Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Hồ gương phụ táng đỗ đạt, người chết đói và họa diệt tộc

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202614 phút đọc1 lượt đọc
Hồ gương phụ táng đỗ đạt, người chết đói và họa diệt tộc

Cuộc đất có bốn dòng nước bao quanh lại là nơi một người đói hơn mười ngày rồi chết. Một dòng họ phát liên tục từ đời Minh nhưng đời nào cũng có người đi cà khiêu, còn một cuộc đất khác bị phán thẳng là nơi diệt tộc. Tất cả đều bắt đầu từ một ngôi sao nằm ở…


Táng vận 4 thì bại, phụ táng vận 6 thì đỗ đạt

Ngôi mộ tổ họ Từ lập sơn Quý hướng Đinh, được phụ táng vào vận 6. Long Khảm lạc mạch ở tam đài, tức ba ngọn núi; phương Mùi Khôn có nước chảy vào phương Ly; phương Ly có hồ. Trước huyệt không thấy cả mặt hồ lớn mà chỉ thấy một phần thu nhỏ lại, sáng như gương.

Chương Trọng Sơn viết: mộ này táng ở vận 4 thì nguồn tài đại bại; đến vận 6 vẫn dùng hướng cũ phụ táng thì phát khoa bảng đỗ đạt. Lần táng ở vận 4 suy bại vì thoái thần cai quản hướng, không đắc thời nên dù là đất cát cũng ứng hung. Lần táng ở vận 6 phát vì tiến thần cai quản hướng; vận 6 có vận tinh Nhất tới hướng, Lục kim sinh Nhất thủy, nên Nhất là tiến thần.

Thẩm Trúc Nhưng chú: lập hướng này ở vận 4, tuy hình thế Loan Đầu rất đẹp nhưng long thần thủy bao bọc thượng sơn, nên nguồn tài đại bại. Vận 6 phụ táng, vượng tinh đáo hướng, hồ nước ở phương hướng lại được Nhất Lục đồng cung. Thiên Ngọc Kinh viết Tứ Vĩ ở chung Bát Vũ; Huyền Không Bí Chỉ viết:

Xua ngựa về chầu bắc khuyết thì nghe chiếu son tới liên tiếp.

Vì thế mới phát đỗ đạt khoa bảng. Tứ Vĩ là Hợi Lục, Bát Vũ là Nhâm Nhất, tức Nhất Lục đồng cung. Phi tinh Lục ở sơn đáo hướng là hạ thủy, nhưng có tượng Nhất Lục cát nên dù hung cũng không ứng. Kiền Lục là xe ngựa, Nhâm Nhất là bắc khuyết, tức cung điện của vua; chiếu son tới nhiều lần cũng ứng vào Nhất Lục.

Tắc Tiên nói thường thấy cuộc lập hướng này mà phía sau tọa có núi non thì nhân đinh ngày một thịnh nhưng tiền tài thì suy lâu dài. Song tinh hội tụ ở tọa sơn dẫn tới phạm cuộc long thần thủy bao bọc thượng sơn. Nói thoái thần cai quản hướng chỉ là nói sao ở đầu hướng thất lệnh, chứ không phải nguyên nhân chính khiến tiền tài suy bại. Ngôi mộ phụ táng ở vận 6 có hồ nước ở phương Ly, phối với song tinh hội tụ ở đầu hướng, cộng thêm tượng Nhất Lục cát, nên phát đỗ đạt khoa bảng. Từ đây có thể hiểu lẽ thà phạm hạ thủy, chớ đừng phạm thượng sơn. Nếu vượng thần cai quản hướng, tức nhất quý đương quyền, là sao đắc lệnh, thì sức của nó đủ tiêu trừ tai họa để dẫn tới điều phúc.

Bạch Hạc Minh nói ngôi mộ này vận 6 đại lợi, ngoài nguyên nhân song tinh tới hướng gặp hồ nước, còn vì long thần thủy bao bọc ở phương Ngũ Hoàng (Khảm) thấy núi: hướng tinh suy tử được phóng ra nơi núi cao, đúng là diệu dụng của thu sơn xuất sát. Còn tinh bàn của ngôi mộ ở vận 4 thì song tinh đáo tọa, phía sau tọa có núi, chủ đại lợi nhân đinh vì long thần ở sơn trở về sơn, nhưng chủ đại phá tài bạch vì long thần thủy bao bọc thượng sơn.

Bốn góc đều có nước mà người chết đói

Cuộc đất bốn phía nước bao quanh nghe như đại cát, nhưng cát hay hung lại nằm ở một ngôi sao đầu hướng.

Ngôi mộ họ Du ở Từ Khê lập sơn Tý hướng Ngọ, vận 7. Cuộc đất là ruộng bằng; long theo Tý Quý tới; bốn góc Kiền Khôn Cấn Tốn đều có nước.

