Bài tổng quan
Khí trong người, trong nhà và trong lòng đất theo phong thủy
Người sống là nhờ khí tụ, chết là khí tan; ngôi nhà cũng cần thở, cần đón sinh khí và tránh tử khí. Có chỗ cổ nhân nói đúng với hơi thở, từ trường và bụi bặm ngoài đường; có chỗ lời gán ghép khiến phong thủy xa dần khoa học. Phải tách hai thứ ấy ra thế nào...
Mục lục · 6 phần
- 01Khí là gốc của muôn vật: lời của Vương Sung, Trương Tải, Bào Vân Long
- 02Sáu loại khí: từ mưa gió ban ngày đến sáu quẻ trong y học
- 03Sinh khí, tử khí và mười hai tháng trong năm
- 04Khí trong cơ thể người: sống là khí tụ, chết là khí tan
- 05Nạp khí cho ngôi nhà: địa khí, môn khí và đường chạy thẳng vào cửa
- 06Khí trong lòng đất và nơi khí dừng lại
Khí là gốc của muôn vật: lời của Vương Sung, Trương Tải, Bào Vân Long
Khí, nói chung, chỉ một loại vật chất vô cùng nhỏ bé, là nguồn cấu thành mọi vật trên đời. Triết học cổ Trung Hoa coi nó là một khái niệm gốc, và phong thủy mượn lấy "khí" làm yếu tố cơ bản cho toàn bộ lý luận cũng như nguyên tắc hành động của mình.
Theo các nhà tư tưởng duy vật thời xưa, trong khoảng không vũ trụ thì có khí trước, rồi mới có muôn vật. Vương Sung đời Đông Hán, trong thiên Tự Nhiên của Luận Hành, viết:
Trời đất hợp khí, vạn vật tự sinh.
Trong một thiên khác ông nói thêm: muôn vật sinh ra đều cùng từ một thể khí. Đời Bắc Tống, Trương Tải trong thiên Thái Hòa của Chính Mông cũng viết rằng Thái Hư không thể không có khí, khí không thể không tụ lại mà thành muôn vật. Đời Tống, Bào Vân Long trong Thiên Nguyên Phát Vi nói cụ thể hơn: khí của vật có đạo, có lý; vật là vật chất có mệnh, có tính, có tâm; thành nơi khí, đông lại thành hình, tạo nên chất, có sắc, có số, có tiếng, có mùi, có vị, có ngắn dài, to nhỏ, nặng nhẹ, nhiều ít, tất cả đều hiện ra ở vật.
Khí chia thành âm dương, có âm khí và dương khí. Bàn về chuyện khí âm dương hòa hợp trong lý luận phong thủy, một cuốn kinh điển của phong thủy viết rằng khí âm dương cao lên là gió, hạ xuống là mây, vận hành thành mưa. Hai khí âm dương hòa nhau sinh ra năm khí Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, gọi là khí ngũ hành. Táng Thư vận dụng điều đó vào lý luận âm trạch: ngũ khí chạy trong đất, phát sinh ra muôn vật.
Sáu loại khí: từ mưa gió ban ngày đến sáu quẻ trong y học
Ngoài ra còn luận điểm cho rằng khí có sáu loại, chỉ những biến hóa của tự nhiên, và các điển tịch xưa nói mỗi nơi một cách. Tả Truyện, năm đầu Chiêu Công, nói lục khí là âm, dương, gió, mưa, tối, sáng. Trang Tử gọi lục khí là triều hà, chính dương, phi tuyền, hàng tiết, thiên huyền, địa hoàng. Thiên Tiêu Dao Du viết đại ý rằng nếu biết lợi dụng cái chính của trời đất thì có thể chế ngự được sự khác biệt của lục khí. Lộc Đức Minh dẫn lời Lý Hi giải thích: rạng sáng là triều hà, giữa trưa là chính dương, xế chiều là phi tuyền, nửa đêm là hàng tiết, cùng với thiên huyền, địa hoàng, hợp thành lục khí.
