Bài tổng quan
Kim khẩu quyết điên đảo, phép hoán chuyển và lẽ phụ mẫu tử tức
Có một khúc khẩu quyết mười câu mà tám chín nhà chú giải đều đoán sai, chỉ vì chẳng ai chịu thử bay sao theo chiều ngược. Lật bàn vận Năm ra, từng con vật trong lời quyết bỗng ngồi đúng chỗ của mình. Còn cha mẹ và con cái trong hai mươi bốn sơn, ai kiêm được ai, ai không…
Hai màu đen trắng ngầm chứa Khảm Nhất và Khôn Nhị
Người mới học hình đồ Tử Bạch thường hỏi nên đọc từ đâu. Thẩm Trúc Nhưng chỉ về một câu của Lão Tử, lấy từ một cổ thư y học: biết cái trắng mà giữ lấy cái đen. Hai chữ Bạch và Hắc ấy đã ôm sẵn Khảm Nhất và Khôn Nhị, nghĩa là chín sao vốn nằm ngay trong câu nói tưởng như chỉ bàn chuyện sáng tối.
Một thiên cổ thư khác viết rằng vòng hoàng đạo quay về cửa Kiền, và khi khí thần sát tới thì sinh khí tự bày bố, tức màu vàng cùng số Năm ngự ở trung cung. Kiền làm "thiên môn" là điều quá rõ, và câu ấy còn giúp ta thấm cái lý vận hành của tinh tú. Vì vậy những người tu luyện nội đan lấy vòng hoàng đạo làm con đường đi lại. Muôn vật hóa sinh đều nhờ sức của Mậu Kỷ, bởi Mậu Kỷ là vật báu của vòng hoàng đạo. Có vòng hoàng đạo mà thiếu Mậu Kỷ thì dương chỉ làm dương, âm chỉ làm âm, cô quạnh lẻ loi, vạn vật làm sao trường sinh.
Cách xếp Nhị Cửu Tứ, Thất Ngũ Tam, Lục Nhất Bát
Viên Hương Khê thắc mắc về thuyết minh đường của Đại Đới Lễ, vốn bày số theo thứ tự Nhị Cửu Tứ, Thất Ngũ Tam, Lục Nhất Bát: số nào nhập trung cung, và như vậy có phải sai lắm không? Câu đáp: số của trung cung là Năm. Ba hàng số ấy là chữ nghĩa không thể đọc sai, và khi viết lên giấy chúng tạo thành chính hình vuông Lạc Thư.
| 2 | 9 | 4 |
| 7 | 5 | 3 |
| 6 | 1 | 8 |
Tiếp đó có người hỏi thuyết "Tử Bạch" có đủ đạo lý để theo hay không. Thẩm Trúc Nhưng dẫn thiên "Kỷ Quân Khí" trong "Việt Tuyệt Thư ngoại truyện", nơi có một cách tính ngày tháng lành dữ cho việc dụng binh. Toàn bộ ý của đoạn ấy là chia mười hai tháng thành bốn nhóm theo tam hợp:
- Tháng một, năm, chín (Dần, Ngọ, Tuất) thuộc hỏa cuộc: xuất binh hướng tây (kim) thì tốt vì hỏa khắc kim; hướng đông (mộc, sinh hỏa) thì bại, mất ở phương đông.
- Tháng hai, sáu, mười (Mão, Mùi, Hợi) thuộc mộc cuộc: hướng nam (hỏa) tốt vì mộc sinh hỏa; hướng bắc (thủy, sinh mộc) thì bại, mất ở phương bắc.
- Tháng ba, bảy, mười một (Thìn, Thân, Tý) thuộc thủy cuộc: hướng đông (mộc) tốt vì thủy sinh mộc; hướng tây (kim, sinh thủy) thì bại, mất ở phương tây.
- Tháng bốn, tám, mười hai (Tỵ, Dậu, Sửu) thuộc kim cuộc: hướng bắc (thủy) tốt vì kim sinh thủy; hướng nam (hỏa, khắc kim) thì hung, mất ở phương nam.