Chương Trọng Sơn dẫn lời Tiền Uẩn Nham: cuộc đất này chủ về chết đói. Về sau quả có người vì trúng phong không ăn được, đói hơn mười ngày rồi chết; gia nghiệp cũng tiêu điều.

Thẩm Trúc Nhưng chú: ngôi mộ họ Lục táng ở vận 2 cũng bốn góc có nước, tuy ngoài nước có núi nhưng tọa triều giống hệt cuộc này; sau khi táng xuất hiện danh nho và nhà cự phú. Cuộc đất này bốn góc có nước, nhưng riêng ngoài nước không có núi, nên dẫn tới chết đói. Cuộc trước là vượng long vượng hướng, bốn phương phối hợp hữu tình; cuộc này là suy hướng, hoàn toàn không có sinh khí vào huyệt. Vả lại vận tinh là Nhị, Nhị là Khôn, là bụng; hướng tinh là Lục, Lục là Kiền, là đầu. Đầu và bụng đều không có sinh khí, cho nên chết đói. Vì thế so với cuộc họ Lục, cát hung phải đoán khác nhau.

Tắc Tiên nhận xét đây là cuộc tứ thủy khai dương, toàn bàn hợp thập, phương Khôn thổ kim tương sinh, phương Tốn Nhất Tứ đồng cung; nhìn hình và khí thì dường như không thể đoán như thế. Nhưng phải biết cái then chốt của họa phúc nằm ở sao đầu hướng, ứng nghiệm nhanh như thần. Cuộc này lấy thoái thần cai quản hướng, nên không phối hợp được với tính chất của tứ khố, tức bốn dòng nước ở bốn góc ngoài huyệt; hai bên không tương thông, vì thế ứng chuyện chết đói. Thật oan uổng thay.

Bạch Hạc Minh giải thích: trạch này hướng tinh ở đầu hướng là thoái khí, còn hướng tinh đương vượng thì lại bay tới phương tọa, thành cách tài tinh thượng sơn, tài vận cực kém. Tài tinh thượng sơn ở đây là Thất Xích ở quẻ Đoài, Đoài chủ phần miệng; vì nó thượng sơn nên bất lợi cho miệng, chủ nhân bị trúng phong mà không ăn được. Kinh viết cái then chốt của họa phúc nằm ở sao đầu hướng, ứng nghiệm tức tốc như thần. Trạch này long thần thủy bao bọc của phương hướng là Lục Bạch, thuộc thoái khí; long thần ở sơn là Bát Bạch bị tiết khí, nên nhân đinh cũng không vượng. Phương Khôn thấy nước sinh khí, đáng tiếc không hợp bí quyết thành môn; lại thêm hai phương Kiền, Cấn có nước suy tử đang đắc lực, nên phải luận hung.

Nước đi như chân cà khiêu và dòng họ có người khập khiễng

Hình dòng nước chảy ra khỏi cuộc đất lại in lên cơ thể con cháu.

Ngôi mộ họ Trịnh lập sơn Tuất hướng Thìn, vận 7. Long uốn khúc từ phương Ly tới, đến Kiền thì nhập thủ; nước nội đường theo hai phương Quý Sửu mà đến. Các phương Thìn Tốn Tỵ, Giáp Mão Ất có nước rất lớn, từ Cấn tới Khảm rồi đi mất.

Chương Trọng Sơn viết: đây là cuộc đất tài đinh phát nhỏ nhưng lâu dài không bại, chỉ có điều người con cháu phát mạnh nhất lại bị gãy chân. Chủ nhân đáp: đúng! Từ đời Minh cho tới nay phát liên tục, nhưng từ đầu đời Thanh đến giờ, đời nào con cháu cũng có người đi cà khiêu, nên dân gian gọi đây là mộ có con cháu cà khiêu.

Thẩm Trúc Nhưng chú: cuộc này vượng tinh đáo sơn đáo hướng, nên tài đinh miên viễn bất bại. Vượng tinh ở hướng là Lục; nếu tới vận nhập tù thì được một trăm sáu mươi năm, nên nói là miên viễn. Tài đinh phát nhỏ vì hình cuộc Loan Đầu không lớn. Con cháu có người phát mạnh nhất mà bị cà khiêu là do phương Cấn là nơi nước đi, mà dòng nước đi có hình giống chân cà khiêu. Người phát mạnh nhất nhờ phương vị nước lớn. Lại phi tinh tới Cấn là Tam, Tam tức Chấn, Chấn là chân; thêm hình thế Loan Đầu giống chân cà khiêu, nên chủ về chân bị tật.