Trong Tố Vấn, lục khí có hai cách nói. Một là chỉ hanh, nắng, gió, ẩm, lạnh, lửa; thiên Ngũ Vận Hành Đại Luận viết: hanh thì khô, nắng thì bốc hơi, gió thì động, ẩm thì mềm, lạnh thì kiên cố, lửa thì ấm. Đây cũng chính là lục khí mà y học Trung Quốc hay nói; nếu sáu khí biến hóa hỗn loạn thì dẫn đến bệnh. Hai là gọi theo tên quyết âm, thiếu âm, thái âm, thiếu dương, dương minh, thái dương; Lục Nguyên Chính Kỷ Đại Luận viết rằng lục khí có biến, có hóa, có thắng, có phục, có tác dụng, có bệnh; quyết âm là hòa bình, thiếu âm là náo động, thái âm là ẩm ướt, thiếu dương là nắng nóng, dương minh là yên tĩnh, thái dương là gió sương.
Sinh khí, tử khí và mười hai tháng trong năm
Từ khí trong trời đất, phong thủy tách ra một cặp đối nghịch: thứ khí nên đón vào và thứ khí nên tránh xa.
Triết học cổ chia khí thành sinh khí và tử khí. Sinh khí còn gọi là hỉ khí, dương khí: những khúc nhạc làm lòng người vui, không khí trong lành, khí hậu làm cây cỏ xanh tốt đều được coi là sinh khí. Tử khí còn gọi là âm khí, ác khí: những tạp âm, mùi hôi khiến con người khó chịu, nơi tối tăm, ẩm thấp, bụi bặm đều là tử khí. Con người khi bắt đầu sống và làm việc phải đón sinh khí, tránh tử khí.
Phong thủy đẩy khái niệm này đi thêm một bước, gắn nó với mười hai tháng của năm: mỗi tháng đều có vị trí riêng của sinh khí và tử khí. Theo Trạch Kinh, tháng giêng sinh khí vào Tý Quý, tử khí vào Ngọ Đinh; tháng hai sinh khí vào Cấn Sửu, tử khí vào Khôn Mùi; tháng ba sinh khí vào Giáp Dần, tử khí vào Canh Thân; cứ thế đến tháng sáu. Thực ra chỉ có sáu đôi vị trí: sinh khí và tử khí của các tháng bảy đến mười hai ngược lại với các tháng giêng đến sáu. Tháng giêng sinh khí ở Quý Tý, tử khí ở Đinh Ngọ thì tháng bảy sinh khí ở Đinh Ngọ, tử khí ở Quý Tý.
Theo cách nói của phong thủy, việc sửa nhà ở, kể cả âm trạch, đều phải làm vào vị trí sinh khí của tháng; sửa vào vị trí tử khí thì dẫn đến tai họa. Trạch Kinh nói:
Mỗi năm có mười hai tháng, mỗi tháng có vị trí sinh khí và tử khí; người sửa nhà vào vị trí sinh khí thì phúc sẽ đến tụ lại.
Sinh khí của tháng cùng với thiên đạo, nguyệt đức hợp thành con đường may mắn; phạm vào vị trí tử khí thì gặp việc hung. Câu "người chôn cất nương theo sinh khí" trong Táng Thư cũng hàm ý này. Nhưng gắn sinh khí, tử khí với cát hung của việc xây nhà rõ ràng là gán ghép, không có căn cứ khoa học.
Khí trong cơ thể người: sống là khí tụ, chết là khí tan
Triết học cổ cho rằng thân người cũng như vũ trụ; trong cơ thể có một thứ khí gọi là nguyên khí. Khí trong người có nghĩa khá rộng: vật nhỏ vận hành biến hóa trong cơ thể, hay công năng hoạt động của tạng phủ, gọi chung là khí, như khí gan, khí thủy cốc, khí thở, khí phủ tạng, khí kinh mạch.
