Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Bí mật của thiên cơ bị hiểu ngược, và sáu nhà đất phát rồi tan

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202614 phút đọc0 lượt đọc
Bí mật của thiên cơ bị hiểu ngược, và sáu nhà đất phát rồi tan

Người bạn gửi thư khuyên ông phải kín miệng, vì thiên cơ không thể tiết lộ. Ông trả lời bằng sáu ngôi mộ mình từng chứng kiến, và bằng cách đọc lại từng câu của kinh. Hóa ra hai chữ bí mật trong kinh chưa chắc mang nghĩa mà người đời vẫn tưởng.


Câu "thiên cơ bất khả tiết lậu" và hai cách đọc trái nhau

Có người hỏi Thẩm Trúc Nhưng về câu "Thiên cơ bất khả tiết lậu, Tý độc tiết lậu đối tân". Ông đáp rằng trong "Thiên ngọc kinh", Dương công xem trọng nhất là cách bài sao lần lượt. Dưới đoạn "Tiết lậu thiên cơ bí" có những câu nói về "thiên cơ" nằm trong hay nằm ngoài; đọc kỹ thì thấy hai chữ "thiên cơ" thực ra chỉ thiên vận và quái lý mà thôi. Họ Tưởng chú lại thành chuyện bí mật của trời không được tiết lộ, và ông gọi đó là kiến giải của bọn hủ nho tầm thường.

Chính câu ấy mỗi người đọc một nghĩa. Tưởng Đại Hồng hiểu là cơ trời không thể tiết lộ, ai tiết lộ thì xem như đã tận. Thẩm Trúc Nhưng, dựa theo mạch toàn văn, hiểu rằng thiên cơ không được để tiết khí; chỉ một chữ Tý tiết khí thôi thì xem như đã tận.

Có người hỏi thêm: nếu thầy không giữ bí mật, một khi thuật Huyền Không trình bày rõ ràng ở đời thì người sau chỉ cần dựa vào hình đồ lập hướng là được cuộc đất phú quý quá dễ dàng, khi ấy ai cũng tác oai tác quái thì làm sao? Ông đáp: muốn được đất tốt, điều chính yếu là phải tích đức; con cháu không tích đức thì rốt cuộc cũng bị trời hại. Cả đời ông từng chứng kiến sáu trường hợp.

Sáu ngôi nhà đất ấy đều có lúc phát. Điều khác nhau là con người đứng trên đất ấy.

Sáu nhà đất đúng phép mà vẫn tan vì thiếu đức

Thứ nhất là họ Vương ở quê ông. Vận 2, năm Tân Mão, họ táng ở cuộc sơn Kiền hướng Tốn; năm Giáp Ngọ người con đỗ trường thi, tin vui báo về. Sau khi toại chí, người con bỗng trở chứng, hoành hành bá đạo khắp xóm làng, không chịu tu thân tích đức. Năm Đinh Dậu mộ họ Vương bị nước lũ xung phá; năm sau người con vào kinh ứng thí, rốt cuộc chết nơi đất khách. Chí Y giải thích: vận 2 cuộc Kiền Tốn đang vượng, sao của sơn là Tứ tới Tốn, sao lưu niên của năm Giáp Ngọ là Lục tới Tốn, nên Tứ Lục hợp thập; sao của sơn là Nhị tới Kiền, sao lưu niên năm Giáp Ngọ là Bát tới Kiền, nên Nhị Bát hợp thập. Hướng Tốn vốn là Nhất Tứ đồng cung, lại thêm sao lưu niên hợp thập với sơn hướng, vì thế mới đỗ đạt.

Thứ hai là một dòng họ ở một làng phía bắc Thượng Ngu. Họ điểm huyệt sơn Sửu hướng Mùi vào vận 8, sau đó con cháu phồn thịnh, giàu nhất làng nhưng lại có nhiều hành vi bất nghĩa. Đến năm cuối vận 1, cây âm đức của dòng họ bị gió lớn quật đổ; mấy năm liền người trong họ lần lượt qua đời, gia sản ngày càng lụn bại.

Thứ ba là một thân sĩ ở Tây Khê, Hàng Châu. Ông táng tổ tiên vào vận 2, sơn Sửu hướng Mùi; sau đó cả nhà đinh tài đều vượng, đỗ đạt nhiều, còn bản thân ông ở chức quan lại trở nên tham lam bạo ngược. Đầu vận 3, người nhà ông táng thêm một huyệt vào chính cuộc long mạch của ông, từ đó gia nghiệp suy bại.

