc phát, Hợi thủy biến thành Thìn thổ, cả năm cả tháng đều ứng nghiệm, nhưng lúc đoán quẻ, có ai dám đoán là ứng vào tháng Thìn năm Hợi?
Tân bình thích: Ví dụ này tuy ứng độc phát, nhưng cũng có liên quan đến Dụng thần. Ứng Tử Tôn Nguyên thần Không Vong, vì vậy chậm chạp không được than, năm Hợi xung thực lại ứng độc phát.
Hào độc tĩnh trong quẻ xem bệnh: quẻ Vị Tế biến Kiển, Cấu biến Vô Vọng
Năm hào cùng động, một hào đứng yên, phép xưa lấy ngay hào yên ấy làm ngày mà không nói được là ngày sống hay ngày chết.
Lại ví dụ: Ngày Canh Tuất tháng Dần, xem về bệnh của con gái, được quẻ Hỏa Thủy Vị Tế biến Thủy Sơn Kiển:


Phép xưa căn cứ vào hào độc tĩnh để đoán về thời gian ứng nghiệm. Trong quẻ này, hào Dần mộc độc tĩnh, nếu không dùng Dụng thần, thì nên đoán là ngày Dần được sống hay phải chết?
Ta đoán rằng, quẻ này hào Thổ Tử Tôn tuy hưu tù nhưng được hào Tị, Ngọ hỏa động mà tương sinh. Hào Mùi thổ Tử Tôn hóa Tiến thần, hào Thìn thổ Tử Tôn lại hóa Ngọ hỏa hồi đầu sinh, nên đoán là ngày Dần sẽ khỏi bệnh, nhưng chưa dám quyết đoán, lại bảo người mẹ xem thêm quẻ nữa, được quẻ Cấu biến Vô Vọng:


Tử Tôn tại Hợi thủy, hóa Dần mộc Không Vong, bệnh gần mà gặp Không sẽ khỏi. Ngày xuất Không cũng chính là ngày Dần, nên quẻ xem này khớp với quẻ trước. Ta bèn nói rằng: "Đến ngày Dần sẽ đỡ. Trước mắt tuy bệnh tình trầm trọng, nhưng vẫn không đáng ngại." Sau quả đến ngày Dần, con gái tỉnh lại. Sở dĩ quẻ trước ứng được vào hào độc tĩnh, là vì được Dụng thần vượng tướng. Lại thêm có quẻ sau hình tượng rõ ràng, ta mới dám quyết đoán như vậy.
Lý Ngã Bình bàn về lời bất định của sách Dịch mạo
Lý Ngã Bình bàn rằng: "Dịch mạo" cho rằng cát hung được sinh ra từ hào động, bởi vậy rất xem trọng hào động mà xem nhẹ Dụng thần. Khi sự việc ứng nghiệm, không đối chứng với Dụng thần, mà lại kiểm nghiệm với tượng quẻ. Bởi vậy, rõ ràng là dạy người ta chỉ coi trọng độc phát, độc tĩnh, mà bỏ không dùng đến Dụng thần.
Sách lại nói: "Tuy không bỏ Dụng thần, nhưng cũng không lấy Dụng thần", như vậy là dạy người ta không dùng đến Dụng thần.
Lại nói: "Độc phát, độc tĩnh có thể xác định ngày giờ, còn cát hung phải xem ở Dụng thần", như vậy lại bảo người ta phải xem trọng Dụng thần.
Phàm là viết sách truyền đời, phải là một chữ có thể khai thông bế tắc cho người đời sau, một câu có thể phá tan những nghi ngờ từ muôn thuở. Nay sách này lúc thì nói nên dùng Dụng thần, lúc lại bảo không dùng Dụng thần, lời nói bất định, sao có thể trở thành phép tắc, nên nêu ra đây để cảnh tỉnh người đời.
Vương Hồng Ứng nghiệm hào độc phát: ba quẻ ly hôn và hai quẻ tìm trẻ
Thực tiễn về sau giữ nguyên chỗ đứng của Dụng thần, song cũng ghi lại những lần một hào độc phát tự mình báo cát hung.
Tân bình thích: Tôi thường được nghiệm, lấy Dụng thần định cát hung và ứng kỳ là chính, ứng kỳ ngẫu nhiên có ứng độc tĩnh. Song với độc phát, có khi ứng địa chi phát động, có khi ứng địa chi hợp hào động, cũng có khi ứng Dụng thần, việc phán đoán ứng kỳ hoàn toàn tùy thuộc vào kinh nghiệm tích lũy của người đoán quẻ, cần dựa vào nội dung muốn hỏi, tính chất sự việc có gấp gáp hay không,... mà phán đoán một cách linh hoạt.
Ví dụ 1: Ngày Quý Dậu tháng Hợi, đoán ly hôn với vợ, được quẻ Thiên Thủy Tụng biến Phong Thủy Hoán.


Kỵ thần độc phát, lại là quẻ du hồn, tất chủ ly dị. Chỉ vì động mà tương hợp với hào biến, xung khai tất chia ly. Về sau ly hôn ở ngày Sửu.
Vẫn là người này lúc đó đoán niên vận, ngày Giáp Thân tháng Dần năm Mậu Dần, được quẻ Phong Hỏa Gia Nhân biến Phong Thiên Tiểu Súc.


Hào Thế Thê Tài động hóa hồi đầu khắc, hào 2 là hào vị phu thê, tất là ứng chuyện vợ chồng bất lợi. Sau ở ngày Sửu tháng Hợi, ly hôn với vợ. Hào độc phát nghiệm ở ngày mà không nghiệm ở tháng. Ứng với tháng Hợi chính là nguyên do Nguyên thần hào Tài lâm Tuyệt, Kỵ thần được Trường Sinh.
Vẫn là việc này, em gái đoán anh trai và chị dâu bất hòa, có ly hôn không? Ngày Nhâm Thân tháng Hợi, được quẻ Địa Thiên Thái biến Địa Phong Thăng.


Mặc dù là quẻ lục hợp, nhưng Dụng thần độc phát hóa hồi đầu khắc, chắc chắn sẽ ly hôn. Về sau ly hôn ở ngày Đinh Sửu, là ngày hợp hào độc phát, cũng là ngày trị hào biến Dụng thần bị khắc.
Ba ví dụ trên đây đều là cùng một sự việc, ứng kỳ cát hung đều không tách khỏi Dụng thần. Nhưng cũng có lúc độc phát ứng nghiệm cát hung, không thể không biết.
Ví dụ 2: Ngày Giáp Tuất tháng Mùi, đoán trẻ nhỏ bị người bắt cóc, cát hung thế nào? Được quẻ Thủy Địa Tỷ biến Phong Địa Quan.


Tử Tôn Thân kim mặc dù Không Vong, nhưng được Nhật Nguyệt sinh phù là vượng, nếu lấy vượng suy mà đoán tất bình an vô sự. Nhưng một hào độc phát, hào độc phát là Tử địa của Dụng thần, cuối cùng đứa nhỏ bị sát hại. Đây chẳng phải là ứng vào hào độc phát ư? Chỗ này cát hung nghiệm ở tượng.
Ví dụ 3: Ngày Quý Mùi tháng Mùi, người đàn ông hỏi con ra ngoài hai ngày chưa về, có sao không? Được quẻ Cấn Vi Sơn biến Phong Sơn Tiệm.


Quẻ này Dụng thần Tử Tôn cũng Không Vong, Nhật Nguyệt sinh phù Dụng thần vượng tướng, một hào độc phát, hào độc phát là Tử địa của Dụng thần, Dụng thần Tử ở Tý thủy, mà đứa trẻ chết đuối ở hướng Đông Bắc. Ở ngày Giáp Thân tìm được thi thể. Dụng thần Tử ở thủy mà đứa nhỏ bị chết đuối, chẳng lẽ không nghiệm ở độc phát ư? Nhưng mà ứng kỳ vẫn ứng vào Dụng thần xuất Không.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
