Bài tổng quan
Nước hoàng tuyền và phép đổi sát thành cát của huyền không
Dòng nước chảy qua chỗ này thì tai họa đến trong sáu đến mười hai năm, chảy qua chỗ kia thì phải đợi hai mươi bốn năm mới lộ mặt. Người xưa gọi những lối ấy là hoàng tuyền và chỉ kiêng nước đi chứ không kiêng nước đến. Khi sát khí đã lỡ vào nhà, có cách nào đổi nó thành cát không?
Mục lục · 9 phần
- 01Chỉ kiêng nước đi, không kiêng nước đến
- 02Mười hai chi và những đường hoàng tuyền
- 03Thìn Tuất, Dần Giáp và dòng nước làm quan
- 04Năm hành gặp lúc suy tàn
- 05Thể và dụng của trời đất: Càn giữ hướng, Khôn giữ long và huyệt
- 06Đại huyền không có sáu, tiểu huyền không chỉ có bốn
- 07Có sinh trong tử, có vượng trong suy
- 08Phép hóa giải và thứ tự lập núi, hướng, thủy khẩu
- 09Càn thống lĩnh sự khởi đầu, Khôn thống lĩnh sự kết thúc
Chỉ kiêng nước đi, không kiêng nước đến
Trương Tông Đạo nói: từ Canh đến Đinh đều kỵ Khôn, từ Ất đến Bính đều kỵ Tốn, từ Quý đến Giáp đều kỵ Cấn, từ Tân đến Nhâm đều kỵ Càn. Phép này chủ yếu dùng khi lập hướng, mở cửa, chiết nước và đặt nước, thảy đều phải tránh những điều kiêng kỵ ấy. Nếu phạm vào gần thì tai họa đến trong vòng sáu đến mười hai năm; nếu phạm khá xa thì phải sau hai mươi bốn năm tai họa mới xuất hiện. Phép này chỉ kiêng nước đi (khứ) mà không kiêng nước đến (lai).
Chẳng hạn hướng Canh có nước Đinh, nước đi xa mười hai năm tới Khôn thì dừng. Phải ước lượng độ dài ngắn của dòng nước mà định họa phúc trong từng năm; qua đến Mùi thì hết tai ương. Nhưng nếu hướng Tị có nước Khôn đi mãi không dừng thì chủ về tuyệt vong.
Mười hai chi và những đường hoàng tuyền
Các hướng Tí, Sửu, Dần, Mão mà có nước Cấn thì hung. Các hướng Mão, Thìn, Tị, Ngọ không nên vào cung Tốn. Các hướng Ngọ, Mùi, Thân, Dậu đừng gặp Khôn. Các hướng Dậu, Tuất, Hợi, Tí chẳng nên gặp Càn.
Nước đến thì cần sinh vượng, nước đi thì cần ở vị bệnh tử. Lập hướng theo can dương, thủy khẩu ở vị thai, tuyệt thì chủ phú quý song toàn. Bốn đường hoàng tuyền đều chủ về hướng: nước đến thì cát, nước đi thì hung.
Tân An phả chí viết: núi Nhâm hướng Bính mở cửa Giáp, năm trăm năm sinh của lớn. Đó là núi Nhâm hướng Bính có nước Giáp, giàu sang suốt năm trăm năm, vì Nhâm dương gặp Càn, Giáp cũng nạp Càn nên giàu sang; từ Nhâm đến Giáp cách năm vị nên nói là năm trăm năm.
Còn nước ở dưới từ núi dương rời đi, các năm Ất, Canh có thiếu niên chết yểu, vì ngũ hành của hướng Bính thuộc kim; nước dương đi qua vị Tốn, Tị thuộc hỏa tức là phá tràng sinh. Ất và Canh hóa giải kim để cứu tai họa của năm đó, nhưng thiếu niên vẫn phải chết yểu vì sinh dưỡng chủ về trẻ nhỏ. Cách cứu như sau: phải lấy hướng làm chủ, cần tránh phạm vào cửa đường, ao giếng, mương rạch, chỗ chiết nước của Tốn, Tị. Nếu hướng Tốn, Tị có đường đi thì gọi là đạp phá tràng sinh, cũng gọi là hoàng tuyền.
Thìn Tuất, Dần Giáp và dòng nước làm quan
Huyền văn quan thiên chính là núi Thìn hướng Tuất hoặc núi Tuất hướng Thìn; Thìn là thiên la, Tuất là địa võng, rất hung họa. Lại có hướng Dần đặt nước Giáp, hướng Ất đặt nước Tốn thì đời đời làm quan. Bính, Thìn là rồng, Dần là hổ, cần tìm kỹ nguồn gốc của chúng. Chính thần Tốn, Bính được lục tú đến thì suốt đời thanh nhàn. Núi Mão hướng Tân có nước Càn thì giàu sang mà còn có thể làm quan.