Thứ tư là ở Tô Châu. Năm Giáp Thân, người nọ táng tổ tiên ở cuộc sơn Giáp hướng Canh, thành môn ở Mùi; lấy Bát nhập trung cung thì Nhị tới Mùi được thành môn Nhất, nên cát. Sau khi táng, ông ta được bổ vào chức quan đang khuyết ở tỉnh nơi Thẩm Trúc Nhưng ở, và hành sự hiếu sát vô hạnh. Sau đó cây đại thụ trước mộ bị gió lớn quật ngã, ông bị cách chức.

Thứ năm là ngôi mộ họ Dương gần chùa A Dục Vương ở Ninh Ba. Mộ điểm huyệt vào vận 2, năm Ất Dậu, sơn Tốn hướng Kiền, nhà cửa tài đinh đều vượng. Có điều họ Dương là người khắc bạc, trọng tiền bạc. Cuối năm Quý Dậu, trong một vụ làm ăn ở Thượng Hải, ông vì tiền mà bức chết hai mạng người. Năm sau giặc giã nổi lên, con đường quan trọng ngang qua vùng đất mộ tổ họ Dương bị binh lính tới đồn trú; đến cuối năm cả gia đình ông gặp nạn mà chết.

Thứ sáu là ở Gia Hưng, Trần Thiện táng tổ tiên ở cuộc sơn Kiền hướng Tốn vào vận 8, trong nhà tài đinh đều vượng, tuy không phát về khoa cử. Năm Ất Dậu thuộc vận 2, trong làng có một tên vô lại học địa lý mượn cớ hạch sách, đòi không được thì đặt ở phương Cấn một ngọn thiên đăng. Thế nhưng chính năm ấy con cháu đều đỗ kỳ thi hương. Chí Y giải thích: vận 8 sao của hướng là Tứ đến Cấn; vận 2 năm Ất Dậu, sao lưu niên là Nhất đến Cấn; đúng là Nhất Tứ đồng cung.

Có người đọc tới đây, thấy chuyện tiết lộ phép là rất nặng, nên đã gửi thư khuyên ông nên kín miệng.

Thư của người bạn khuyên giữ kín

Thẩm Trúc Nhưng mở đầu thư trả lời Thái Yên Sinh bằng lời cảm tạ: ông vui mừng nhận thư do Tăng Liêm Tuyền từ kinh mang về. Thái Yên Sinh viết rằng ông hiểu phép Huyền Không mà lại tiết lộ thiên cơ, trái với tông chỉ của hai vị Dương Quân Tùng và Tưởng Đại Hồng, khuyên về sau nên giữ bí mật. Ông cho rằng người bạn đã hiểu lầm. Trong những lời uyên áo của các kinh như "Thiên ngọc", "Bảo chiếu", Dương công nói "bí mật", nói "thiên cơ"; đọc nguyên văn cho tường tận sẽ thấy đó là một loại tâm pháp. Họ Tưởng chỉ thấy một góc, không đủ để đời sau noi theo. Đáng tiếc khi họ Tưởng được bí bản ở đình Lâm Hồng, ông tự cho là đã biết bí quyết trong khi chưa nghiên cứu tường tận phép này. Vì không hiểu cái lẽ biến thông, đạo chưa thấu hết nên suốt đời không dám tuyên bố với mọi người. Có thể nói đó là căn bệnh của cả đời họ Tưởng, không bằng Kỷ Đại Khuê tự mình chửi bới thiên hạ.

Họ Tưởng soạn "Biện chính" lấy "Thanh nang kinh" đứng đầu, nhưng kinh vốn không nói phải giữ bí mật, lời tự tăng bổ cũng không bảo phải giữ bí mật. Từ khi Khương Nhữ chú "Áo ngữ", đã sinh ra biết bao chướng ngại cho người học. Tuy Khương Nhữ nắm được bí quyết, nhưng những điều ông viết đều không đáng một xu, chỉ vì hiểu lầm hai chữ "bí mật" trong "Áo ngữ". Hai câu trong sách là:

Phiên thiên đảo địa đối bất đồng, bí một tại Huyền Không.

Nghĩa là trời và đất đảo ngược thì đối đãi biến đổi không giống nhau; đó là bí mật của Huyền Không. Nói "bí mật" là nói về diệu dụng của Huyền Không, chứ không phải nói thiên cơ phải giữ kín. Đoạn đầu của "Thiên ngọc" cũng nói y như vậy, nên đã rất rõ. Họ Tưởng chú rằng đây là kho tàng bí mật, nếu không phải chân truyền thì không được biết sự kỳ diệu ấy; điều thêm thắt này dẫn tới tệ giữ bí mật thiên cơ.

