Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Mai hoa dịch số

Bài tổng quan

Ngũ hành của tám quẻ, nhịp vượng suy và cách xét thể dụng

Bói Dịch - Mai hoa dịch số02/10/202613 phút đọc1 lượt đọc
Ngũ hành của tám quẻ, nhịp vượng suy và cách xét thể dụng

Cùng một quẻ Càn, giữa mùa thu có thể đầy khí thế còn giữa mùa hạ lại yếu ớt như người ốm. Người đoán thạo bao giờ cũng hỏi quẻ ấy đang đứng ở mùa nào, phương nào, cạnh ai trước khi nói điều lành dữ. Và câu trả lời nằm trong…


Cùng một quẻ Càn, giữa mùa thu có thể đầy khí thế còn giữa mùa hạ lại yếu ớt. Người đoán thạo luôn hỏi ngay một câu trước khi kết luận: quẻ này đang ở mùa nào, phương nào, giờ nào. Câu trả lời phụ thuộc vào năm thuộc tính của tám quẻ và vòng quay vượng suy của chúng theo thời gian và không gian.

Tám quẻ chia về năm hành

Mỗi quẻ mang một màu ngũ hành, như mỗi người mang một dòng họ.

Phép đoán tượng số dùng số tiên thiên để đánh dấu tám quẻ, đã quen thuộc: Càn một, Đoài hai, Ly ba, Chấn bốn, Tốn năm, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám. Cạnh con số ấy, mỗi quẻ còn mang một hành. Càn và Đoài thuộc kim. Khôn và Cấn thuộc thổ. Chấn và Tốn thuộc mộc. Khảm thuộc thủy. Ly thuộc hỏa. Chỉ năm hành mà quản được cả tám quẻ, nên khi gặp một quẻ lạ, việc đầu tiên là biết nó là hành nào.

Sau đó quan hệ giữa các hành vận hành theo hai chiều quen thuộc. Chiều sinh là kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim. Chiều khắc là kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim.

Ba loại quan hệ giữa hai quẻ

Khi hai quẻ gặp nhau, thứ đầu tiên cần xác định không phải ý nghĩa của chúng, mà là chúng đối xử với nhau thế nào.

Có ba kiểu quan hệ thường gặp. Kiểu thứ nhất là sinh phù: hành của quẻ này nuôi dưỡng hành của quẻ kia, như mẹ với con. Ly thuộc hỏa, được Chấn và Tốn thuộc mộc sinh phù. Kiểu thứ hai là khắc chế: hành của quẻ này đè nén hành của quẻ kia. Ly thuộc hỏa nên khắc chế Càn và Đoài thuộc kim. Kiểu thứ ba là tỷ hòa: hành của hai quẻ giống nhau như anh em nương tựa. Càn và Đoài cùng kim, Chấn và Tốn cùng mộc, Khôn và Cấn cùng thổ, gặp nhau là tỷ hòa. Điều này quan trọng vì trong phép đoán, quan hệ sinh khắc giữa các quẻ chính là chất liệu đầu tiên để định cát hung.

Trong thực tế đoán, còn có một chi tiết hay bị bỏ qua: kẻ bị khắc không phải lúc nào cũng thua. Khi bên khắc quá yếu mà bên bị khắc quá mạnh, tình thế đảo ngược. Kim yếu gặp mộc vững thì kim không khắc nổi mộc mà lại bị mộc làm hại. Hỏa vượng gặp thủy ít thì hỏa ép lại thủy. Thổ mạnh phản lại mộc, thủy mạnh phản lại thổ, kim mạnh phản lại hỏa. Nhìn quan hệ quẻ vì thế phải luôn gắn với sức mạnh hiện tại của từng bên.

Bốn điều kiện nâng sức cho một quẻ

Sức mạnh của một quẻ không cố định, nó phụ thuộc vào bốn điều kiện đang diễn ra cùng lúc.

Mỗi quẻ có hành riêng, nên ở mỗi mùa và mỗi phương nó mạnh yếu khác nhau. Có bốn điều kiện cần xét. Thứ nhất là có gặp đúng thời lệnh hay không, tức đúng mùa của hành mình. Thứ hai là có đúng vị hay không, tức đang đứng ở phương thuộc hành mình. Thứ ba là trong cả nhóm quẻ có quẻ cùng hành đứng cạnh giúp sức hay không. Thứ tư là thế lực của quẻ có mệnh hay không, tức có còn hơi thở của sự sống để vươn lên. Quẻ hội đủ các điều kiện ấy gọi là vượng, ngược lại là suy.

