Bài tổng quan
Khí mạch, cửu tinh, cửu diệu và phép táng theo thế đất
Khí chạy trong đất như máu chạy trong người: thầy thuốc bắt mạch để biết khí, thầy địa lý cũng xem mạch đất để biết nơi nào có khí. Có những huyệt nhìn từ ngoài thì nghiêng lệch, bước vào trong lại ngay ngắn, và người đời gọi đó là kỳ quái. Kỳ ở chỗ nào, và vì sao chín sao của núi hay bị lẫn với năm sao gốc?
Mục lục · 7 phần
- 01Khí đi theo mạch, mạch nằm ẩn trong lòng đất
- 02Huyệt kỳ quái: thật ra chỉ là huyệt thường mà người đời chưa hiểu
- 03Ngũ tinh là gốc, cửu tinh và cửu diệu là biến thể
- 04Hình dạng chín sao của long mạch
- 05Hình dạng chín diệu của huyệt
- 06Phép táng: đặt huyệt theo mạch gấp hay hoãn
- 07Điểm huyệt theo năm hành
Khí đi theo mạch, mạch nằm ẩn trong lòng đất
Khí chạy được là nhờ có mạch, còn mạch thì chìm sâu dưới đất. Hai thứ này không bao giờ rời nhau: mạch lộ ra khá rõ, khí thì kín hơn. Khí đi trong đất rồi bốc lên phía trên, đường đi của nó theo hình thế đất, và chỗ nó dừng lại kết tụ cũng do hình thế đất quyết định. Khí thông suốt thì sống, khí bị nghẽn thì chết.
Khí cưỡi gió mà tản ra, gió lại theo nước mà đến, cho nên gặp ranh giới của nước thì khí dừng lại. Khí vốn là mẹ của nước, lấy nước chặn thì khí đứng yên. Vì thế núi là khí bên trong, phải gặp chỗ đất kết lại hiền hòa, ẩm mát thì tinh khí mới tụ mà không tán. Nước là khí bên ngoài, phải ôm lấy, vây lấy thì tinh khí mới đọng mà không trôi đi. Khí bên ngoài là để gom giữ khí bên trong, và ranh giới của huyệt mạch, ranh giới của long mạch đều lấy nước làm mốc. Mạch tùy vị trí mà chia thành ba loại: long mạch, hiệp mạch và huyệt mạch.
Ba dạng mạch: khởi phục, tiên đới và bình thụ
Mạch khởi phục đi theo độ cao thấp của đỉnh núi. Chỗ biên độ lớn thì mạch xuống thấp, chỗ biên độ nhỏ thì mạch ở trên cao. Mạch tiên đới uốn lượn khúc khuỷu như dải lụa bay từ đỉnh núi xuống chỗ thấp. Mạch bình thụ nằm trên đất bằng, chỉ nhô lên một chút như tấm đệm. Mạch khởi phục thì khí dồn dập, mạch tiên đới thì khí hòa hoãn, mạch bình thụ thì khí dễ tản mát.
Ở vùng núi, khí mạch lấy sự linh hoạt làm sống, lấy sự cứng thẳng làm chết, lấy dáng thấp thoáng ẩn hiện làm hình chính, lấy vẻ thô nặng đục đặc làm vô tình. Ở đất bằng thì khí mạch thuộc hạng trên: nó chạy trên mặt đất như một đường xám mờ, giống con rắn trườn trong cỏ chỉ để lộ cái lưng.
Xem khí mạch của đất cũng giống thầy thuốc xem mạch người. Người có khí thì mới có mạch, có mạch thì mới có khí. Thầy thuốc bắt mạch để biết khí thịnh hay suy, thầy phong thủy xem địa mạch để kiểm chứng đất có khí hay không.