Ý nghĩa trọng yếu của hai câu ấy, họ Tưởng không nói ra mà cứ ôm khư khư để gạt người, trái với tông chỉ của Dương công là cứu nghèo cho thiên hạ. Lại như câu "Tiên nhân bí mật định âm dương", ý nói khi bài các sao thì chỗ huyền diệu là phải định rõ âm dương của chúng. Họ Tưởng tự biết hai câu này không thể dối người, bèn dựa vào hai chữ "bí mật" để bỏ qua mà không dám giải thích tường tận. Còn đoạn "Tiết lậu thiên cơ bí" nói về cách bài các sao lần lượt, cực kỳ quý báu; "thiên cơ" ở đó là nói về "thiên tâm", mà thiên tâm tức là lệnh tinh nhập trung cung. Rõ ràng Dương công muốn mọi người biết đây là "bộ máy của trời", phải vững chắc, không được tiết khí ra ngoài, chứ không phải nói phải giữ bí mật không được tiết lộ. Vậy mà họ Tưởng quyết đoán xằng, nói là thiên cơ bí mật không thể truyền cho người đời, chẳng cần biết hai chữ "tiết lậu" muốn nói gì.

Từng câu trong kinh đều có thể đọc lại như thế, và ông lần lượt đọc lại mỗi câu.

Từng câu của kinh được đọc lại cho đúng nghĩa

Câu "Bất thuyết tông chỉ đản loạn truyền, khai khẩu mạc hô ngôn" có nghĩa là không nói về tông chỉ mà truyền dạy bậy bạ, mở miệng đừng nói xằng. Họ Tưởng không hiểu chữ "chỉ" trong văn của Dương công: ý ông là khi truyền dạy người thì trước hết phải nói về "tông chi"; không hiểu rõ "tông chi" thì không thể khởi phụ mẫu, hiểu được thì khởi được phụ mẫu. Lời ấy đơn giản mà rõ, nhưng sau khi họ Tưởng chú thì trở nên rối rắm.

Câu "Ngũ hành vị trung xuất nhất vị, tử tế bí trung bí" tạm hiểu là: trong ngũ hành xuất hiện một hành, cần thận trọng xét kỹ những ẩn áo bên trong. Chữ "bí" ở đây là tiên sư cảnh giới các địa sư khi điểm huyệt không được sơ sót. Họ Tưởng lại cho là có điều bí mật phải giữ kín, hoàn toàn trái nghĩa với toàn bản văn.

Câu "Thế nhân bất thức thiên cơ bí, tiết phá hữu hà ích" là Dương công nói về các tà thuyết đang hoành hành thời bấy giờ, người đời không hiểu quái lý đã lâu. Khi tiên sư được Khưu công chân truyền bí quyết thì muốn truyền lại cho đời, nhưng hận không ai hiểu ông, chỉ có họ Tăng là hiểu, nên mới thốt lời than ấy. Còn họ Tưởng khi chú giải "Thiên bảo" lại làm trái những điều cảnh giới của tiên sư, khiến tạo vật oán giận, và người chuốc lấy tai họa không phải ít.

Ông còn có một chứng cứ nữa: e rằng "Đô thiên bảo chiếu" không phải do Dương công trước tác mà do hậu nhân ghi chép thành sách. Mở ra đọc kỹ thấy có câu "Diệu quyết của Dương công chẳng nhiều lời, chữ nào cũng thực là truyền gia". Trong thiên hạ làm gì có người trước tác nào tự xưng mình là "công", tiếng tôn xưng tương đương "ngài"? Rõ ràng đó là do các đệ tử viết, và đúng là lời truyền gia, không chữ nào dối trá, không như bọn thuật sĩ giang hồ khoác lác gạt người. Trong sách còn có câu "Diệu quyết của Dương công chẳng nhiều lời, do thấy Hoàng công tâm tính chậm chạp". Hoàng công là Hoàng Diệu Ưng, quân sư của Chu Ôn thời Ngũ Đại, đệ tử của Dương công; không lý nào thầy gọi trò là "công". Vì vậy không còn nghi ngờ gì nữa: sách ấy do các đệ tử của Dương công viết. Vì tâm tính Diệu Ưng chậm chạp nên Dương công truyền phép bài bố tinh bàn ngay trên bàn tay cho dễ học; như thế sao gọi là nghiêm khắc giữ bí mật được?