Bạch Hạc Minh nói ngôi mộ này có người gãy chân là do vấn đề hình thế Loan Đầu. Người học phong thủy Huyền Không khi nghiên cứu âm trạch cần đặc biệt lưu ý hoàn cảnh thay đổi chung quanh.

Giàu mà không quý, và chuyện hợp thập hóa hung thành cát

Có tài mà không có chức tước, bởi sau lưng huyệt không có một ngọn núi đẹp.

Ngôi mộ tổ của một vị Vương ngự sử lập sơn Đinh hướng Quý, vận 7. Phương Ly có núi cao kề bên, xuất mạch nổi lên thành gò; phương Khôn là vùng đất thấp; hai phương Tốn Chấn có suối chảy tới Khảm rồi quay lại tụ ở Cấn rồi đi mất, không có triều án.

Chương Trọng Sơn viết: cuộc đất này sau khi táng có tài mà không quý, địa vận được sáu mươi năm vượng khí; còn việc xuất hiện ngự sử thì chẳng phải do cuộc đất này.

Thẩm Trúc Nhưng chú: cả hai bàn đều có Thất tới hướng, tài bạch đương nhiên vượng. Vận 8 vốn không thuộc cuộc thông khí, nhưng nhờ long thần ở sơn đã hạ thủy, nên không chủ hung mà còn cát. Vận 9 phương Cấn có nước, vì vậy Trọng Sơn nói có sáu mươi năm vượng khí. Không phát ngự sử vì phía sau tọa không có núi đẹp, không có triều sơn, tám phương cũng không có núi đẹp kéo dài, nên chủ giàu có mà không quý hiển. Việc ra ngự sử là do ảnh hưởng của một ngôi mộ khác.

Tắc Tiên nói: vận 7 dùng Tam nhập trung cung, vận và hướng hợp thập là cực tốt; toàn bàn hợp thập cũng cát. Phàm hợp thập thì làm cho khí thông, vì vậy vận 8 hóa hung thành cát; long thần ở sơn hạ thủy mà không chủ hung, ngược lại còn cát. Điều huyền diệu này càng thêm huyền diệu, chỉ có thể lấy ý mà hiểu chứ không thể dùng lời mà truyền.

Bạch Hạc Minh bàn thêm: long thần ở sơn của vận 8 nằm ở phương Khôn, phương này là đất thấp. Phong thủy có một nguyên lý: cao một thốn là sơn, thấp một thốn là thủy; phương này đất thấp, thuộc hư thủy, nên thông khí. Theo ý ông, phương Khôn không thấy nước thì vận 8 không dẫn tới hao tổn nhân đinh; trong khi cuộc hợp thập còn làm cho đinh khí thêm mạnh, nên phải luận là cát.

Núi đá lởm chởm, án như chuột bay và tụng kiện đến cửa quan

Vượng sơn vượng hướng đủ cả, nhưng một ngọn núi hiểm và một dãy án chao đảo đủ làm cát khí gãy ngang.

Ngôi mộ họ Mã lập sơn Thìn hướng Tuất, vận 7. Long theo hai phương Mão Ất vòng qua Tốn rồi nhập thủ. Núi ở phương Ly thế đá hiểm trở, đến hai phương Khôn Đoài rồi vòng qua phương Kiền thì chuyển thành triều án; cái án mé ngoài như con chuột bay, không yên. Trước huyệt có nước.

Chương Trọng Sơn viết: sau khi táng, điều cát không chống nổi điều hung. Đầu vận tài khí thuận lợi; đến năm Nhâm Thân khó tránh hao tổn nhân đinh. Hiện đang ở vận Cấn, tức vận Bát Bạch, tài đinh đều suy; năm Ất Mùi chủ có kiện tụng tới cửa quan, năm Đinh Dậu cũng vậy. Chủ nhân đáp: đúng.

Thẩm Trúc Nhưng chú: đầu vận thuận lợi vì vượng tinh đáo hướng, ở hướng lại có nước. Nhưng hình thế Loan Đầu là núi đá hiểm trở nên điều cát không chống nổi điều hung, vả lại vận khí rất ngắn. Năm Nhâm Thân, Thái Tuế Bát Bạch nhập trung cung, Cửu tới hướng; Cửu ở sơn dời qua ở hướng nên hao tổn nhân đinh, huống hồ triều sơn án ngoài bay xéo không yên. Một khi qua vận 8, hướng tinh nhập trung cung; năm Ất Mùi phải gặp chuyện kiện thưa tới cửa quan, vì Thái Tuế Tam Bích nhập trung cung, Thất tới Ly, phương Ly núi đá lởm chởm nên chủ kiện tụng tới cửa quan. Năm Đinh Dậu, Thái Tuế Nhất Bạch nhập trung cung, Thất tới Khôn, Khôn cũng là núi đá lởm chởm, nên lại có kiện tụng.