Huyệt kỳ quái: thật ra chỉ là huyệt thường mà người đời chưa hiểu
Huyệt vốn chỉ có hình thái bình thường, chẳng có gì kỳ quái. Chỉ vì người ta nghiên cứu chưa sâu, hiểu biết còn ít nên mới cho là lạ. Huyệt tốt đẹp do trời đất tạo ra và giấu kín để dành cho người có phúc, đâu có phơi bày ra cho ai cũng thấy. Mức ẩn kín hay lộ rõ mỗi nơi một khác, nên người đời phải tìm hiểu để dùng cái hay và tránh cái dở.
Có huyệt nhìn từ ngoài thấy nghiêng lệch, nhưng đứng bên trong nhìn lại thấy ngay ngắn. Có huyệt nhìn từ ngoài thấy thẳng tuột, bức bách, nhưng ở bên trong lại rộng rãi dễ thở. Có huyệt đứng xa chẳng thấy hình dáng gì, đến gần mới thấy dấu vết rõ ràng. Có huyệt thoạt nhìn mờ mịt, nhìn kỹ lại minh bạch. Dù huyệt kín đáo, chỉ thấp thoáng một chút, hình thế và cách cục vẫn đâu ra đấy, như người ngoại hình khuyết hãm mà khí chất bên trong đầy đặn, tinh thần cốt cách khác người thường.
Những tên gọi huyệt lạ đều có ý nghĩa riêng. Huyệt như bàn tay úp, phần trên thuần dương, phần dưới thuần âm, ngụ ý "dương đến thì âm nhận". Huyệt thẳng như cây thương là lạc mạch vừa gấp vừa thẳng, nên sa và nước hai bên cũng thẳng, bên ngoài phải có bao bọc. Huyệt sát mép nước là khi long xoay mình đón nước mà kết huyệt, thân không có bao bọc nhưng từ ngoài thu thế nhìn lại. Huyệt trên đất bằng là dùng sự phân hợp của nước làm long, không cần chỗ cao. Huyệt ở ruộng sâu là chỉ hơi lộ vết sống lưng dưới ruộng. Huyệt bằng như da trâu thì bốn góc dài mà nhọn tượng Hỏa, ở giữa tượng Thổ, có thể kết huyệt bình địa. Chém quan là chia khí mạch thành từng đoạn mà không đứt hẳn. Khí bốc lên, miệng huyệt thẳng dài là ý câu của Dương công, huyệt trên đỉnh núi là ý câu của Trương công về chia Long Hổ trên đỉnh, huyệt tọa không là ý câu của Liêu công, miệng huyệt thẳng dài là ý câu của Lỗ công về Huyền Vũ mỏ dài. Huyệt móng chim ưng là lấy dài trong ngắn, huyệt đèn treo tường là chọn chỗ bằng giữa nơi hiểm trở, còn huyệt hai rồng hợp khí thì không có gì kỳ quái cả.
Danh mục kỳ quái tuy nhiều nhưng gộp lại chỉ nói đến sự tụ hợp thật sự của long, huyệt, sa và nước. Sách vở ghi rải rác từng thứ huyệt rồi bàn về chúng, trong đó chẳng có gì quái. Chỉ vì các bậc thầy giỏi khi lập luận thường kín đáo, không nói thẳng, người đời sau đọc cổ thư khó hiểu, nghe cổ nhân nói kỳ nói quái thì nhắc lại theo, thực ra chẳng biết kỳ ở đâu quái ở đâu, càng thêm mơ hồ nghi hoặc. Một bậc thầy xưa đã viết rõ: cổ nhân dùng hai chữ kỳ quái khi luận huyệt không có ý nói huyệt ấy quái lạ, mà chỉ muốn phân biệt chỗ chính khí của sơn thủy với chỗ đất thường.
Ngũ tinh là gốc, cửu tinh và cửu diệu là biến thể
Núi của long và núi của huyệt đều không rời năm sao, đó là chính thể của chúng. Biến thể của núi long gọi là cửu tinh, gồm Tham Lang, Cự Môn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phù, Hữu Bật và Lộc Tồn. Biến thể của núi huyệt gọi là cửu diệu, gồm Thái Dương, Thái Âm, Kim Thủy, Tử Khí, Thiên Tài, Thiên Canh, Cô Diệu, Tảo Đãng và Táo Hỏa.