Khí là sinh mệnh của con người: có khí thì sống, không có khí thì chết. Trang Tử, thiên Tri Bắc Du, viết:
Người sống là do khí tụ; khí tụ thì sống, khí tán thì chết.
Trình Di Thư cũng có lời tương tự: hỏi người thượng cổ thọ bao nhiêu, vì sao người đời sau không thọ bằng, có phải do khí không, thì đáp rằng khí chính là sinh mệnh. Theo cách giải ấy, khí cũng có thể gọi là khí số: người ngừng thở thì chết, nói được là khí hết thì số tận. Vương Sung thì nói đến cả khi giận cũng phải dùng khí, cơn giận dồn lên mặt.
Sức khỏe thể hiện ở mạnh yếu của khí trong người; câu thường nói thanh niên khí thịnh, trẻ con khí vượng, người già khí suy chính là chỉ trạng thái sức khỏe khác nhau. Vương Sung viết: người nói được là nhờ có khí lực, khí lực thịnh là nhờ ăn uống; ăn uống giảm thì khí lực suy, khí lực suy thì tiếng khan, mệt không muốn ăn, miệng không phát ra lời.
Người xưa cho rằng trong cơ thể có đường khí, và chính người ta cảm nhận được nó. Khi đường khí thông suốt, lồng ngực thấy nở, tinh thần thoải mái; khi bị tắc thì thường thấy đau tim, ấy là khí ở ngực bị bế. Cách điều chỉnh lúc đó là hít thở thật sâu cho khí lưu thông, tinh thần sẽ trở lại bình tĩnh. Khí công làm khỏe cơ thể cũng là nhờ thúc đẩy một cách khoa học sự lưu thông ấy.
Khi dùng lý luận về khí, phong thủy thêm vào rất nhiều lời nói về cát hung. Vì thế khi nghiên cứu phong thủy phải bỏ đi phần gán ghép này, thì mới thấy được việc chọn môi trường sống, cải tạo kết cấu nhà ở, tận dụng điều kiện tự nhiên một cách hiệu quả để làm sức sống của khí trong người mạnh hơn, có lợi cho sức khỏe.
Nạp khí cho ngôi nhà: địa khí, môn khí và đường chạy thẳng vào cửa
Từ hơi thở của một con người, câu chuyện chuyển sang hơi thở của một ngôi nhà.
Dùng lý luận về khí để phân tích và sắp xếp dương trạch là một hướng phát triển của phong thủy. Phong thủy cho rằng nhà cũng như người cần giữ khí, cũng có sinh khí và tử khí; khi dùng nhà phải tránh tử khí, đón sinh khí. Việc đón sinh khí được gọi là "nạp khí".
Vậy khí nằm ở đâu? Thầy phong thủy lấy một chiếc la bàn, vẽ trên mặt đất, công trình, bố cục phòng ở một hình lưới ô vuông, rồi tìm vị trí chín cung khí để biết chỗ của khí. Họ cho rằng một số khí vị cứ hai mươi năm lại đổi chỗ một lần, như các kỳ 1984–2003, 2004–2023, 2024–2043, sáu mươi năm làm thành một vòng. Cũng có những khu khí sáu mươi năm vẫn đứng nguyên chỗ cũ, gọi là địa khí. Chủ nhà còn phải đối chiếu với bảng khí vị lập theo năm sinh để chọn một hình chín cung gần với mình nhất, rồi mới bố trí nhà. Khu vực khí chính thường để đặt phòng ngủ, phòng làm việc, bàn ăn, phòng khách và những đồ dùng cần thiết, hoặc nơi diễn ra các việc quan trọng.