Tắc Tiên nói: phương Ly có núi đá lởm chởm, án bên ngoài như chuột bay xéo không yên, nên tuy vượng sơn vượng hướng mà cát vẫn không chống nổi hung. Sự ứng nghiệm cát hung những năm đầu thiên nặng về Loan Đầu, một khi gặp lưu niên hung tinh gia lâm thì mới có ảnh hưởng như vừa kể. Năm Nhâm Thân, Cửu ở sơn dời qua ở hướng là tượng hao tổn nhân đinh; phải đúng năm Thái Tuế Bát Bạch nhập trung cung, Nhị Hắc bay tới Cấn đè lên phi tinh Ngũ của phương Cấn. Tử Bạch phú viết rằng Ngũ Hoàng gặp Nhị Hắc thì xuất hiện quả phụ, đó cũng là một minh chứng cho việc hao tổn nhân đinh. Năm Đinh Dậu, Nhất nhập trung cung, Nhị tới Kiền, lại phạm Nhị Ngũ giao nhau, e rằng nhân khẩu cũng bất lợi.

Bạch Hạc Minh nói: cuộc đất này hình thế Loan Đầu rất hung, phương Ly là núi đá lởm chởm, phương Kiền thì án bên ngoài như con chuột bay. Về Lý Khí tuy được vượng sơn vượng hướng, nhưng cũng không nên an táng ở huyệt này. Sơn tinh phạm phản ngâm phục ngâm nên hao tổn nhân đinh; phương Cấn là Nhị Ngũ giao nhau; Cửu của hướng Tuất là phương tọa của hướng tinh, nay dời qua ở hướng cũng chủ hung.

Thìn Tuất giao chiến, tử long và họa diệt tộc

Núi cao, nước lớn và một vận đã chết gặp nhau ở cùng một chỗ, và lời phán nặng nhất vang lên.

Ngôi mộ tổ của một dòng họ lập sơn Thìn hướng Tuất kiêm Tốn Kiền, vận 8. Long theo hai phương Thìn Tốn tới; phương Thìn Tỵ có núi cao, phương Tuất Kiền có đại thủy phóng quang.

Chương Trọng Sơn viết: cuộc đất này phạm thượng sơn hạ thủy, chủ về hung. Vả lại long vận đã tử, lập hướng Tuất là long thần giao chiến, nên chủ xuất hiện đại tặc diệt tộc.

Thẩm Trúc Nhưng chú: long ở ba phương Thìn Tốn Tỵ trong vận 8 đã tử; phương Tốn là mộc, vận 8 sao Thất tới Tốn, kim khắc mộc, nên gọi là tử long, rồng chết. Vận 8 lập hướng Tuất, hướng tinh tới Thìn là Bát, Tốn mộc lại tới khắc thổ, long thần giao chiến khốc liệt; vì vậy cuộc đất này ắt xuất người làm giặc khiến gia tộc diệt vong. Thìn là sao Thiên Cương, Tuất là sao Địa Sát; qua vận 1 ắt xuất hiện thứ người hung ác, do Nhất tới hướng có đại thủy; còn vận 2, vận 3 thì phạm họa diệt tộc. Nếu tọa không có núi, hướng không có đại thủy thì chỉ bị xử trảm hay lưu đày, chứ không đến nỗi diệt tộc.

Tắc Tiên giải thích: Thiên Cương Địa Sát gặp chỗ có núi cao sông lớn, long vận đã chết, long thần giao chiến, Loan Đầu và Lý Khí đều ngang ngạnh, nên phải sinh ra giặc lớn. Cộng thêm sơn thủy đảo điên, vận ngắn nên nhập tù rất nhanh. Qua vận 1, lệnh tinh ở hướng lại treo nhập trung cung, nên họa càng lúc càng mãnh liệt, toàn là tượng diệt tộc. Trong năm mươi điều của Âm Trạch Bí Đoán, đây là cuộc tối hung; người học gặp trường hợp này phải biết sợ mà thận trọng khi xem sự phối hợp giữa hình và khí.

Bạch Hạc Minh nhận xét: Thẩm tiên sinh nói qua vận 1 xuất hiện người hung ác, thiết tưởng là do hình thế nước quá hung ác; nếu không, vận 1 long thần thủy bao bọc thấy nước thì đúng ra phải luận cát. Lại thêm sao Nhất Bạch chủ thủy tặc, nên hậu nhân làm giặc ắt là thủy tặc. Phương tọa còn có Lục hội với Thất thành cuộc giao kiếm sát; Lục Bạch Thất Xích thuộc kim trong Ngũ Hành Huyền Không, khắc địa bàn Tốn mộc; Tốn mộc lại khắc Bát Bạch thổ, nên long thần giao chiến đúng là tượng trùng trùng khắc nhập, lập tức thấy tiêu vong.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia