Bài tổng quan
Nguyên thần, kỵ thần: ai đỡ lưng, ai kéo ngã dụng thần
Trong mỗi câu chuyện đều có người đứng sau đỡ lưng và kẻ chực kéo ngã. Quẻ Lục hào cũng thế, nhưng cả hai chỉ ra tay khi hội đủ vài điều kiện rất cụ thể. Điều kiện ấy là gì, và vì sao đôi khi chính người hỏi lại thành kẻ kéo ngã?
Nguyên thần: người đứng sau đỡ lưng dụng thần
Nguyên thần là hào sinh cho dụng thần theo ngũ hành. Nếu dụng thần thuộc Hỏa thì nguyên thần thuộc Mộc. Cách xác định này cố định, không đổi theo từng quẻ. Tuy vậy không phải lúc nào cũng cần xét đến nó. Nguyên thần chỉ được tính khi nó động, hoặc khi nó trì Thế, hoặc khi nó nằm ở hào biến. Ngoài ba trường hợp ấy thì không cần quan tâm.
Những điều kiện để nguyên thần dùng được
Nguyên thần không phải lúc nào cũng đủ sức, nó phải qua một chuỗi sàng lọc.
Muốn dùng nguyên thần, hào này phải thỏa nhiều điều kiện. Thứ nhất, bản thân nó phải ở trạng thái hưu, vượng hoặc quá vượng, nghĩa là không suy. Nếu nó suy thì phải được một hào động ở trạng thái hưu trở lên sinh cho. Thứ hai, nó không được hóa khắc. Thứ ba, nó không nhập mộ ở một trong ba nơi: mộ tại nhật, mộ tại hào động, mộ tại hào biến. Thứ tư, nó không bị hào động khác khắc. Thứ năm, nó không bị nhật nguyệt hợp, không bị hào biến hợp. Thứ sáu, nó không ở trạng thái hưu mà lại hóa tuyệt, và không ở trạng thái hưu mà hóa tiết khí. Cuối cùng, nó không được hợp với một hào động khác.
Có một điểm khác hẳn với kỵ thần mà người học cần ghi nhớ. Nguyên thần dù vượng mà hóa mộ, hóa hợp, hưu hóa tuyệt hay hóa khắc, thì dù dụng thần vượng đến đâu việc hỏi cũng hỏng. Chỉ trong trường hợp một sự việc chắc chắn sẽ xảy ra, thời điểm việc thành mới là lúc xung mộ, xung hợp, trường sinh cho hào hưu, hoặc xung mất hào biến đang khắc nguyên thần động.
Nguyên thần động báo hiệu điều gì
Khi nguyên thần thật sự đủ sức và động, nó báo một sự trợ giúp có hình hài cụ thể.
Khi nguyên thần động, nó thường báo hiệu những yếu tố giúp đỡ dụng thần, gồm cả sự kiện lẫn con người. Sự giúp đỡ này kéo dài được bao lâu thì phụ thuộc vào vượng suy của nguyên thần. Riêng trường hợp nguyên thần hóa tuyệt thì báo hiệu rằng yếu tố giúp đỡ sẽ kết thúc sớm, dù nó vượng đến đâu.
Trong việc hỏi về tuổi thọ, nguyên thần động cũng cần đặc biệt để ý. Dù dụng thần vượng, đến lúc nguyên thần bị xung mất cũng là lúc tuổi trời kết thúc, ứng vào năm nếu dụng thần vượng.
Cần phân biệt các tình huống nguyên thần động nhưng sinh sự không thuận:
- Nguyên thần bị hợp, hóa khắc hay nhập mộ: sự giúp đỡ bị gián đoạn, việc hỏng.
- Dụng thần suy: việc hỏi tự nó đã hỏng, không còn hy vọng.
- Kỵ thần động: có người hoặc yếu tố trực tiếp phá hoại, khiến việc hỏng.
- Kỵ thần trì Thế: chính bản thân đi sai đường. Lúc đó cần làm rõ vì sao mình sai.
Trong trường hợp cơ bản, nghĩa là không có hào động khác can thiệp, nếu dụng thần vượng thì lỗi sai nằm ở tính cách: hành Hỏa là nóng vội, Thủy là quá dễ chịu, Mộc là nói quá vấn đề, Kim là quá bảo thủ, Thổ là quá chậm chạp. Muốn sửa lỗi do chính mình gây ra như vậy, chỉ có cách đi ngược lại với điều đang mắc phải. Ví dụ Hỏa kỵ thần trì Thế thì hãy chậm lại để việc thành, và các hành khác cũng làm tương tự.
Kỵ thần: hào khắc dụng thần
Mặt đối diện của người đỡ lưng là kẻ muốn khắc, và kẻ ấy cũng bị ràng buộc bởi điều kiện.