Khi luận cát hung của dương trạch, phong thủy cho điều quan trọng nhất là nạp khí, và không chỉ nạp địa khí mà phải nạp cả môn khí; môn khí và địa khí cùng vượng thì người trong nhà được phúc. Môn khí là khí từ bên ngoài đến qua cửa. Phong thủy chia hướng cửa thành khắc phương và sinh phương: khí đến từ khắc phương thì nhà gặp hung, người trong nhà cũng bị xung khắc; khí đến từ sinh phương thì nhà gặp sinh khí, người trong nhà gặp may mắn, được phúc. Cho nên phong thủy dương trạch còn xem đất bên ngoài cửa, chú ý con đường ngoài cửa, tránh đường chạy thẳng vào cửa nhà. Phép nạp khí này vô cùng phức tạp, còn phải dựa vào cửu cung, bát quái và tương sinh tương khắc của ngũ hành để luận đoán.
Có hai điểm trong thuyết nạp khí này mang ý nghĩa khoa học. Thứ nhất, cái gọi là địa khí của nhà có thể là sức địa từ bên trong trái đất; dùng la bàn để xác định độ lớn nhỏ của lực địa từ, rồi nhờ chỗ lực từ lớn mà định khu khí. Không bàn đến việc cách vẽ chín cung khí vị có hợp khoa học hay không, nhưng có thể công nhận từ trường trái đất tác động lên con người cũng như mọi loài động thực vật sống trên mặt đất; phong thủy dùng hình thức ấy để điều chỉnh mối quan hệ giữa từ trường và con người đến mức tốt nhất, thu được nhiều cái gọi là sinh khí. Thứ hai, ở môn khí, việc nhấn mạnh phải xem quan hệ giữa nhà và đường xá ngoài cửa, tránh đường chạy thẳng vào cửa nhà, là chú ý đến tác động của kiến trúc bên ngoài và tạp âm đối với con người. Con đường chạy thẳng đến cửa mang bụi bặm, xe cộ trực tiếp đi lại, tạo thế xung đối với nhà, tiếng ồn trên đường bay thẳng vào nhà, làm người ở phiền não, bất an.
Những nhân tố hợp lý của thuyết nạp khí dương trạch chỉ là vậy. Còn việc lấy ngày giờ năm sinh của người để định khí vị, thuyết cát hung của nhà, thuyết sinh phương và khắc phương, cùng sự bao bọc của những học thuyết huyễn hoặc, chỉ làm phong thủy xa dần khoa học chân chính.
Khí trong lòng đất và nơi khí dừng lại
Khí phủ khắp vũ trụ, cũng nằm trong đất. Người ta thường cảm nhận khí ẩm ướt của đất, hơi nóng bốc lên mỗi ngày, địa lực nuôi cây lớn lên; tất cả đều là hình thái biểu hiện của khí trong lòng đất.
Phong thủy phát triển khí thành âm trạch, làm nền cho âm trạch và căn cứ lý luận cho việc điểm huyệt; Nội Thiên của Táng Thư là kinh điển của lý luận âm trạch phong thủy. Lý luận ấy cho rằng khí vốn vô hình, trong đất thì mượn đất làm hình thể; khí chuyển động trong đất, chạy theo nhấp nhô của đất; chỗ khí dừng lại chính là địa khí. Nhiệm vụ của thầy phong thủy là dốc sức đi tìm mảnh đất ấy.
Theo phong thủy, trong đất có khí nên sinh ra muôn vật; chôn thi thể người chết xuống đất là mượn đất để phản khí nhập cốt, tái sinh khí vốn có trong cơ thể. Nơi đất cao nước sâu, cây cỏ tươi tốt tất khí vượng, chính là mảnh đất quý, giàu có vạn hộc vàng. Nhưng sinh khí nằm trong đất, con người không thấy được, nên hình thành thuật quan sơn đo đất của phong thủy, với những quan niệm như ngũ hành bất táng, cùng sự cát hung của mồ mả theo hình chim bay thú chạy.
Hiện nay các học giả thường cho rằng âm trạch không có ý nghĩa thực tế như dương trạch; thuyết âm trạch của phong thủy chỉ là một thứ lý luận xuyên tạc, bóp méo thuyết khí duy vật.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Phong Thủy Toàn Thư.