Chính thể ngũ tinh phần nhiều có tướng chân thật, trong sạch, nhưng phần lớn không kết huyệt. Cửu tinh là ngọn núi chưa biến hóa mà long thân đã mất vẻ chân thật, chỉ làm được phần đối ứng với hành long. Cửu diệu thì phần đầu đã có biến hóa nhưng còn gần chân thật, nên kết huyệt được.
Đã có bài phú luận về long theo cửu tinh và bài ca luận về huyệt theo cửu diệu. Về sau những người mê phong thủy hoặc chỉ nói ngũ tinh mà bỏ cửu tinh, hoặc lấy cửu tinh luận huyệt mà bỏ cửu diệu, nên lời bàn lẫn lộn. Họ không gọi Mộc trong cửu diệu là Tử Khí mà gọi là Mộc tinh, hoặc chỗ của Mộc tinh lại gọi là Tham Lang. Thiên Tài, Tảo Đãng, Táo Hỏa thì bị chia thành chính thể và tà thể. Họ còn bảo Thái Dương là Tả Phù, Thái Âm là Hữu Bật, Kim Thủy là Vũ Khúc, Phá Quân là Thiên Canh, Lộc Tồn là Cô Diệu, Liêm Trinh là Táo Hỏa, Văn Khúc là Tảo Đãng. Nhầm lẫn như vậy là quá lớn.
Họ không biết rằng Mộc tinh chính thể đã biến thành Tham Lang và Tử Khí thì sao còn gọi là Mộc tinh. Thiên Tài, Tảo Đãng, Táo Hỏa đã biến thành Cự Môn, Văn Khúc, Liêm Trinh thì sao còn chia chính thể và tà thể. Thái Dương có thể lấy làm Kim của Vũ Khúc, còn Tả Phù ắt là hình thể nhị Mộc. Kim Thủy là hình thể thông khởi của Thủy tinh, mà Vũ Khúc chỉ là hình thể nhất Kim. Thái Âm là thủy của Kim tinh ở chỗ thấp, Hữu Bật là hình thể ẩn phục của Mộc tinh và còn thuộc Thủy. Phá Quân với Thiên Canh, Lộc Tồn với Cô Diệu tuy đại thể gần giống hình nhưng tính chất khác nhau.
Phá Quân, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Thiên Canh, Cô Diệu, Tảo Đãng, Táo Hỏa đều không phải thể cát lợi. Phá Quân, Lộc Tồn, Liêm Trinh, Văn Khúc chỉ dùng để bàn về long, không dùng để bàn về huyệt. Nếu theo lời các thầy kém cỏi thì ngũ tinh với cửu tinh chẳng khác gì nhau, cửu diệu thì chẳng có Mộc mà chỉ có Kim tinh chiếm bốn phía. Họ lại bảo Thiên Tài, Tảo Đãng, Táo Hỏa có chính thể mà không biết Thổ chính, Thủy chính, Hỏa chính đối với Cự Môn, Văn Khúc, Liêm Trinh sẽ thành dạng gì. Phân biệt các sao là cánh cửa đầu tiên của khoa địa lý, nếu cánh cửa ấy chưa vào được thì làm sao nghiên cứu nổi chỗ tinh vi.
Hình dạng chín sao của long mạch
Long mạch tuy không rời ngũ tinh nhưng rất lưu chuyển biến động, nên mới có cửu tinh. Tham Lang là biến hóa của Mộc tinh, dáng như cái răng ngà hay ngọn măng. Cự Môn là biến hóa của Thổ tinh, dáng như cái ghế, tấm bình phong. Vũ Khúc là biến hóa của Kim tinh, dáng như cái chuông, cái đe. Văn Khúc là biến hóa của Thủy tinh, dáng như rắn bò, lươn trườn. Lộc Tồn là biến hóa của nhị Thổ tinh, dáng như trái dưa, cái trống. Liêm Trinh là biến hóa của Hỏa tinh, dáng như cái dù cụp, lưỡi cày. Phá Quân là biến hóa của nhị Kim tinh, dáng như tấm phản, lá cờ. Tả Phù là biến hóa của nhị Mộc tinh, dáng như đầu búa. Hữu Bật là biến hóa của tam Thủy tinh, dáng như sợi tơ tằm.
Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc là ba sao cát, tốt nhất. Tả Phù, Hữu Bật ở bậc thứ hai. Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Phá Quân là bốn sao hung, nhưng trên long mạch vẫn không thể thiếu chúng. Liêm Trinh hợp làm núi tổ tông, Văn Khúc hợp việc kéo mạch xuống thấp, Lộc Tồn hợp việc chặn bít, Phá Quân hợp việc ngăn chặn.
Còn có thể nói rằng trong Tham Lang có Liêm Trinh, trong Văn Khúc có Hữu Bật, trong Vũ Khúc có Phá Quân, trong Lộc Tồn có Cự Môn, Văn Khúc, Tả Phù. Về biến động thì cả chín sao đều đi kèm Văn Khúc mà vận hành. Về thể hiện thì cả chín sao đều xuất hiện kèm theo Lộc Tồn. Trong chín sao, cát và hung xen lẫn nhau, giống như trên đời quân tử và tiểu nhân ở xen kẽ.
Hình dạng chín diệu của huyệt
Huyệt cũng không rời ngũ tinh nhưng rất ít chính thể mà phần nhiều là biến thể, vì thế mới có tên cửu diệu. Cao lớn là Thái Dương, thấp bé là Thái Âm, thô thiển là Thiên Canh, đều là biến thể của Kim tinh. Thông khởi là Kim Thủy, kéo ngang là Tảo Đãng, đều là biến thể của Thủy tinh. Đầu lõm là Thiên Tài, phù thũng là Cô Diệu, đều là biến thể của Thổ tinh. Chia cành là Tử Khí, biến thể của Mộc tinh. Nghiêng chếch là Táo Hỏa, biến thể của Hỏa tinh.
Năm diệu Thái Dương, Thái Âm, Kim Thủy, Tử Khí, Thiên Tài là cát diệu, dùng được. Thiên Canh, Cô Diệu, Tảo Đãng, Táo Hỏa là hung diệu: chỉ cần xem chân khí của long mạch có tụ hợp hay không, có chỗ kết huyệt hay không, có thì dùng.
Thiên Tài lõm ở giữa, hai đầu nhô lên gọi là Đảm Oa. Một đầu cao một đầu thấp gọi là Ban Yên. Các dạng Triển Cáo thổ, Xuất Sơn thổ, Bọc Đầu thổ đều thuộc Thiên Tài. Tử Khí có ba nhánh đều chĩa lên gọi là Đằng Vân, ba nhánh đều chĩa xuống gọi là Thùy Đầu. Các dạng Giao Chỉ mộc, Tam Cước mộc, Độc Cước mộc, Chiết Tinh mộc, Quản Lam mộc đều thuộc Tử Khí. Kê Kim và Ngoan Kim thuộc Thiên Canh. Trư Tâm và Quy Bối thuộc Cô Diệu. Ba Liêm và Tán Võng thuộc Tảo Đãng. Vong Trửu và Tháp Địa thuộc Táo Hỏa.
Lại có những thế vút lên núi cao như Hiến Thiên Kim, Thông Thiên Mộc, Lãng Thiên Thủy, Chiếu Thiên Hỏa, Tấu Thiên Thổ, đều là khí đẹp trên thân long. Có những thế chúi xuống đất bằng như Ngọa Tàm Kim, Thủy Bao Kim, Phấn Bính Kim, Đảo Địa Mộc, Phù Bài Mộc, Khúc Xích Thủy, Ba Lãng Thủy, Mai Hoa Thủy, Nhập Địa Hỏa, Phủ Thiên Thổ, Nê Bình Thổ, Chuyên Giác Thổ, đều là huyệt dùng được.