Kỵ thần là thần khắc dụng thần. Cùng với nguyên thần, nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến dụng thần. Để khắc được dụng thần, kỵ thần cần đảm bảo hai điều kiện cơ bản: kỵ thần phải động và kỵ thần phải vượng.
Kỵ thần chỉ được tính khi hào đó động, hoặc trì Thế, hoặc là phi thần trong trường hợp cần xét dụng thần, tức hào nằm ngay trên chỗ dụng thần đang phục tàng bên dưới. Ngoài những trường hợp đó thì không cần để ý.
Kỵ thần được coi là vượng khi thuộc một trong những trường hợp sau: được nhật nguyệt sinh; hưu mà được nhật hoặc nguyệt hợp; lâm nhật nguyệt; được hào động sinh cho (hào động ấy phải từ hưu trở lên); hưu mà hóa sinh; trường sinh tại nhật hoặc tại hào biến; hóa vượng tại hào biến.
Nếu không thuộc các trường hợp trên mà kỵ thần vẫn động, thì nó chỉ báo rằng tại thời điểm ứng kỳ của kỵ thần vẫn có yếu tố bất lợi đến dụng thần, nhưng yếu tố ấy chưa đủ mạnh để làm tổn hại dụng thần.
Các trường hợp trên chưa bao gồm dụng thần hóa khắc, tức dụng thần hóa ra kỵ thần. Khi đó bất kể kỵ thần vượng hay suy, dụng thần vượng hay suy, đều dẫn đến việc hỏng. Khác biệt nằm ở thời điểm: dụng vượng mà hóa kỵ hưu hoặc suy thì khác với dụng suy mà hóa kỵ vượng. Nếu dụng vượng thì trước đó chưa xảy ra chuyện gì, việc hỏi vẫn thành cho đến điểm ứng kỳ của dụng thần, nhưng đến thời điểm ứng kỳ theo địa chi của kỵ thần thì việc hỏng. Ngược lại, kỵ thần vượng thì việc hỏng ngay lập tức. Ứng kỳ của kỵ thần được tính theo mức suy của chính nó: hưu thì tính theo tháng, vượng thì tính theo ngày giờ, suy hoặc vô căn thì tính theo năm. Với những ca ứng kỳ kỵ thần này, có thể tham khảo thêm những dạng hồi đầu khắc và hào gián.
Kỵ thần trì Thế: khi chính mình đi sai đường
Đáng lo nhất là khi kẻ muốn khắc dụng thần lại chính là bản thân người hỏi.
Trong hầu hết trường hợp, kỵ thần trì Thế đều hỏng. Thế đại diện cho bản thân, dụng thần đại diện cho việc hỏi. Mình khắc việc hỏi nghĩa là mình đi sai đường. Giữa mình và việc không nên là quan hệ đánh nhau. Tốt nhất là hòa hoãn. Trong một số trường hợp, dụng thần khắc Thế, và nếu dụng thần vượng, Thế vượng thì vẫn qua được, nhưng bản thân sẽ mệt mỏi vô cùng.
Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp kỵ thần trì Thế dùng được.
Kỵ thần trì Thế động hóa ra dụng thần
Nguyên tắc cơ bản của Dịch là hào động không tác động được đến hào biến. Từ đó sinh ra việc dụng thần ở hào biến không bị hào động khắc thương. Vì vậy hầu hết các trường hợp kỵ thần trì Thế động hóa ra dụng thần đều báo việc thành công, bất kể vượng suy của dụng thần, vì hào biến không chịu sự tác động của nhật và nguyệt, trừ vài trường hợp đặc biệt.
Ví dụ hỏi về tài, quẻ Trạch Sơn Hàm hóa Trạch Địa Tụy có Huynh đệ Thân Kim trì Thế động hóa thành Mão Mộc Thê tài. Hỏi về tài tức là có tiền, nhưng đến thời điểm ứng kỳ của Huynh đệ thì mất, không giữ được. Có hai trường hợp ngoại lệ không áp dụng được.
Trường hợp thứ nhất là Tử tôn biến thành Quan quỷ khi hỏi về công danh. Nếu Tử tôn không bị Không, Phá, Mộ thì việc hỏi sẽ thành. Nếu Tử tôn bị Không, Phá hoặc Mộ thì báo nhận được công danh nhưng không nhậm chức được vì có tai nạn xảy ra trong khoảng giữa lúc nhận quyết định và lúc nhậm chức. Vì vậy, khi gieo được quẻ này, từ lúc nhận quyết định đến lúc thực sự nhậm chức, tuyệt đối phải giữ mình, cả về thời gian lẫn không gian. Về thời gian, lúc ứng kỳ của Tử tôn là thời điểm bản thân nguy hiểm: Không thì xung thực, Mộ thì xung khai, Phá thì trực hoặc hợp. Về không gian, Tử tôn ở đâu thì biết tránh nơi đó: nếu Tử tôn ở nội quái thì tránh ra ngoài, nếu ở ngoại quái thì ở nhà, thời điểm như trên. Ví dụ quẻ Phong Sơn Tiệm xem vào ngày Canh Thìn tháng Mão: người hỏi nghe tin được nhận chức mới, nhưng đến ngày hôm sau thì xảy ra tai nạn.
