Bài tổng quan
Ứng Kỳ, Quy Hồn Du Hồn Và Nguyệt Phá: Thời Điểm Ứng Nghiệm Của Quẻ
Một viên quan hỏi hậu vận công danh, được quẻ Cấn biến Quan. Hào Tý thủy động sinh hào Thế nhưng gặp Nguyệt phá, lại hóa Tuần Không. Sách xưa bảo hào ấy có cũng như không. Dã Hạc lão nhân đoán khác: tháng bảy bị đàn hặc, tháng Tý chỉ giáng chức, năm Tý phục hồi phẩm cũ, năm Thìn mất chức, tất cả ứng trên một hào bị Phá. Cơ trời lộ ở hào động, nên Phá hôm nay vẫn có ngày thực Phá, hợp Phá. Phép định ứng kỳ cũng từ đó mà ra: hào tĩnh đợi trực đợi xung, hào động đợi hợp, quá vượng đợi Mộ, nhập Mộ đợi xung khai, việc gần ứng ngày giờ, việc xa ứng năm tháng. Còn quẻ Du hồn đi ngàn dặm, quẻ Quy hồn không ra khỏi bờ cõi, vì sao vẫn phải lấy Dụng thần làm chủ?
Mục lục · 7 phần
- 01Ứng kỳ theo động tĩnh, vượng suy, Mộ, hợp, Phá và Không
- 02Ứng kỳ theo đại tượng, Nguyên thần, Tiến thần và Thoái thần
- 03Quy hồn, Du hồn: quẻ thứ bảy và quẻ thứ tám của mỗi cung
- 04Nguyệt phá: bị Nguyệt kiến xung và ngày thực Phá, hợp Phá
- 05Hào Quan gặp Nguyệt phá vẫn thành danh: quẻ Đoài biến Tụng, quẻ Tỷ
- 06Dụng thần hóa thoái mà người trở về: quẻ Càn biến Quải, Lâm biến Chấn
- 07Nửa đời quan lộ trong một hào Nguyệt phá: quẻ Cấn biến Quan, quẻ Lâm
Ứng kỳ theo động tĩnh, vượng suy, Mộ, hợp, Phá và Không
Tĩnh thì gặp trực gặp xung.
Ví dụ: Hào chủ sự nằm tại Tý thủy không động (tĩnh), sau đến ngày Tý là gặp trực, đến ngày Ngọ là gặp xung, sẽ ứng nghiệm.
Tân bình thích: Quy luật ứng kỳ không phải là thứ tuyệt đối, đôi khi căn cứ vào nội dung dự đoán khác nhau, mà phương pháp định ứng kỳ cũng có phần khác nhau. Tôi từng dự đoán tìm người, Dụng thần an tĩnh, ngày gặp hợp ứng nghiệm sự việc. Cũng gặp tình huống tìm người hoặc động vật bị lạc, Dụng thần an tĩnh hợp Nhật, hôm đó trở về, đây chính là thuộc về động thái của đối tượng, hợp tức không còn chạy lung tung, không còn đi lại khắp nơi, vì vậy mà ứng nghiệm gặp hợp.
Động thì gặp hợp gặp trực.
Ví dụ: Hào chủ sự nằm tại Tý, động, sau đến ngày Sửu là gặp hợp, đến ngày Tý là gặp trực, sẽ ứng nghiệm.
Quá vượng mà gặp Mộ gặp xung.
Ví dụ: Hào chủ sự nằm tại Ngọ hỏa, lại xem vào ngày hoặc tháng Tị, Ngọ, hoặc trong quẻ có quá nhiều hào Tị, Ngọ, sau đến ngày Hợi, ngày Tý là gặp xung, đến ngày Tuất là gặp Mộ, tức hỏa nhập Mộ, sẽ ứng nghiệm.
Tân bình thích: Chỗ này cần phải xem cát hung của Dụng thần mà luận. Dụng thần cát, nếu như Mộ bị khắc là lúc sự việc thành; Dụng thần hung, khi Dụng thần gặp sinh là hung.
Suy tuyệt mà gặp sinh gặp vượng.
Ví dụ: Hào chủ sự thuộc kim, xem vào ngày hoặc tháng Tị, Ngọ, như vậy hào chủ sự ở thế hưu tù vô khí (Tị, Ngọ hỏa khắc kim). Sau đến ngày, tháng Thổ hoặc đến tiết thu đương lệnh sẽ trở nên vượng.
Tân bình thích: Dụng suy cực, khi gặp sinh cũng vô dụng. Thường gặp đoán bệnh Dụng thần quá nhược, khi gặp Trường Sinh mà chết. Lúc này như cây khô, tưới nước thì càng mục nát nhanh hơn.
Nhập Tam Mộ cần phải xung khởi.
Ví dụ: Chủ tượng nằm tại Ngọ hỏa, hỏa nhập Mộ ở Tuất, sau đến ngày Thìn được xung khai mà ứng nghiệm.
Tân bình thích: Cũng có khi ứng Dụng thần gặp xung.
Gặp lục hợp cũng nên tương xung.
Ví dụ: Hào chủ sự cùng Nhật thần, Nguyệt kiến tương hợp, hoặc động mà hợp với hào khác, hoặc động mà hóa hợp, thì hung hay cát cũng phải đợi đến ngày xung khai mới ứng nghiệm.
Ví dụ khác: Chủ tượng nằm tại hào Tý, hợp với Sửu, sau đến ngày Ngọ, ngày Mùi (ngày xung khai hợp) thì ứng nghiệm.
Nguyệt phá nên gặp điền gặp hợp.
Ví dụ: Xem vào tháng Tý, hào chủ sự nằm tại Ngọ hỏa, như vậy là gặp Nguyệt phá. Sau đến ngày Mùi sẽ ứng nghiệm, vì khi đó là phá gặp hợp (Ngọ hợp Mùi); hoặc sẽ ứng nghiệm vào ngày Ngọ, vì là ngày điền thực, sẽ không còn bị phá nữa.
Tân bình thích: Gần thì ứng ngày giờ, xa thì ứng năm tháng, ngoài thực Phá hợp Phá, cũng có ứng xuất nguyệt, tức là ra khỏi tháng dự đoán.
Tuần Không nên gặp điền gặp xung.
Trong chương "Tuần Không" đã trình bày rất rõ ràng.
Ứng kỳ theo đại tượng, Nguyên thần, Tiến thần và Thoái thần
Hào đã có ngày ứng riêng, song cát hung của cả quẻ mới định việc ứng vào lúc khắc thần bị chế hay lúc nó được sinh.
Đại tượng cát mà bị khắc, nên đợi đến khi khắc thần bị khắc.
Ví dụ: Dụng thần nằm tại Thìn thổ, được Nhật, Nguyệt sinh phò, như vậy đại tượng là cát. Nếu bị Dần, Mão khắc hại, sau đến ngày Thân, ngày Dậu, khắc thần Dần, Mão bị xung, sẽ cát.
Đại tượng hung mà bị khắc, cần đề phòng khắc lại gặp sinh.
Như ví dụ trên đây, Dụng thần nằm tại Thìn thổ, nếu không có hào động Nhật, Nguyệt tương sinh, đại tượng là hung. Nếu gặp Dần, Mão khắc chế, sau đến ngày Dần, ngày Mão, ngày Hợi sẽ hung.
Nguyên thần tương trợ tương phù, cần xem Dụng thần suy hay vượng.
Kỵ thần tương xung, tương khắc, cần xem nguyên khí hưng hay suy.
Trong chương Nguyên thần, Kỵ thần, đã trình bày rất rõ ràng.
Hóa Tiến thần, gặp trực gặp hợp.
Ví dụ: Hào Thân động hóa thành hào Dậu, là thành Tiến thần. Là họa hay phúc, sẽ ứng vào ngày, tháng Thân (gặp trực), hoặc ngày, tháng Tị (gặp hợp).
Hóa Thoái thần, kỵ trực kỵ xung.
Ví dụ: Hào Dậu động hóa thành hào Thân, tức Thoái thần, sẽ ứng nghiệm vào ngày, tháng Thân (gặp trực), hoặc ngày, tháng Dần (gặp xung).
Có lúc ứng nghiệm vào độc phát độc tĩnh (hào động, hào tĩnh duy nhất).
Sẽ trình bày rõ trong chương "Độc phát".
Có khi ứng nghiệm vào hào biến hào động.
Ví dụ: Hào Tuất thổ động mà biến thành Dậu kim, sẽ ứng nghiệm vào ngày Tuất, hoặc ngày Dậu.
Không nên vội cho rằng hào không ứng nghiệm, cần phải phân định là việc gần hay xa.
Việc xa thì định hằng năm tháng, việc gần thì định hằng ngày giờ.
Có khi xem xa ứng gần, xem gần ứng xa, xem tháng ứng năm, xem ngày ứng giờ, không thể không xem xét cho kỹ.
Nếu gặp quẻ không thật rõ ràng, tốt nhất là nên xem lại.
Quẻ mơ hồ không rõ, nên xem thêm quẻ nữa, không được đoán bừa.
Hào Thế Không, Nguyên thần động, cần đợi Nguyên thần gặp trực.
Ví dụ: Vào tuần Giáp Thìn, xem về cầu tài, được quẻ Khốn biến Khảm, hào Thê Tài tại Dần mộc, tức gặp Tuần Không, phải đợi đến ngày Hợi, Nguyên thần gặp trực, mới đắc tài.
Hào Thế suy, Nguyên thần tĩnh, cần đợi nguyên khí gặp xung.
Ví dụ: Mùa thu, xem về toan tính mưu kế, được quẻ Khốn, hào Thế suy, Nguyên thần không động, sau đến ngày Tị nguyên khí bị xung mà việc thành.
Quy hồn, Du hồn: quẻ thứ bảy và quẻ thứ tám của mỗi cung
Thời điểm thuộc về hào, còn dáng dấp bền hay không bền của sự việc lại gửi ở tên quẻ.
Quẻ Du hồn là quẻ thứ bảy tại mỗi cung. Ví dụ quẻ Hỏa Địa Tấn thuộc cung Càn, quẻ Thủy Thiên Nhu tại cung Khôn,...
Quẻ Quy hồn là quẻ thứ tám tại mỗi cung. Ví dụ quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu thuộc cung Càn, quẻ Thủy Địa Tỷ tại cung Khôn,...
Sách xưa cho rằng, "Du hồn đi ngàn dặm". Nếu muốn làm việc lâu dài, mà gặp quẻ Du hồn thì không thể bền lâu, tâm không có định hướng, thay đổi bất thường.
Quy hồn không ra khỏi bờ cõi, sự việc trì trệ luẩn quẩn không thực hiện được, suy đoán theo hướng tương phản với quẻ Du hồn.
Nếu xem được quẻ Du hồn:
Xem về số mệnh, chủ về một đời không có chốn an cư lạc nghiệp.
Xem về người đi xa, còn phải lang bạt khắp chốn quê người.
Xem về xuất hành, đường đi nước bước bất định.
Xem về gia trạch, thay đổi liên tục không cố định.
Xem về mộ phần, người chết không được yên ổn.
Dã Hạc lão nhân bàn rằng: Cần phải lấy Dụng thần làm chủ, sau đó mới kết hợp cùng Quy hồn, Du hồn để suy đoán; nếu như bỏ Dụng thần, chỉ căn cứ vào đó để đoán quẻ là sai lầm.
Tân bình thích: Quan điểm của Dã Hạc là chính xác, mỗi khi du hồn quy hồn có nghiệm, thì chẳng chủ cát hung. Du hồn quy hồn cũng thuộc về phạm trù tượng. Trong cuốn "Lục hào quái lệ thuyết chân" tôi cũng đã trình bày chi tiết, các bạn có thể tham khảo.
Nguyệt phá: bị Nguyệt kiến xung và ngày thực Phá, hợp Phá
Trong các điều kiện của ứng kỳ, hào bị tháng xung là chỗ sách xưa và Dã Hạc lão nhân nhìn khác nhau nhiều nhất.
Tháng Dần (1): Thân; tháng Mão (2): Dậu; tháng Thìn (3): Tuất
Tháng Tị (4): Hợi; tháng Ngọ (5): Tý; tháng Mùi (6): Sửu
Tháng Thân (7): Dần; tháng Dậu (8): Mão; tháng Tuất (9): Thìn
Tháng Hợi (10): Tị; tháng Tý (11): Ngọ; tháng Sửu (12): Mùi
Bị Nguyệt kiến xung gọi là Nguyệt phá. Trên đây là bảng liệt kê những ngày gặp Nguyệt phá trong mỗi tháng.