Với nhịp vượng suy theo thời gian, người đoán nên nhìn thêm bài về vòng trường sinh, nơi cùng một ý được trình bày từ góc nhìn của Lục hào.

Mùa nào hành nấy: bảng thời lệnh

Bốn mùa như bốn chiếc đồng hồ mà mỗi chiếc chỉ chạy cho một hành.

Mộc vượng ở mùa xuân, nên Chấn và Tốn mạnh nhất vào mùa xuân. Hỏa vượng ở mùa hạ, nên Ly mạnh nhất vào mùa hạ. Kim vượng ở mùa thu, nên Càn và Đoài mạnh nhất vào mùa thu. Thủy vượng ở mùa đông, nên Khảm mạnh nhất vào mùa đông. Thổ không có một mùa riêng, mà vượng ở tháng cuối của mỗi mùa. Đó là các tháng ba, sáu, chín và mười hai âm lịch, tức các tháng Thìn, Mùi, Tuất, Sửu, và Khôn Cấn mạnh nhất vào những tháng ấy. Ngoài mùa của mình, mỗi hành lại gặp mùa khác thì dần suy yếu, nhất là khi gặp mùa của hành khắc mình.

Thử đọc theo ví dụ nhỏ. Hai quẻ Chấn và Tốn thuộc mộc, vượng ở mùa xuân, suy ở mùa thu. Nếu năm, tháng, ngày hay giờ rơi vào thiên can Giáp Ất, địa chi Dần Mão Thìn là những thứ cùng mộc, thì Chấn Tốn gặp đúng thời mộc nên cũng mạnh. Nếu lại nằm ở phương Đông, tức phương của mộc, thì gọi là được vị, càng vượng.

Phương nào hành nấy: bản đồ của tám quẻ

Không gian cũng được tô màu bằng năm hành, và mỗi phương có một người chủ.

Phương Đông thuộc mộc, phương Nam thuộc hỏa, phương Tây thuộc kim, phương Bắc thuộc thủy, vùng giữa thuộc thổ. Gắn với tám quẻ, phương Đông là của Chấn và Tốn, phương Nam là của Ly, phương Tây là của Càn và Đoài, phương Bắc là của Khảm, vùng giữa và hai góc còn lại là của Khôn và Cấn. Phương vị này theo hậu thiên bát quái, nên khi đứng ra ngoài thực địa, hãy nhớ rằng bản đồ bát quái để Nam ở trên, Bắc ở dưới.

Người đoán phong thủy còn dùng sơ đồ hai mươi bốn sơn hướng, trong đó mỗi quẻ giữ một cụm hướng nhỏ gồm thiên can và địa chi tương ứng. Nhìn vào đó có thể biết ở mỗi quẻ có can nào, chi nào đang đứng gác.

Can chi cũng mang màu ngũ hành

Thời gian đếm bằng can chi nên mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng cũng tự mang sẵn một hành.

Mười thiên can chia theo hành như sau: Giáp và Ất thuộc mộc, Bính và Đinh thuộc hỏa, Mậu và Kỷ thuộc thổ, Canh và Tân thuộc kim, Nhâm và Quý thuộc thủy. Mười hai địa chi cũng được gắn hành: Tý thủy, Sửu thổ, Dần mộc, Mão mộc, Thìn thổ, Tỵ hỏa, Ngọ hỏa, Mùi thổ, Thân kim, Dậu kim, Tuất thổ, Hợi thủy. Mỗi chi lại gắn với một con giáp: chuột, trâu, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn, và gắn với một tháng: Dần là tháng giêng cho đến Sửu là tháng mười hai.

Nhờ bảng này, khi biết một thời điểm là Giáp Dần hay Nhâm Tý, ta lập tức biết nó đang cổ vũ hành nào. Lấy ví dụ giờ Tỵ hoặc giờ Ngọ là giờ hỏa vượng, tháng Thân hoặc tháng Dậu là tháng kim vượng. Bốn mùa cũng chia theo chi: xuân gồm Dần, Mão, Thìn; hạ gồm Tỵ, Ngọ, Mùi; thu gồm Thân, Dậu, Tuất; đông gồm Hợi, Tý, Sửu.