Năm hành gặp lúc suy tàn
Kim gặp Tuất thì thành sắt, hỏa tới Mùi, Thân thì tuyệt dấu, mộc gặp Thìn thì cành lá khô héo, thủy thổ gặp Sửu, Dần thì cạn. Ngũ hành gặp buổi suy tàn gọi là quan. Nơi nước chảy ra mà phạm phải quan sát ở trước mặt thì chủ về thiếu niên chết yểu; đó cũng là ý nói tương giao không đủ.
Có hai lời nghe như trái nhau: một lời bảo nước phải đi ngược từ tứ qua tam, nhị đến nhất; một lời bảo nước phải đi thuận từ nhất qua nhị, tam đến tứ. Lý do là khi bàn đến công vị thì dùng chiều nghịch, khi bàn đến chiết nước thì dùng chiều thuận. Tóm lại, nghịch mà không loạn thứ tự của nghịch, thuận mà không loạn thứ tự của thuận, thì mới đúng ý.
Thể và dụng của trời đất: Càn giữ hướng, Khôn giữ long và huyệt
Càn là trời, là dương, là dụng, là động, nên lấy hướng về nước để giữ phép tắc. Khôn là đất, là âm, là thể, là tĩnh, nên long và huyệt theo đó mà giữ nghĩa. Càn Khôn đã định vị thì âm dương lấy đó mà sinh sôi, thịnh vượng. Thể và dụng giao hội, động và tĩnh nương nhau thì có thần và có sát. Phương vị đã định thì núi nước có linh khí: muốn tìm người kế tục thì mong được tràng sinh, muốn mưu việc phú quý thì mong được quan vượng. Nếu không biết chỗ xấu và thoái thần của huyền không thì có mong muốn cũng vô ích. Có sinh vượng lại có tiến thần thì gọi là trong sinh có sinh, trong vượng có vượng.
Lại có nguồn sinh làm gốc của chết, gốc của chết làm nguồn sinh; vượng biến thành gốc của suy, suy hóa thành gốc của vượng. Người đời trần tục không biết những điều ấy nên không dùng; có người biết những điều ấy cũng không dùng. Biết mà dùng là số thường, không biết mà không dùng là số biến của núi nước. Cái thường là quyền của tạo hóa, dễ đi đến chỗ cùng tận; dễ cùng tận thì ắt hung, nhưng con người có thể nhờ nó mà có phúc đức. Cái biến là điều huyền diệu của tạo hóa, khó tìm; khó tìm tức là giữ lại điềm lành cho người.
Đại huyền không có sáu, tiểu huyền không chỉ có bốn
Cho nên đại huyền không có sáu loại kim, sáu loại mộc, sáu loại thủy, sáu loại hỏa. Bốn với sáu hỗ trợ nhau thì cát, chúng tự cùng hợp. Kinh Dịch viết rằng tạp loạn mà vẫn không vượt quá chuẩn mực. Khảo sát số của chúng thì bốn cộng sáu bằng mười, đó là số khiến thần và vật hưng thịnh, lấy làm cơ sở vận dụng cho trăm họ. Tiểu huyền không thì kim, thủy, hỏa, mộc mỗi thứ đều có bốn; bốn cộng bốn bằng tám, chúng không cùng nương nhau, không cùng hợp nhau. Kinh Dịch cũng viết rằng sự biến hóa đan xen hỗn tạp làm nên quỷ thần; thần thì che chở người, quỷ thì hại người.
Vì vậy người giỏi hiểu trời đất đến chỗ huyền diệu, dùng nó tới chỗ hư vô, lấy cái cùng thường của âm dương mà thông tới chỗ cùng biến, thì trong vượng mới không có quỷ. Quỷ là sát của tiểu huyền không, khắc tam hợp. Chẳng hạn Hợi, Mão, Mùi thuộc mộc mà gặp Càn kim thì con cháu tàn suy mãi, đất đai tiêu tán, tước vị bổng lộc cũng mất. Không nên để sinh bị khắc, vượng bị phạm. Đó chính là huyền không.
Có sinh trong tử, có vượng trong suy
Đã biết có sinh vượng thì cũng phải biết có trường hợp có sinh trong tử, có vượng trong suy. Khi thấy một dòng nước xấu thoắt ẩn thoắt hiện, lúc có khí lúc không, mà dùng nó thì hiện tại nghèo hèn nhưng tương lai giàu sang. Ngược lại, dù có dòng nước đẹp đến chào đón nhưng ngầm hại gia nhân thì hiện tại thịnh vượng mà tương lai lụn bại. Thường thấy tử trong cục mộc, Khôn ở trước một ngôi vị mà vào cung Thân thì cát; sinh trong cục thủy, Thân ở sau một ngôi vị mà gặp thần Canh thì phần nhiều hung. Hiểu điều này thì biết có sát ngầm nào tránh được và nào không.
Vì vậy có người khống chế biến hóa để giữ cái thể của nó, có người dùng sinh khắc để giữ cái dụng của nó. Thân lộ ra mà sát ẩn đi thì sao sát biến thành sao cát. Chính sát tinh biến thành sao cứu mạng cũng là sao cát; dùng huyền không để thay đổi nó cũng là sao cát.