Phần luận về đáo sơn đáo hướng và thướng sơn há thủy trong sách tuy giản lược nhưng rõ ràng. Đoạn "Người đương thời không biết bí quyết Huyền Cơ" là vì sợ người sau hiểu lầm bí quyết Huyền Cơ, chỉ dùng đáo sơn đáo hướng mà không biết thướng sơn há thủy có lúc cũng dùng được; văn đặc biệt nêu chuyện "không" hay "thực" của long mạch rất rõ. Đó là phép "huyền chi hựu huyền". Tiết "Diệu quyết Huyền Cơ có căn do, phải tìm kỹ ở núi non" là giải thích về thành môn của các quẻ. Câu "Diệu quyết Huyền Cơ vốn biến đổi khác nhau, nhưng chỉ cần thông hiểu một quẻ là nắm vững toàn bộ" cùng nghĩa với câu "Kiền sơn Kiền hướng thủy lưu Kiền, Kiền phong xuất trạng nguyên" trong "Thiên ngọc"; nói "Kiền sơn, Kiền hướng, Kiền thủy, Kiền phong" là nói cách vận dụng bí quyết thiên cơ.

Còn câu nói bí quyết "Bảo chiếu" của Quân Tùng, tuy cha con thân thuộc cũng không dám khinh suất nói ra, chỉ là lời tán tụng của các đệ tử, và cũng để tự khoe rằng bí quyết này rất khó truyền thụ. Tiết "Người bình thường không hiểu sự huyền diệu của thiên cơ, cứ lầm sơn long với bí quyết điên đảo" nói về công dụng của phi tinh và ai tinh, tức bí quyết điên đảo. Từ đó thấy rằng Dương công và các đệ tử khi nói thiên cơ là nói một loại tâm pháp, chứ không phải nói thiên cơ không thể tiết lộ. Họ Tưởng không hiểu lý lẽ ấy, cứ giải mơ hồ, từ đó các môn các phái thi nhau giữ bí truyền để mưu sinh, khiến thiên hạ đại loạn.

Vì vậy ông không ngại nhọc nhằn, hễ gặp người là nói lý pháp để dẫn vào đường đúng; đó cũng là bất đắc dĩ, chỉ sợ người người điểm huyệt sai lầm mà hại cho đời không nhỏ. Ông mong từ đây về sau người bạn đừng khuyên ông phải nghiêm giữ bí mật.

Người bạn ấy không bị thuyết phục ngay, và lời đáp của ông ta nêu lên một nỗi lo khác.

Nỗi lo của người bạn và ngọn đèn giữa đêm tối

Thái Yên Sinh đáp rằng ở nơi xa ông không lúc nào không trông ngóng bạn cũ, chợt nhận được thư thì mừng ngoài mong đợi; tâm tính bạn ngay thẳng đôn hậu, người đời khó tìm. Có điều ông vẫn không thể không lo ngại. Chẳng phải vì Đỗ Lăng, tức Tưởng Đại Hồng, chỉ muốn một mình biết bí quyết Huyền Không; mà việc truyền cho người không thể không thận trọng, nên mới biện biệt ngụy thuyết tường tận như thế. Sợ rằng truyền sai người sẽ biến thành huyễn thuật của bọn thuật sĩ giang hồ gạt người, cho nên mới thận trọng như vậy. Nay bạn không kín miệng, mang ra truyền khắp, e rằng bọn giả danh ngày càng đông, khiến chính pháp của Dương công càng thêm u tối; điều này không thể không suy nghĩ.

Thẩm Trúc Nhưng lại trả lời rằng người bạn làm việc nghiêm cẩn, e rằng lo hơi thái quá. Ngày nay trong số người tay cầm la bàn, người ngay thật ít mà thuật sĩ giang hồ nhiều, người bình thường tin theo họ khá đông. Gặp người chỉ biết một hai điều thì không phạm ra khỏi quẻ cũng phạm âm dương lẫn lộn, hoặc nếu biết thướng sơn há thủy thì lại phạm phản ngâm phục ngâm. Nếu những điều uyên áo này không luận cho rõ thì họ sẽ dùng bàn Tam Hợp mà táng cho người, vạn nhất sai lầm thì làm sao cứu. Trong ngàn người có ý thức điều này chỉ được một hai, nếu ông không nói thì chân lý của Dương công chẳng phải u tối lại càng u tối. Ông dẫn Trang Tử: "Có ánh sáng của nhật nguyệt thì đèn đóm phải tắt". Lâu nay trong đêm tối người ta mới dùng tới đèn đóm, nay đã có chút ánh sáng, chẳng lẽ đêm tối kéo dài mãi được sao?

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia