Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bình Giải

Bài tổng quan

Thầy pháp, quỷ chủ và cõi âm có quan lại, sổ sinh tử

Đạo Học - Bình Giải13/10/202612 phút đọc4 lượt đọc
Thầy pháp, quỷ chủ và cõi âm có quan lại, sổ sinh tử

Thầy pháp người Thổ Gia đòi gần nửa con trâu cho một đám tang, còn thầy bói thời Thương ngồi cạnh nhà vua để quyết việc nước. Dưới âm, người ta tin cũng có quan Thái Sơn lệnh, quỷ canh cửa mộ và cuốn sổ ghi ngày chết của mọi người. Có kẻ đã chôn cả ngàn lạng vàng để nhờ xóa tên mình khỏi cuốn sổ ấy…


Thầy pháp: người đứng giữa hai thế giới

Pháp thuật của thầy pháp xuất hiện từ thời nào vẫn còn là câu hỏi mở. Tuy vậy, những hang động trên đỉnh núi dùng để táng người cho thấy từ giữa thời đá, con người đã có niềm tin hồn tồn tại, và pháp thuật nguyên thủy cũng nảy mầm từ đó. Bằng chứng về sự có mặt của thầy cúng thời công xã thị tộc nằm ở chính những khu mộ: bố cục thống nhất, hướng mộ gần giống nhau, vật tùy táng đặt theo quy luật. Những điều ấy chứng tỏ có người chuyên lo việc này.

Tư liệu dân tộc học cho thấy tộc người nào còn ở xã hội thị tộc thì đều có thầy pháp chuyên trừ tà, chúc thọ, chữa bệnh, có cả nam lẫn nữ, và nghề truyền miệng từ đời này sang đời khác. Người Lạc Ba ở Tây Tạng đến đầu thế kỷ hai mươi mốt vẫn còn ở cuối thời kỳ nguyên thủy, họ có hai thầy: một thầy cúng thần đuổi quỷ, một thầy chuyên xem bói. Các di chỉ cuối thời đá mới ở nhiều vùng Trung Quốc, dù văn hóa khác nhau nhiều, đều tìm thấy mai rùa và xương thú giống nhau, phản ánh nghề thầy pháp của các dân tộc đều có nét chung.

Thầy pháp thời nguyên thủy thường là thủ lĩnh thị tộc hoặc người tham mưu thân cận của thủ lĩnh. Thầy pháp người Ha Nê gần đến thời nay vẫn là người đứng đầu cả về tinh thần lẫn hành chính của thôn: quyết sách việc lớn, hòa giải mâu thuẫn, chủ trì tế lễ chung. Cả thôn dời đi thì thầy đi đầu. Dựng nhà cho thôn thì trước hết dựng nhà của thầy ở giữa. Ai đi săn được thú, to nhỏ đều phải biếu thầy một chân trước. Người trong thôn chết rồi chôn ở nghĩa địa chung hay ở đâu, nhập táng lúc nào, đều do thầy quyết. Người ngoài chuyển đến phải biếu thầy một bình rượu, được thầy cho phép mới được vào ở. Trong các thư tịch cổ, thủ lĩnh dân tộc ít người thường được gọi là "quỷ chủ", nghĩa là người dựa vào pháp thuật để lãnh đạo cả tộc. Người Di xưa, bộ lạc lớn có đại quỷ chủ, bộ lạc chỉ vài trăm nhà cũng có quỷ chủ. Người Mèo ở Quý Châu cũng vậy. Ngay trong giáp cốt văn triều Thương, địa vị của thầy bói rất cao, thường là người quyết những việc quan trọng trong triều.