Sách xem đều cho rằng, nếu Dụng thần gặp Nguyệt phá là trái thời, tựa như cây khô rễ mục, gặp sinh cũng không sống nổi, gặp thương khắc thì tổn thương càng nghiêm trọng, tuy có xuất hiện trong quẻ, cũng bằng không. Nếu phục trong quẻ, thì rất khó có thể hiển lộ. Dẫu có được Nhật thần tương sinh, cũng khó có thể sinh. Nếu hào Kỵ thần động mà gặp Nguyệt phá, cũng không thể gây hại. Nếu hào biến gặp Nguyệt phá, cũng không thể khắc thương hào động.
Dã Hạc lão nhân bàn rằng: Theo chiêm nghiệm của ta, hào động sẽ gây tổn thương đến hào khác, hào biến sẽ gây tổn thương đến hào động, tại sao lại như vậy? Vì thần linh mách bảo cơ trời tại hào động, nếu sự việc không cát không hung, thì quẻ sẽ không có hào động. Đã có hào động, ắt có mầm họa mầm phúc. Trước mắt tuy gặp Phá, nhưng ra khỏi tháng đấy sẽ hết Phá. Hôm nay tuy gặp Phá, nhưng đến ngày thực Phá sẽ hết Phá, gặp ngày hợp sẽ hết Phá. Việc gần thì ứng vào giờ vào ngày, việc xa thì ứng vào tháng vào năm.
Chỉ khi quẻ chỉ có hào tĩnh mà không có hào động, lại không có Nhật thần, hào động tương sinh tương trợ, như vậy là bị Phá đến cùng.
Hào Quan gặp Nguyệt phá vẫn thành danh: quẻ Đoài biến Tụng, quẻ Tỷ
Ví dụ: Ngày Kỷ Sửu tháng Hợi, xem về sau có được làm quan không, được quẻ Đoài biến Tụng:


Trong quẻ này, hào Quan động mà sinh ra hào Thế, hào Thế động mà sinh ra Tiến thần, đây rõ ràng là điềm sẽ được làm quan. Nhưng vì hào quan gặp Nguyệt phá, hào Thế gặp Tuần Không, nên là Không Vong. Nhưng do được Nhật thần tương xung, nên Không lại hóa thực, không còn là Không nữa. Còn về Nguyệt phá, lại không được hào động Nhật thần Sửu thổ tương sinh. Phép xưa cho rằng, gặp Nguyệt phá cho dù được Nhật kiến tương sinh, cũng không sinh nổi, huống chi ở đây lại không được hào động Nhật kiến tương sinh? Ta cảm thấy nghi ngờ, nếu không có hy vọng, tại sao lại có hào động để sinh hào Thế? Bèn bảo anh ta xem lại, được quẻ Thủy Địa Tỷ:

Ta bèn đoán rằng: "Nếu số mệnh không được làm quan, thì khó mà được hào Quan sinh hào Thế và được Quan tinh trì Thế. Nay quẻ trước được hào Quan động mà tương sinh hào Thế, quẻ sau lại được hào Quan trì Thế, ắt hẳn sẽ có ngày được ăn lộc nhà vua." Người đó bèn hỏi ứng nghiệm vào năm nào, ta bèn trả lời: "Quẻ trước hào Quan gặp Nguyệt phá, chắc chắn phải đợi đến năm điền thực được phá." Quả nhiên đến năm Tị, được tập ấm thế vị của ngành trưởng. Nếu cho là gặp Nguyệt phá, mọi sự đều không như ý, quả thực là sai lầm lớn.
Dụng thần hóa thoái mà người trở về: quẻ Càn biến Quải, Lâm biến Chấn
Bị Phá mà động thì vẫn có ngày ứng, và hướng tiến hay thoái của hào động nói rõ người đi hay người về.
Lại vào ngày Mậu Tý tháng Thìn, xem cha ngày nào sẽ trở về, được quẻ Càn biến Quải:


Hào Phụ Mẫu trì Thế, gặp Nguyệt phá, lại biến ra hào Mùi thổ gặp Tuần Không. Đã không được Nhật thần sinh, lại không có hào động trợ giúp, nếu phán đoán theo lối cũ, là Dụng thần vô khí, người cha sẽ không quay trở về. Nhưng ta không phán đoán như thế, mà xem Chu Tước ở hào Phụ, hào Phụ động mà trì Thế, đến ngày Mão ắt có tin tức, ngày Ngọ ngày Mùi sẽ về đến nhà. Quả nhiên vào ngày Mão được tin của cha, đến ngày Ất Mùi thì người cha về đến nhà. Sở dĩ ứng vào ngày Mão được tin tức, vì đến ngày Mão, Nguyệt phá sẽ gặp hợp; ứng vào ngày Mùi cha trở về, vì hào Phụ vốn biến thành hào Mùi thổ gặp Tuần Không, đến ngày Mùi ra khỏi Tuần Không, sẽ về đến nhà.