Trường hợp thứ hai là Thê tài biến thành Phụ mẫu. Nếu chỉ là xin việc ở một nơi tư nhân đơn thuần, quẻ báo nhận được quyết định cho thử việc nhưng không làm chính thức. Ví dụ quẻ Thủy Phong Tỉnh có Thê tài Tuất Thổ trì Thế, động biến thành Phụ mẫu Hợi Thủy: người hỏi nhận được quyết định cho làm thử nhưng không được làm chính thức.
Dụng thần hợp Thế
Trường hợp này xem như quẻ thông thường, chỉ tính hợp mà không tính khắc. Nó báo rằng sự việc hoàn toàn tự tìm đến mình, điều kiện thuận lợi xuất hiện khi mình chưa sẵn sàng, nhưng cuối cùng mọi chuyện đều xong. Riêng quan hệ giữa người với người thì thành bằng mặt không bằng lòng, nhưng đến cuối chuyện vẫn xong. Ví dụ quẻ Sơn Trạch Tổn, lấy Tài làm dụng thần mà Tài hợp với Thế.
Dụng thần xung Thế
Trường hợp này tương tự khi kỵ thần hợp dụng thần, chỉ khác ở chỗ việc đến bất ngờ như từ trời rơi xuống. Ví dụ quẻ Hỏa Địa Tấn, lấy Tài làm dụng thần, hào Thê tài Mão Mộc xung Thế.
Dụng thần nằm ở hào biến
Điều này không chỉ riêng việc hào dụng thần nằm ở hào biến của Thế động, mà bao gồm cả những trường hợp động biến tới các hào khác. Trong tình huống này, với các vấn đề mang tính chất một sự kiện cố định xảy ra trong tương lai, kết quả được tính bất kể vượng hay suy, nhưng không dùng được cho những sự kiện kéo dài lâu.
Ví dụ quẻ Địa Sơn Khiêm hóa Địa Hỏa Minh Di, lấy Tài làm dụng thần: vào thời điểm Mão Mộc sẽ có tiền từ người có đặc điểm như hào Phụ mẫu Thìn Thổ. Ngoài ra, quan hệ giữa người với người cũng không áp dụng được, vì quẻ sẽ báo hai bên chẳng hiểu gì về nhau, trừ trường hợp kỵ thần trì Thế biến ra dụng thần; khi đó tuy không vừa ý nhưng việc vẫn thành. Nếu hỏi chuyện tình cảm vợ chồng thì tương lai không dẫn đến đâu, vì hào chính và hào biến chẳng liên quan gì tới nhau, và nguyên nhân kết thúc là vợ chồng đồng sàng dị mộng.
Thế Không hoặc Thế Mộ
Với trường hợp này, tính theo nguyên tắc vòng tròn địa chi để tìm ứng kỳ. Ứng kỳ của dụng thần và ứng kỳ của Thế, hiện cái nào trước thì lấy cái đó, với điều kiện dụng thần vượng. Nếu không thì quẻ chỉ báo được rằng bản thân đang có vấn đề mà thôi. Ví dụ quẻ Thủy Hỏa Ký Tế xem vào ngày Nhâm Dần tháng Hợi: lấy Tài làm dụng thần, Tài phục dưới Thế, Thế nên Tài hiện. Ứng kỳ của Tài tại Tỵ Ngọ, của Thế tại Tuất. Theo thứ tự địa chi, từ Dần đến Tỵ Ngọ, nên việc có tiền sẽ có vào lúc Tỵ Ngọ.
Còn lại là các trường hợp không liên quan đến bản thân như sức khỏe người thân hay công việc học tập của người thân. Khi đó chỉ cần chọn dụng thần mà xem.
Cách kiểm tra nhanh cho từng ca
Mọi thứ có thể gom thành vài câu hỏi ngắn để tự soát một quẻ.
Gặp một ca có nguyên thần hoặc kỵ thần động, nên đi theo vài câu hỏi ngắn. Dụng thần vượng hay suy? Nguyên thần có đủ các điều kiện để dùng không? Kỵ thần có động và có vượng không? Kỵ thần có trì Thế hay không, hoặc dụng thần có nằm ở hào biến hay không? Mỗi câu trả lời đưa đến một hướng kết luận riêng, và thời điểm ứng kỳ thường nằm ở chi xung hoặc chi hợp của hào đang cản đường. Cách làm này giúp tránh nhầm giữa hai hướng ngược nhau: một bên là sự giúp đỡ bền vững, một bên là sự phá hoại đến đúng hẹn.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