Tam hợp là sợi dọc, huyền không là sợi ngang; đảo ngược biến hóa tự có điều huyền diệu riêng, nếu cứ câu nệ chuyện bất biến thì sẽ mất đi sự kỳ diệu. Cổ nhân nói đảo ngược ngũ hành thì đất có bảy báu, ngũ hành đi thuận thì đất có hỏa kháng. Có thật vậy chăng? Vượng thần mất đi thì của cải cạn kiệt; vượng thần bị khắc thì của cải khó giữ. Sinh thần đi nghịch thì hiếm người thừa tự; sinh thần bị khắc thì con cháu hiếm hoi. Sinh vượng là như vậy, sao lại gộp chung lại mà gọi là câu nệ?
Dương chủ về thổ, long lấy nước làm tùy tông; âm chủ về nước, tướng lấy thổ làm vũ khí. Chính diệu tương khắc mà ngầm bên trong là tương sinh thì đại cát đại phú; chính diệu tương sinh mà ngầm bên trong là tương khắc thì đại hung họa. Vượng sinh mang theo sát, kiềm chế nó thì xấu, thay đổi nó thì được bình an. Chiếu theo thần minh vượng có thể giải trừ tai họa lửa cháy; kiềm chế sát thì sinh khắc ngầm ẩn; còn thay đổi nó thì phải làm sao? Tốt nhất là để nó hợp với xung chiếu, như tiếng vang dội lại trong núi.
Phép hóa giải và thứ tự lập núi, hướng, thủy khẩu
Núi Sửu, Mùi ở công huyệt thì tốt nhất có Giáp, Canh. Nếu đủ để chế hóa thì có thể dùng nó mà hòa với đường nước. Nếu vượng khí cũng đã tận thì có thể dùng thập đạo, thủy thần sẽ ngầm giúp đỡ. Sinh vào khắc vào thì tốt nhất có huyệt chầu về; sinh ra khắc ra thì cần có dòng nước chiết và nạp. Quý nhất là hợp với thiên tinh Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc. Yếu quyết quan trọng nhất là có sự giao nhau và sự thoát ra, tài sản và gia nhân sẽ sung túc. Đại thủy thần đi qua thì con cháu thông minh, sớm thành danh. Tứ mộ xấu hoặc nước yếu thì đừng phạm vào. Nếu hợp hung với long thì ắt gặp họa binh lửa, cả nhà tuyệt diệt. Khắc hợp với thiên tinh thì khó tránh tai họa. Các cách trên đều hợp với địa hậu và cần xem âm dương: âm không có dương đến phò thì mồ côi mẹ; dương không có âm đến hội họp thì đại hung; âm dương tương ứng thì gia đạo càng thêm tốt đẹp.
Đại huyền không có phép hóa giải hung họa. Chẳng hạn mộc khởi từ Ngọ là chỉ mộc ở vị Hợi, thế của nó rất lớn, nên giữ trung tâm và vị của âm mộc để đẩy nó trở về Ngọ. Hỏa khởi từ Dậu là chỉ hỏa ở vị Dần, thế của nó mạnh nhất, nên giữ trung và âm hỏa để đẩy nó trở về Dậu. Kim khởi từ Tốn là chỉ kim ở vị Tị, thế của nó bị khắc nên không thể rời xa vị trí bản sinh để đẩy tới Tốn. Thủy khởi từ Khôn là đem thủy thổ khởi từ vị Thân, thế của nó bị khắc nên không thể rời xa bản vị để tới Khôn.
Vì vậy cách dùng của chúng là trước tiên phải định hai mươi bốn vị của núi, kế đến định hướng cùng thủy khẩu, cũng phải thêm hai mươi bốn vị để tiêu nạp sinh khí; sự ra vào của khí lấy việc có ích cho long làm chủ yếu.
Càn thống lĩnh sự khởi đầu, Khôn thống lĩnh sự kết thúc
Càn là thiên quái ở phương nam; Đoài, Ly, Chấn nối nhau đi từ nam sang đông. Tóm lại lấy Càn làm thiên quái, thống lĩnh sự bắt đầu của chúng. Khôn là địa quái ở phương bắc; Tốn, Khảm, Cấn trải đều theo Khôn từ bắc qua tây. Tóm lại lấy địa quái làm chủ sự kết thúc của chúng. Càn, Khôn là cha mẹ lớn, sáu quái còn lại là con cháu của Càn, Khôn, ở đông và tây. Hai quái Càn, Khôn bao quát cả sự bắt đầu lẫn sự kết thúc của chúng, vì thế nói quái thiên, địa, cha mẹ gồm hết ý nghĩa trong đó.
Khi cách khởi đã xong thì dùng bốn hành liên châu, có thêm hai mươi bốn vị để tiêu nạp nuôi dưỡng hơi thở, có đạo tiến thoái sinh khắc của nó. Chẳng hạn núi Tí thì dùng Tí thêm Tốn, Dần thêm Tị, Thìn thêm Bính rồi tính theo chiều thuận. Tóm lại, trước tiên định núi đến, kế đó định hướng, sau cùng định thủy khẩu.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