Gom các bảng ấy lại, ta có thể tóm tắt như sau. Chấn và Tốn là mộc, thuộc xuân, phương Đông, can Giáp Ất, chi Dần Mão Thìn. Ly là hỏa, thuộc hạ, phương Nam, can Bính Đinh, chi Tỵ Ngọ Mùi. Càn và Đoài là kim, thuộc thu, phương Tây, can Canh Tân, chi Thân Dậu Tuất. Khảm là thủy, thuộc đông, phương Bắc, can Nhâm Quý, chi Hợi Tý Sửu. Khôn và Cấn là thổ, đứng vùng giữa, can Mậu Kỷ, chi Thìn Tuất Sửu Mùi. Học thuộc năm dòng này là có trong tay gần như toàn bộ hệ quy chiếu cần thiết.

Dùng bảng để đọc sức mạnh của một quẻ

Bảng chỉ có giá trị khi dùng được, nên hãy thử đặt nó vào một tình huống cụ thể.

Giả sử lập được một quẻ thể là Càn, thuộc kim. Nếu lúc ấy là tháng bảy hoặc tháng tám âm lịch, tức mùa thu kim vượng, thì Càn đang đúng thời lệnh. Nếu ngày hoặc giờ lại có can Canh Tân hoặc chi Thân Dậu thì càng thêm một lớp trợ lực. Nếu trong nhóm quẻ lại có Khôn hay Cấn thuộc thổ thì thổ sinh kim, nâng đỡ thêm. Những điều kiện ấy gộp lại cho biết Càn đang mạnh, và một quẻ khắc nó ở lúc này sẽ khó gây thiệt hại lớn.

Ngược lại, nếu thời điểm ấy là tháng tư hoặc tháng năm, mùa hỏa vượng, thì Càn kim bị bao vây bởi hỏa khắc. Muốn biết sức khắc lớn đến đâu cần xét ngoài ra còn có quẻ nào cứu trợ trong cùng nhóm hay không. Cách đọc ấy chính là phần lõi của việc xem quẻ, và là chủ đề của phần xét thể dụng ngay sau đây.

Điều đáng nhớ là các bảng ấy không phải để nhồi nhét. Người đoán chỉ cần nhìn ra mối liên hệ: quẻ đứng ở mùa nào, phương nào, giờ nào, cạnh ai. Phần còn lại sẽ tự hiện ra khi đã quen. Với người mới, thước đo sức mạnh của mỗi hào, mỗi quẻ là điểm bắt đầu tốt để luyện cách cảm nhận ấy.

Thể và dụng: hai nhân vật của một lần đoán

Sau khi biết mỗi quẻ mạnh yếu ra sao, câu hỏi còn lại là ai đứng về phía ai.

Khi một quẻ được dựng xong, vai của từng quẻ đơn được xác định bằng hào động. Quẻ thể là chủ thể của sự việc, là dấu hiệu của chính người hay việc mình quan tâm. Quẻ dụng và mọi quẻ khác ngoài thể, gồm cả quẻ hổ và quẻ biến, là phía đối ứng: người khác, việc khác, hoàn cảnh đang tác động tới mình. Quẻ hổ cho ta thấy chặng trung gian, còn quẻ biến cho thấy kết quả sau cùng. Mọi sự việc trong thế gian đều có phần chủ thể và phần khách thể, nên phép đoán nào cũng bắt đầu từ việc tách hai phần ấy ra.

Ý nghĩa của việc xem quẻ nằm ở chỗ phân biệt thể và dụng, rồi xét lẽ sinh khắc, tỷ hòa giữa chúng. Từ đó cơ mầu của Dịch lộ ra, mọi nghĩa của đạo Dịch đều có sẵn trong đó, và ta hiểu được điều lành dữ, được mất của sự việc.

Năm cách hai quẻ gặp nhau

Mỗi cách gặp nhau mang một tâm trạng riêng, và người đoán chỉ cần nhận ra tâm trạng ấy.

Có năm kiểu quan hệ giữa thể và dụng. Dụng sinh thể nghĩa là quẻ đối ứng nuôi dưỡng quẻ chủ: sự việc có người giúp, mình thu được lợi ích, trong lòng có niềm vui. Thể khắc dụng nghĩa là mình chế ngự được phía bên kia: việc nói chung có lợi, nhưng muốn thành thường phải bỏ công sức hoặc chi phí, và mọi chuyện đi chậm hơn. Dụng khắc thể nghĩa là phía đối ứng đè lên mình, mọi việc dễ gặp hung hiểm. Thể sinh dụng nghĩa là mình phải nuôi phía bên kia, nên có nỗi lo hao tổn của cải, sức lực. Thể và dụng tỷ hòa nghĩa là hai bên cùng hành, như anh em nương tựa, trăm việc suôn sẻ.

Ở đây có một điểm khác với một số lối đoán khác. Trong những lối kia, các quẻ bát thuần hay quẻ xung thường mang nghĩa xấu vì tính xung đột. Còn trong phép đoán tượng số, thể dụng tỷ hòa biểu thị được người giúp đỡ, việc thuận lợi, có thể thu hoạch thành công. Nếu thể sinh dụng mà phá hao nhiều vẫn không thành, làm mà không có thu hoạch, thậm chí còn gặp tai nạn, thì đó là cái giá phải trả. Khi dụng sinh thể, chuyện lại nhẹ nhàng, không phải lo nghĩ nhọc nhằn mà vẫn thành, thành rất nhanh.

Đồng loại đứng sau lưng mỗi quẻ

Một quẻ không bao giờ đứng một mình, và số bạn bè của nó là một phần sức mạnh.

Quẻ thể nên được quẻ khác sinh phù, không nên bị khắc chế. Khi quẻ thể vượng thì mọi việc cát lợi, khi quẻ thể suy thì hung hiểm. Nếu trong nhóm quẻ có nhiều quẻ cùng hành với thể, thể được sự giúp đỡ của đồng loại, khí thế mạnh và vượng. Ngược lại nếu đồng loại của dụng đông đảo, dụng có thể trở nên mạnh vượng, và khí của quẻ thể sẽ tự nhiên suy yếu. Nếu thể sinh dụng thì khí của thể bị hao tổn. Còn thể và dụng tỷ hòa thì cát lợi cho cả hai.

Ở đây khí của quẻ không nên suy xét thiếu cân nhắc. Quẻ dụng sinh phù cho quẻ thể thì dụng thường thịnh vượng, quẻ dụng khắc chế quẻ thể thì dụng dễ suy nhược. Điều này nhắc ta rằng khí và hành là hai thứ đi cùng nhau, không thể xét cái này mà quên cái kia.

Quẻ hổ và quẻ biến: xem quá trình và kết quả

Câu chuyện có đầu, có giữa, có cuối, và mỗi chặng cần một cặp mắt riêng.

Quẻ hổ là cơ sở để suy đoán điều ứng nghiệm ở chặng giữa, còn quẻ biến là cơ sở để suy đoán điều ứng nghiệm ở chặng cuối. Quan hệ sinh khắc và tỷ hòa giữa chúng với quẻ thể cấu thành kết quả cuối cùng của sự việc. Khi đoán, ta có thể gọi chung các quẻ ngoài quẻ thể là quẻ dụng.

Ở bước xét quẻ hổ, phép đoán này có cách làm riêng. Nó không đem quẻ hổ so sánh trực tiếp với quẻ thể để định sinh khắc, mà xem quẻ hổ như một câu chuyện nhỏ có đủ hai nhân vật. Thể hổ đại diện cho phía thể, dụng hổ đại diện cho phía dụng, rồi xét quan hệ giữa hai bên một cách độc lập. Dụng hổ sinh thể hổ, thể hổ khắc dụng hổ, hoặc thể hổ và dụng hổ tỷ hòa thì đều cát. Thể hổ sinh dụng hổ hoặc dụng hổ khắc thể hổ thì hung.

Trong quẻ chính, quẻ thể cũng có thể trước được sinh phù rồi sau bị khắc chế. Điều ấy báo hiệu sự việc lúc đầu thuận lợi, về sau gặp cản trở, tức trước cát sau hung. Ngược lại, thể trước bị khắc chế rồi sau được sinh phù thì báo hiệu lúc đầu trắc trở, về sau mới thuận lợi, tức trước hung sau cát. Với các trường hợp phức tạp hơn, ví dụ thể vừa được sinh ở chỗ này vừa bị khắc ở chỗ kia, hoặc trong thế khắc lại có sinh, thì phải tổng hợp mọi yếu tố trong lẫn ngoài của quẻ cụ thể mới suy ra được, và như vậy tránh được cách làm máy móc.

Nguồn: Hoàng Giám, Dịch Hồn – Bát Quái Tượng Số Dự Trắc Pháp.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Mai hoa dịch số