Nghề thầy pháp đến với người ta qua sáu con đường:

  • Người nào đó gặp một hiện tượng lạ trong lần tế lễ, đi săn hay làm ăn. Ví dụ năm mưa thuận gió hòa, người ấy đứng đầu việc cày cấy nên được mùa, thế là bị cho rằng được quỷ thần giúp. Hoặc trong lễ tế bỗng ngất đi, ai cũng nghĩ hồn người ấy đã đi gặp thần. Hoặc bỗng nói, hát những lời lạ, bị coi là thần nhập. Hoặc bệnh lâu năm tự khỏi, người trong tộc mời làm thầy. Đây là loại hình cổ nhất, lưu hành ở các tộc Choang, Dao, Lạc Ba, Ngạch Luân Xuân.
  • Người già đều có thể làm thầy, như người Lật Túc ở Nộ Giang. Thường một cụ chỉ cúng được một hai loại quỷ thần. Đến thời cận đại, người Lật Túc lại có thầy chuyên nghiệp cúng được mọi loại quỷ thần, và hai kiểu thầy cùng tồn tại.
  • Học nghề thầy khác, trong một số bộ người Hán và người Mèo.
  • Thầy bói kiêm luôn việc làm thầy pháp, như người Ha Nê, lớp thầy pháp đầu tiên chỉ chọn bằng bói.
  • Cha truyền con nối, anh truyền em, chú truyền cháu, như người Độc Long, Ha Nê và một bộ phận người Mèo.
  • Từ nghiệp dư thành chuyên nghiệp: một người làm lẻ tẻ, vì may mắn ứng nghiệm được tin cậy, dần dần chuyển sang nghề chính thức. Hiện tượng này gặp ở rất nhiều dân tộc.

Thầy pháp thời đầu cũng lao động như mọi người, làm lễ cúng tế, tang lễ mà không lấy hoặc lấy rất ít tiền công. Cuối thời thị tộc thì xuất hiện thầy chuyên nghiệp, biến việc chôn cất thành chỗ kiếm sống chính. Trong xã hội gia tộc và giai cấp, nhiều thầy lấy pháp thuật làm chỗ tranh quyền đoạt lợi, bài xích nhau, khống chế dân, thậm chí lừa gạt chiếm của.

Ví dụ khá nặng nề. Thầy pháp người Thổ Gia lúc bắt đầu cúng tế đưa tang bắt nhà có tang giết một con trâu, rồi đem biếu thầy gần một nửa số thịt. Nhiều hộ nông dân vì vậy mất tài sản, mắc nợ nhiều năm. Người Choang thời gian chôn cất phải mời thầy tế thần đuổi quỷ, vật tế đủ trâu, dê, lợn, chó, gà trống, mỗi loại cả chục, có khi cả trăm con, xong lễ thì thầy mang đi hết. Thầy người Nộ, tuy chưa rời hẳn lao động, sau mỗi lần giết trâu bò cúng quỷ thần, kể cả lúc chôn người và tế tổ, đều được một đùi trâu và nửa tấm da trâu. Thầy người Cảnh Pha làm lễ tiễn hồn được nhận một cái đầu trâu. Người Cao Sơn ở Đài Loan nhất định phải mời thầy đến tẩy uế, đuổi tà, xong lễ ngoài vật tế còn phải trả công bằng lợn, gà.

Người Hán qua hàng chục triều đại, văn hóa chịu ảnh hưởng sâu của các tín ngưỡng tôn giáo, pháp thuật dân gian ít nhiều đổi về nội dung và hình thức nhưng chưa bao giờ ngừng phát triển. Chúng từng ảnh hưởng lớn tới tục tang lễ, quan niệm mai táng và quan niệm hồn. Thầy pháp người Hán cũng lấy tang lễ làm kế sinh nhai, thậm chí coi đó là cơ hội lừa tiền.

Vì sao pháp thuật sống dai như vậy? Không chỉ vì nó khớp với quan niệm hồn quen thuộc của người Hán, linh hoạt, dễ thích nghi, mà còn vì bên trong nó có chứa một số kiến thức khoa học. Sử học, lịch pháp, giáo dục, Đông y, châm cứu, khí công, thiên văn, hóa học, số học đều từng thấm vào pháp thuật. Người xưa không phân biệt rõ khoa học với tôn giáo. Nhiều bộ môn về sau thành khoa học hay thành tôn giáo, như Đạo giáo, Tử Vi, Âm dương Ngũ hành, đều khởi nguồn từ những tín ngưỡng và thuyết pháp như thế. Thầy pháp góp phần giữ đạo đức luân lý truyền thống, củng cố ý thức dân tộc, truyền kiến thức và dạy dỗ dân chúng, nhất là thanh thiếu niên. Ngược lại, pháp thuật dân gian hấp thụ cái mới từ Nho, Đạo, Phật. Nó thường bị tầng lớp thống trị dùng làm công cụ, và nhiều lần bị những kẻ nổi dậy dùng làm cách tập hợp quần chúng chống lại tầng lớp thống trị.

Dù hiện diện khắp nhân gian, thầy pháp rốt cuộc không đứng được trong hàng ngũ thượng lưu hay giới cầm quyền. Thời Tây Chu, thầy pháp mang chức Thái quẻ hay Sử quan. Thái quẻ lo việc liên quan đến mai táng và gieo quẻ. Trong đại tang, Thái quẻ và Sử quan phải làm theo phép của vua, lo hậu sự, niệm bùa chú, làm cố vấn cho các nghi lễ. Trong tiểu tang họ điều hành, vốn phát triển từ chức năng của thầy pháp. Vu thuật bản chất mang dấu ấn nguyên thủy. Xã hội khoa học hiện đại coi nó là thứ tồn đọng của văn hóa, mang tính tiêu cực, nên nó tất yếu mất dần sức sống nội tại. Ở một số vùng dân tộc thiểu số ngày nay thầy pháp vẫn còn chỗ đứng, chủ yếu vì văn hóa, giáo dục còn thiếu, tri thức khoa học chưa phổ cập.

Cõi âm là bản sao của cõi dương

Hồn được tiễn đi thì phải có chỗ để đến. Chỗ ấy được người xưa tưởng tượng giống hệt thế gian.

Trong văn hóa truyền thống, mồ mả tượng trưng cho thế giới âm gian trong tâm tưởng, là hình ảnh thu nhỏ của xã hội thực, nói đúng hơn là bản mô phỏng cõi dương. Mọi hoạt động chôn cất xoay quanh hai việc: làm sao đưa người chết nhập vào cõi âm, và làm sao để họ sống được ở đó.

Cõi âm thời cổ Trung Quốc có nhiều tên: U diêm, âm gian, diêm phủ, Thái Sơn, Cao Lý, Nam Sơn, Phong Đô. Ba tên đầu phổ biến hơn. Bốn địa danh sau lúc đầu chỉ là quan niệm của vài vùng, sau lan rộng dần. Người vùng Quan Trung, Trung Nguyên đời Tần Hán cho rằng núi Thái Sơn là địa phủ, còn người Ba Thục lại cho rằng Phong Đô mới là địa phủ. Địa phủ nào cũng có kỷ luật nghiêm: chưa đến ngày tế lễ thì ma quỷ không được hoạt động. Người Hán lấy rằm tháng Bảy làm tết Trung Nguyên, chỉ ngày đó hồn người chết mới được về nhà. Ngoài ngày ấy, họ bị nhốt ở cõi âm, không được xen vào việc người sống. Quan niệm này cũng là nguyện vọng thoát khỏi sự quấy nhiễu của người chết.

Các văn trấn mộ đời Hán thường có câu: trời xanh đất mịt mờ, người chết về âm, người sống về dương, sống chết đều có chỗ của mình. Thơ xưa cũng vẽ cõi âm rất rõ. Nguyễn Vũ đời Đông Hán viết "Âm u nơi Cửu Truyền, dằng dặc chốn Dạ Đài". Bài Tương thệ phú của Bào Chiêu đời Tống tả buổi sáng lên núi Nam Sơn, nhìn xuống Mỹ Trung A, sương đọng trên hàng râm bụt mùa thu, gió lạnh quấn trong giấc mộng, một nơi tối tăm, thê lương, tận cùng của khói sương.

Đến thời Chiến quốc, người ta nghĩ cõi âm có kinh đô gọi là "U đô", có các loại quỷ sứ gọi là Thổ bá, Địa hạ chủ, Địa hạ thừa, và có luật lệ gọi là Cửu ước. Bài Chiêu hồn của Tống Ngọc kêu hồn quay lại, đừng xuống U Đô đầy quỷ sứ và hình phạt. Trên thẻ trúc tìm thấy trong mộ Hán ở núi Phượng Hoàng, Giang Lăng, Hồ Bắc, có dòng chữ năm đại phu ở Bình Lý "dừng lại báo cáo với chủ dưới âm ty". Văn trấn mộ đời Hán có vô số tên quan lại cõi âm, chức danh y như quan dương gian: Mộ hoàng mộ chủ (như vua trên trần), Cao Lý quân (trưởng quan ở Cao Lý), Địa hạ nhị thiên thạch (quan nhất phẩm coi các huyện), Thái Sơn lệnh (như huyện lệnh), Mộ môn đình trưởng, Quỷ môn đình trưởng (canh cửa mộ và cửa hồn), Mạch thượng du chước (bắt các hồn hoang, ác quỷ), Chủ nộ ngục sứ (thư ký ghi chép), Mạch môn túy sử (quan giám sát), Thái Sơn ngũ bác (trưởng đội quỷ sứ)... Có tên còn nhiều hơn thế, nhưng riêng chừng ấy đã đủ thấy cõi âm được tổ chức như một bộ máy chính quyền.

Người xưa nghĩ cõi âm cũng có pháp luật, có địa ngục, thậm chí mười tám tầng địa ngục. Hồn cũng phải phục dịch, nộp thuế, sản xuất, sinh hoạt. Ai phạm tội ở nhân gian, dù không ai biết, xuống âm vẫn bị phạt. Vì thế nghi thức tang lễ xoay quanh việc làm sao cho người chết khỏi bị phạt. Văn trấn mộ đời Đông Hán thường có những câu xin giảm tội cho người chết, kiểu "xin dâng vàng ngọc giải tội cho người chết, người sống tha thứ". Của cải chôn theo là để thế cho việc phục dịch và bị trừng phạt. Từ thời Tiên Tần, vùng Tam Tấn ở Trung Nguyên đã có lễ nhảy múa trừ ôn dịch, và từ đó thêm quan niệm trấn mộ trừ tà.

Âm phủ khiến người ta sợ còn vì nó quản tuổi thọ và phúc lộc người sống. Cũng như dương gian có sổ hộ khẩu, người xưa cho rằng âm quỷ giữ hai bộ sổ: một sổ ghi tên những người đã chết đang sống nơi cõi âm, một sổ gọi là Tử nhân lục, Tử nhân tịch, Thái Sơn lục hay Quỷ tịch. Người Việt ta gọi là sổ Nam Tào. Bác vật chí chép rằng Thái Sơn lục chuyên quản việc gọi hồn người, ngay cả thiên đế, thiên tôn cũng không ngoại lệ. Có người muốn sống lâu nên tìm cách sửa sổ này. Có người không quản khó nhọc lên tận núi Thái Sơn tìm quyển sổ. Có người mang lễ vật hậu hĩnh lên Cao Lý, Phong Đô, Nam Sơn để "hối lộ" hồn quỷ xin thêm tuổi thọ. Có người bỏ cả ngàn lạng vàng vào mộ, cầu Diêm vương xóa tên khỏi danh sách phải chết. Có người chôn thuốc phục trừ cùng cha mẹ để mong con cháu sau này bất tử.

Văn hóa mỗi tộc khác nhau nên hình ảnh cõi âm cũng khác. Người Đồng thường chôn người xuống đất, tin rằng hồn nhập vào chim nhạn, thiên nga bay về cùng tổ tiên và sống ở Long cung. Người Điền Tây gốc ở vùng núi cao tây bắc Tứ Xuyên. Cõi âm của dân du mục Nội Mông, Mông Cổ, tây bắc Trung Quốc gắn với thảo nguyên, còn cõi âm của dân săn bắt hái lượm vùng Đông Bắc thì không thể không liên quan đến núi rừng.

Việc cụ thể hóa, hình tượng hóa cõi âm là kết quả của niềm tin hồn bất diệt. Đến lượt mình, nó đẩy niềm tin ấy đi thêm một bậc, khiến việc mai táng thành một công việc chuyên nghiệp và làm pháp thuật phong phú theo.

Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bình Giải