Quan niệm của sách xưa về Tiến thần cho rằng, hào động gặp Nguyệt phá, vị thế của ta sẽ mất, biến thành Nguyệt kiến cũng là thoái lui. Trong quẻ này, hào Phụ gặp Nguyệt phá mà biến thành Không, tức lui về nhà.
Tân bình thích: Đây là không biết cách dùng của Tiến thần Thoái thần. Dự đoán ngày về của người, tìm người tìm vật, lấy thoái làm tiến, lấy tiến làm thoái. Chỗ diệu dụng trong quẻ chính là Dụng thần động mà hóa thoái, vì vậy cha người đó trở về, nếu như hóa tiến, tất khó trở về.
Ví dụ: Ngày Tân Mão tháng Mùi, một người nữ hỏi bản thân và bạn trai cãi lộn chia tay, bạn trai có còn trở về với mình hay không? Được quẻ Địa Trạch Lâm biến Chấn.


Quẻ này nếu lấy phép xưa mà đoán thì Dụng thần nhập Mộ ở Nguyệt, động mà hóa thoái, quẻ biến lục xung, tất khó hòa giải. Tôi lấy Dụng thần hóa thoái, đoán là tháng Thân sẽ quay trở lại. Quan Quỷ trì Thế động mà hóa thoái, chính là tượng bạn trai sẽ quay lại bên cạnh cô ấy. Kết quả đúng như phán đoán.
Nửa đời quan lộ trong một hào Nguyệt phá: quẻ Cấn biến Quan, quẻ Lâm
Một hào bị Phá có thể theo người xem qua nhiều năm, mỗi lần điền thực hay nhập Mộ lại ứng một việc.
Lại ví dụ vào ngày Quý Mão tháng Ngọ, xem về công danh hậu vận, được quẻ Cấn biến Quan:


Ta bèn đoán rằng: Hào Quan tinh Dần mộc trì Thế, bị hào động Thân kim khắc, đến tháng bảy trong năm sẽ gặp chuyện không may. Người đó bèn hỏi ta là việc gì? Ta bèn đáp: "Hào Ứng động khắc hào Thế, hẳn có kẻ thù." Người đó bèn hỏi, có trở ngại đến công danh không? Ta đáp rằng: "Nếu không có hào Tý thủy động, chắc chắn sẽ mất chức. Nhưng may còn có hào Tý thủy động tương sinh nối tiếp, nên chỉ bị giáng chức hay thuyên nhiệm mà không bị miễn chức."
Hôm sau, người này gọi ta đến phủ thự, có một môn khách hiểu về Dịch lý hỏi ta rằng: "Đã được hào Tý thủy tương sinh nối tiếp, trong sách xưa có viết: Nếu Kỵ thần và Nguyên thần cùng động, hào Quan và hào Thế được hai sinh, là điềm mùa đông trong năm sẽ được thăng quan, tại sao ông lại cho là bị giáng chức?"
Ta bèn trả lời: "Hào Tý thủy gặp Nguyệt phá mà hóa thành Tị hỏa Tuần Không, trong sách xưa có viết: tuy có cũng như không, có Nguyên thần cũng là vô dụng. Ta không đoán theo phép cổ. Thần linh hé lộ cơ trời tại hào động, động ắt có nguyên nhân, nên ta chỉ đoán là giáng cấp mà thôi, về thời gian bị giáng cấp, nếu tại tháng Đông chí, mới ứng nghiệm. Nếu tại tháng khác, Tý thủy chưa được điền thực, vẫn chưa biết được.
Quả nhiên vào tháng bảy, giữa các quan lại xảy ra đấu đá, đàn hặc lẫn nhau, kết thành thị phi. Đến tháng Đông chí sự việc kết thúc, bị giáng chức điều nhiệm sang nơi khác.
Tân bình thích: Tử Tôn động mà hóa Quan, chính là tượng mất quan lại được quan. Ứng là người khác, lâm Chu Tước khắc Thế Quan, Chu Tước chủ khẩu thiệt thị phi, vì vậy mới xuất hiện người hạch tội hạ bệ mình. Phụ Mẫu là công văn kết luận, Tý thủy động mà hóa ra Phụ Mẫu, cho nên ứng tháng Tý kết án. Tý thủy tại hào 5, hào 5 là hào vị cấp trên, Nguyệt phá không sinh Thế Quan tinh, là bị người vạch tội nhưng không được cấp trên giúp đỡ. Tóm lại là do người khác gây nên rắc rối mà quan vận bị ảnh hưởng.
Ta lúc này cũng đã đi sang tỉnh khác, người đó bèn đến mời ta đến xem tiếp.
Vào ngày Bính Thìn tháng Dần, xem được quẻ Địa Trạch Lâm:

Ta bèn giải thích rằng: "Nghe nói nhân dân muốn giữ, nhưng sợ trên không chuẩn, ắt phải đợi đến năm Tý, sẽ được phục hồi phẩm cũ." Môn khách hiểu Dịch lý lần trước cũng ở đấy, hỏi ta rằng: "Hào 5 là Hợi thủy sinh hào Quan, tại sao lại không chuẩn?" Ta đáp rằng: "Hào 5 sinh, nhưng nay bị Nhật thần khắc, phải đợi đến năm Tý, vì Hợi thủy vượng ở Tý. Lại hợp với quẻ lần trước, hào 5 Tý thủy, gặp Thái Tuế mà không bị phá, chắc chắn sẽ lại được dùng."
Quả nhiên vào tháng Tị năm Giáp Tý được phục hồi phẩm cũ, lại được bổ nhiệm hai lần, đến năm Mão được thăng làm đốc phủ. Ta khuyên người này nên từ chức, anh ta bèn hỏi nguyên do, ta đáp: "Vẫn đoán theo quẻ trước, vì hào Thân kim khắc hào Thế, hào Tý thủy tuy động, nhưng gặp Phá mà lại hóa Không, nên không thể sinh hào Thế và hào Quan, nên dễ vướng vào kết oán kiện tụng. Đến tháng Tý, tuy Nguyệt phá được điền thực, nhưng sức còn yếu, nên tuy không đến nỗi bị cách chức, nhưng vẫn phải giáng chức. Sau đến năm Tý, mới là năm điền thực được Nguyệt phá. Lại gặp Thái Tuế đương quyền, nên lại được dùng. Năm sau là năm Thìn, là năm Tý thủy nhập Mộ, Thái Tuế khắc mất Tý thủy, Thân kim vẫn lại khắc Thế. Bị khắc thì không sinh được, chắc chắn tai họa sẽ nặng hơn nhiều so với lần trước." Nhưng người này không nghe.
Quả nhiên vào tháng ba năm Thìn dâng biểu điều trần, tuy lưu tiếng thơm muôn thuở, nhưng vẫn đắc tội mà bị cách chức. Sở dĩ có những đoán định như trên về Nguyệt phá, là do gặp Phá nhưng lại là động, nếu không phải là hào động, cách đoán sẽ khác.
Lý Ngã Bình bàn rằng: Sách "Dịch mạo" khi bàn về Nguyệt phá, cho rằng nếu hào gặp Nguyệt phá động mà là Kỵ thần thì vô hại, động mà là Nguyên thần thì vô dụng, được Nhật thần sinh cũng không nên được, tức là quẻ hoàn toàn vô dụng. Sách "Dịch lâm bổ di" cũng viết: Nếu hào gặp Nguyệt phá, bất kể là suy hay vượng, đều là điềm hung. Gặp sinh không sinh được, gặp khắc lại chuốc lấy khắc. Cũng có nghĩa là có mà cũng như không. Nếu xem quẻ Cấn biến Tốn trên đây, vào thời điểm xem quẻ, hào Tý thủy gặp phải Nguyệt phá nên không thể sinh, nên gặp rắc rối kiện tụng tại triều đình. Gặp Nguyệt kiến (tháng Tý) điền thực, tai họa mới được giảm nhẹ, chỉ bị giáng chức. Đến năm Tý Thái Tuế đương quyền, lại được phục hồi phẩm cũ. Đến năm Thìn, Tý nhập Mộ, lại gặp họa lớn. Sự cát hung của nửa đời người, chỉ nằm trong một hào Nguyệt phá. Lẽ nào có thể cho rằng tuy có như không, hoàn toàn vô dụng?
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