Phép táng: đặt huyệt theo mạch gấp hay hoãn
Dương công dạy rằng: nhận rõ tinh thần, xem kỹ dấu vết và hướng đi, đặc biệt phải nhớ chỗ giao hội. Lấy huyệt ở minh đường thì phải nhận ra chỗ tinh vi, thấy rõ long mạch đang chạy, mạch lạc phân minh mới có thể đoán định.
Mạch gấp thì chọn nơi hòa hoãn, mạch hoãn thì chọn nơi tranh giành ác liệt. Mạch thành cặp thì chọn bên ngắn, mạch đơn nhất thì chọn chỗ thực. Mạch chạy ngang thì chọn chỗ thẳng, mạch thẳng dọc thì chọn chỗ khúc khuỷu. Huyệt ngay ngắn thì chọn chỗ giữa, huyệt chênh chếch thì chọn ở mép bên.
Mạch lạc không thể rời quan quách, quan quách không thể rời mạch lạc. Chỗ cao không thể lộ trước gió, chỗ thấp không thể mất mạch. Âm đến thì dương nhận, dương đến thì âm nhận. Thế thuận thì lấy chiều nghịch, thế nghịch thì lấy chiều thuận.
Long và Hổ càng phải xem mạnh hay yếu. Nếu khí từ đỉnh đầu đến thì nhân lúc mạch hòa hoãn mà lấy từ chính diện. Nếu khí vào từ bên tai thì nhân lúc mạch gấp mà chống đỡ. Có mười hai loại huyệt, phải theo các phép trên mà chọn.
Tóm lại, khi định huyệt an táng phải xem khí mạch hòa hoãn hay gấp gáp để xử lý. Mạch gấp mà khí nổi ở trên thì chọn nơi hòa hoãn, dùng phép điệp táng. Mạch hoãn mà khí chìm ở dưới sâu thì chọn nơi gấp, dùng phép thôn táng. Mạch gấp mà khí nổi trên mặt đất thì dùng phù táng. Mạch hoãn mà khí chìm dưới đất thì dùng trầm táng.
Thế đến như sống kiếm, như bàn tay úp, béo mập thuộc loại âm cấp tính. Thế đến như lòng chảo, như bàn tay ngửa, gầy gò thuộc loại dương hoãn tính. Mạch âm tuy gấp, nhưng nếu phân tán mở rộng thì cũng thành tương đối hòa hoãn, còn thu hẹp lại thì càng gấp. Khí mạch hòa hoãn thì nên tránh chỗ râu mà tiếp cận chỗ bóng, gọi là thừa thai. Khí mạch gấp thì nên tránh chỗ bóng mà tiếp cận chỗ râu, gọi là thừa tức.
Còn phải xem kỹ chỗ hợp khâm, tức chỗ khép vạt áo, nông hay sâu để quyết định chôn sâu hay nông. Hợp khâm nông mà chôn sâu thì chân khí đi qua phía trên, hợp khâm sâu mà chôn nông thì chân khí đi qua phía dưới, cả hai đều không tốt. Phải làm sao cho chân khí tụ lại.
Khí mạch của niêm huyệt nông nổi thì đào huyệt nông, lấy đất nơi khác đắp mộ cho cao. Khí mạch của huyệt hơi uốn lượn thì đào ở chỗ khúc khuỷu, đặt quan tài chìm hai phần ba. Khí mạch của huyệt tương đối thẳng thì dùng phép thôn phóng, tức nuốt khí. Nếu khí xộc đến quá mạnh thì dùng hai cỗ quan tài, tách hai chân mà kẹp lấy khí.
Huyệt cao, lộ, hai bên không che chở thì đào loại kim huyệt, dùng cách chôn ngồi chỗ thấp, nằm chỗ khô, tức trên khô dưới ẩm. Ở nơi đất trũng thì dùng cách chôn ngồi nước, nằm nước, quan tài như treo lơ lửng. Huyệt Mộc tinh chính thể thì xem trên mặt đất có nếp nhăn hình chữ Bát hay không, có thì chôn nông. Đất ruộng cứ thấp dần thì dùng phép đối khởi, tức đắp gò cao. Huyệt Kim tinh mà trong núi Long, núi Hổ có chỗ nhũ nhỏ mở miệng thì dùng phép táng khí nước. Huyệt Kim tinh kém phát triển, thịnh vượng thì nên táng nông.
Đất Ngoan Kim mềm, không có tướng Long Hổ, không có vân hình và sóng nước thì phải mượn nước để hoàn thành việc táng, gọi là phép đả tỉnh, táng theo cách đào giếng. Mạch ngay ngắn thì dựng huyệt ở chỗ lõm, gọi là phép tàng sát, giấu sát khí. Miệng núi Huyền Vũ tương đối dài thì mượn nước đặt huyệt ở chỗ quanh co, gọi là áp sát. Phép thiểm sát là lập huyệt ở bên trái hoặc bên phải cục. Mạch gấp thẳng ngay giữa, hai bên không có chỗ nhận thì lập huyệt cách chỗ đất bằng một đoạn, gọi là thoát sát. Thế cao mà mạch gấp thì đặt quan tài nằm ngang, lập huyệt ở chỗ đất hẹp, gọi là phép hàm sài.
Tóm lại phải lấy long mạch thật, huyệt thật, chân khí ngưng tụ, mạch lạc bình ổn làm tiêu chuẩn. Kinh táng xưa có dạy:
Chi táng ở đỉnh núi, tập táng ở chân núi; năm loại núi không được hạ táng là đồng sơn, đoạn sơn, thạch sơn, quá sơn và độc sơn.
Điểm huyệt theo năm hành
Huyệt của Kim tinh là chỗ lõm thấp hoặc chỗ đột cao. Huyệt của Mộc tinh là mầm và đốt. Huyệt của Thủy tinh là chỗ trồi lên và chỗ quanh co. Huyệt của Thổ tinh là gò cao và góc cạnh. Huyệt của Hỏa tinh là chỗ động và chân.
Huyệt Kim tinh lấy Thủy tinh và Thổ tinh làm tương hợp. Mộc tinh lấy Thủy tinh và Hỏa tinh làm tương hợp. Thủy, Thổ, Hỏa đều theo ngũ hành tương sinh mà chọn huyệt tương hợp. Riêng Hỏa tinh không thể kết huyệt, vì tính Hỏa mãnh liệt, không dung nạp vật khác. Huyệt Kim của Thái Dương thường ở Trung Đình, huyệt Kim của Thái Âm ở Nguyệt Giác. Huyệt Kim và Thủy đều ở Lưu Châu, Khúc Trì và Tử Khí. Huyệt Mộc ở Trung Nhũ, Lưỡng Cước và Thiên Tài. Huyệt Thổ thường ở Đảm Oa, Thiên Canh, Cô Diệu. Huyệt Hỏa thường ở đầu trung lạc, chỗ lõm.
Thiên Canh, Cô Diệu, Tảo Đãng, Táo Hỏa tuy không hoàn toàn cát lợi, vẫn có thể tận dụng những đốt đoạn của chúng, nên mới có các phép như khai cô triệt đăng, phạm canh tiễn hỏa. Huyệt ở Thượng Đình, Trung Đình, Hạ Đình chỉ dùng được khi tinh thần thịnh vượng, bản thân có chỗ khiếm khuyết, hai vai Long sơn và Hổ sơn cao thấp đồng đều.
Kim tinh có huyệt Chiếu Ảnh. Mộc tinh có huyệt Ngư Bào, huyệt Tiễn Hồng và huyệt Nguyệt Thu Bì. Thủy tinh có huyệt Chiết Điệp và huyệt Thủy Cánh. Hỏa tinh có huyệt Yết Vĩ và huyệt Gian Hồng. Thổ tinh có huyệt Lưu Kim, huyệt Chuyên Giác và huyệt Khí Khôi. Các loại huyệt khó kể hết, chỉ có thể tùy lúc tùy nơi mà cân nhắc, phối hợp cho hợp lý.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