Điều đáng nhớ là các số từ một tới mười hai ở đây đều là số tháng. Người đọc còn có thể suy ngược ra rằng không chỉ tháng, mà ngày cũng có thể có Tử Bạch, và thuyết miếu đường cũng từng được Tôn Tử nhắc tới. Bạch Hạc Minh giải thích thêm: ngày cũng dùng địa chi để suy, ba cuộc mộc, kim, thủy còn lại cứ theo cách của hỏa cuộc mà làm.
Kim khẩu quyết: chỉ cần hai chữ "điên đảo"
Có người đem chuyện mình đọc ra hỏi: bài Kim khẩu quyết của Tăng Mạc Giảng viết "nhất nguyên Tử Ngọ Cửu" rất khó hiểu, Thái Mân Sơn, Chu Tiểu Hạc, Châu Mai Lương mỗi người chú một cách, không biết nên theo ai. Thẩm Trúc Nhưng đáp rằng đó chính là nghịch bàn của vận Năm. Sách Dịch nói âm dương giao thác biến hóa vạn lần rất huyền diệu, mà muốn nói hết lẽ ấy chỉ cần hai chữ "điên đảo". Ông chê có đến tám chín nhà chú giải khẩu quyết này mà chẳng lời nào đúng, vì họ không rành Dịch lý, càng chú càng rối.
Cách đọc là lấy hình đồ vận Năm bay nghịch ra xem. Ngũ Hoàng vào giữa, Tốn là cửa đất, nên sao bay nghịch khởi từ Tốn; Kiền là cửa trời, nên sao bay thuận khởi từ Kiền. Từng cặp câu được giải như sau:
- "Lục khí Tốn phong phiến, Tứ thông Kiền thỉ vị" (khí Sáu của Tốn là cái quạt gió, Bốn thông với vị trí Kiền là con heo): Tốn là Tứ Lục, thuộc Thìn Tỵ, và Tốn là gió. Kiền là Lục Bạch, thuộc Tuất Hợi, Hợi là con heo. Hai chỗ Kiền và Tốn chẳng phải thông giữa Bốn và Sáu sao?
- "Thất đương Giáp Ất tâm, Tam cư kim Dậu chân" (Bảy ở giữa Giáp Ất, Ba ở Dậu kim): Mão là Tam Bích nằm giữa Giáp và Ất; Dậu là Thất Xích nằm giữa Canh và Tân.
- "Bát tắc Khôn viên động, Nhị trị Cấn ngưu bức" (Tám là Khôn con khỉ hiếu động, Hai là Cấn cỗ xe trâu): Khôn là Nhị Hắc thuộc Mùi Thân, Thân là con khỉ; Cấn là Bát Bạch thuộc Sửu Dần, Sửu là con trâu.
- "Nhất nguyên Tử Ngọ Cửu, Cửu cư Tham Lang luân" (Nhất nguyên màu tía là Ngọ Cửu, Cửu ở bánh xe Tham Lang): Nhâm Tý là Tham Lang, Bính Ngọ Đinh là sao Hữu Bật. Hai chỗ Tý Ngọ ứng đúng chỗ Nhất và Cửu.
Riêng câu "Tân Hợi hứa đồng luân" (Tân Hợi cùng một loại) từ xưa có nhiều nghi vấn: có người cho là chép lầm, có người cứ để nguyên mà giải gượng, đều không ổn. Nhưng nếu vận Năm đi nghịch thì Tam tới Dậu, Tứ tới Kiền, và Bốn với Ba xuyên suốt thì chẳng phải là cùng một loại hay sao.
Thái Mân Sơn đọc sách không nhiều, tự ý chú xằng chẳng hiểu gì Dịch lý. Bộ "Địa Học Tâm Truyền" có mười hai loại, bản khắc đầu đời Minh cũng chép khẩu quyết này nhưng khác với bản đang lưu hành. Đây là bài Kim khẩu quyết bản tiếp nối:
Nhất nguyên Tử Ngọ Cửu, Cửu cư Tham Lang luân;
Bát tắc Khôn viên động, Thất đương Giáp Ất tâm;
Lục khí Tốn phong phiến, trung Ngũ định Liêm Trinh;
Tứ thông Kiền thỉ vị, Tam tại kim Dậu chân;
Nhị trị Cấn ngưu bức, Tân Hợi hứa đồng luân.
Tắc Tiên bình thêm: khẩu quyết này khó, phải nghiền ngẫm mới thấu, đúng là báu vật của người xưa. Lời của Thẩm Trúc Nhưng là lấy hình đồ vận Năm bay nghịch mà nói ra điều xưa nay vẫn bị giữ kín. Ông kể thêm rằng khi tới Đường Hựu thấy bí bản, ông mới hiểu đúng cách xếp Ngũ Hoàng: Nhất Bạch vào giữa thì Ngũ Hoàng ở cung Ly Cửu; Cửu Tử vào giữa thì Ngũ Hoàng ở cung Khảm Nhất. Hiểu vậy thì rõ thuyết ông truyền lại là bất hủ, và phương vị linh thần cũng hợp lý theo.
Đoạn bàn việc binh, và phép hoán đổi vị trí tìm linh thần
Bạch Hạc Minh nói lại đoạn dụng binh bằng một ví dụ: tháng một, năm, chín thuộc hỏa cuộc, đem quân hướng tây thì khắc được địch nên cát; hướng đông là phương sinh hỏa, tức địch mạnh hơn ta, nên đại hung. Ngày cũng suy theo kiểu ấy.
Về bài khẩu quyết, chữ "chuyển dịch" nghĩa là khí thông nhau, hoán chuyển vị trí cho nhau. Trên hình Lạc Thư, sau khi đổi chỗ sẽ ra một hình khác: Nhất của Khảm bay sang Ly đối diện; Cửu của Ly bay sang Khảm; Tam của Chấn bay sang Đoài; Thất của Đoài bay sang Chấn; Tứ của Tốn bay sang Kiền; Lục của Kiền bay sang Tốn; Bát của Cấn bay sang Khôn; Nhị của Khôn bay sang Cấn.
Số mới ở mỗi cung sau khi đổi chính là vị trí của linh thần. Ví dụ phương Chấn vốn là Tam, hoán chuyển thành Thất; ở vận 3 thì Thất là phương linh thần, nên linh thần nằm ở phương Đoài. Lại như vận 7 (từ năm 1984 đến 2003), Thất ở phương Đoài, sau hoán chuyển phương Đoài hóa thành Tam, Tam ứng phương Chấn, vậy linh thần nằm ở phương Chấn. Phép hoán chuyển vị trí là nguyên tắc của Huyền Không đại quái, liên quan trực tiếp tới việc nghiên cứu linh thần, và cũng bắt nguồn từ tiên thiên bát quái, với khẩu quyết:
Thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thủy hỏa bất tương xạ.
Câu đầu là vị trí quẻ tiên thiên, câu sau là vị trí quẻ hậu thiên.
Phụ mẫu và tử tức: cùng một quẻ nhưng không đổi vai
Lời kinh nói phụ mẫu âm dương và tử tức phải tìm cho kỹ. Ý là con không thể kiêm cha mẹ, địa không thể kiêm thiên; thiên và nhân tuy có thể kiêm nhau, nhưng giữa phụ mẫu và tử tức vẫn có chỗ khác.
Tám chữ Tý, Ngọ, Mão, Dậu và Kiền, Khôn, Cấn, Tốn khởi ở phía tây; trong số đó đi theo từng nhóm bốn chữ sang bên trái là Nhâm, Sửu, Giáp, Thìn, Bính, Mùi, Canh, Tuất. Cũng tám chữ phụ mẫu ấy đi sang bên phải thì kèm theo Quý, Hợi, Tân, Thân, Đinh, Tỵ, Ất, Dần, cũng theo bốn chữ một. Giáp, Canh, Nhâm, Bính, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đi nghịch với Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Kiền, Khôn, Cấn, Tốn, nên tử tức không đồng hành được với phụ mẫu. Chỉ có Ất, Tân, Đinh, Quý, Dần, Thân, Tỵ, Hợi đi thuận cùng phụ mẫu, nên mới đồng hành được.
Vậy nên tử tức nghịch là quẻ địa nguyên, tử tức thuận là quẻ nhân nguyên; thuận nghịch khác nhau nên mới có chỗ kiêm được và chỗ không kiêm được. Tý kiêm được Quý nhưng không kiêm được Nhâm, các quẻ khác cũng thế. Phụ mẫu kiêm được tử tức, còn tử tức thì không nên kiêm phụ mẫu.
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là quẻ địa nguyên, không thể nhập lẫn vào quẻ nhân nguyên để dùng. Nhưng nếu sơn hướng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mà nước đến từ Kiền, Khôn, Cấn, Tốn thì dùng được, vì Kiền, Khôn, Cấn, Tốn vừa là phụ mẫu của chúng vừa là phu phụ cùng nhà. Một quẻ thiên nguyên chứa ba quẻ dụng nên kiêm dùng được quẻ nhân và quẻ địa, còn Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì không kiêm dùng được. Giáp, Canh, Nhâm, Bính là phụ mẫu mà không kiêm nổi nghịch tử; chỉ nghịch tử mới kiêm phụ mẫu.
Chí Y dẫn Ôn Minh Viễn để giải thích thêm bằng quẻ Khảm: hào giữa quẻ Khảm là phụ mẫu, hai hào biên Nhâm Quý là tử tức, nên hai hào biên của quẻ Khôn và quẻ Chấn là huynh đệ của tử tức. Sơn đến hay thủy đến đều phải cùng một khí âm dương với phụ mẫu, thuần nhất, không pha tạp. Mạch long của sơn phải lấy chủ sơn nhập vào đầu mối làm phụ mẫu, còn các sao tám phương làm tử tức. Mạch của thủy long cũng vậy: dòng nước lớn duy nhất chiếu vào huyệt hữu tình làm phụ mẫu, còn ngòi rạch nhỏ ở tám phương làm tử tức. Nếu Tý Ngọ kiêm hướng Quý Đinh thì trong quẻ Khôn Chấn còn phải thu cả hào của tử tức Thân Ất, mà không được lẫn khí của quẻ địa nguyên Mùi Giáp. Đường nước tuy nhiều nhưng phải gom lại thành khí nhất nguyên tam cát, và trong ba điều tốt ấy phải phân định cho rõ ba quẻ thiên địa nhân thuần nhất. Pha vào một khí âm hay dương khác thì ngũ hành Huyền Không của sơn thủy trong nguyên quái chẳng những không sinh được mà còn bị khắc chế.
Tắc Tiên nhắc rằng khi lập hướng kiêm hay không kiêm, kiêm tả hay kiêm hữu, phải xem thế sông núi có ứng với hạ quái không, có bổ cứu được cho khởi tinh không, và có hợp thời đắc lệnh với cuộc sinh vượng không. Thẩm công coi trọng việc phụ mẫu kiêm thuận tử, lấy đó làm nguyên tắc lập luận, và dặn người sau phải đề phòng điều sai lầm là phụ mẫu kiêm nghịch tử. Một cổ thư viết: hai quẻ Kiền Khôn là mẹ, sáu quẻ còn lại là con, đó là mẹ con của tám quẻ; mỗi quẻ tự làm mẹ thì ba hào là con, đó là mẹ con trong một quẻ. Mẹ con là một chuyện, lập hướng là chuyện khác: phàm lập hướng thì quý ở chỗ tinh thuần, chẳng riêng địa nguyên long mà thiên nguyên và nhân nguyên cũng không được pha tạp. Nếu chính hướng chưa đắc vượng tinh thì dùng cách thay thế, hoặc chuyển thành cuộc "tam cát ngũ cát", đó là cách bổ cứu cho hướng. Điều cốt lõi vẫn là hình thể và lý khí gặp nhau cho khớp.
Một câu trong Bảo Chiếu kinh nói thêm: xuất phát từ chữ Tý thì tìm ở chữ Tý, chớ sai mà tìm ở Sửu và Nhâm. Ba sơn Nhâm Tý Quý thuộc cung Khảm: Nhâm là địa, Tý là thiên, Quý là nhân. Tý và Quý cùng âm nên từ mạch Tý chuyển sang Quý được; chuyển sang Nhâm thì sai lẫn âm dương. Cùng trong một quẻ mà lẫn âm dương còn không được, huống chi là ra khỏi quái như Sửu.
Bạch Hạc Minh nhắc lại ba nguyên đại quái, mỗi nguyên nạp tám sơn, bốn âm bốn dương: thiên nguyên là quẻ phụ mẫu; thuận tử là nhân nguyên bố theo chiều kim đồng hồ; nghịch tử là địa nguyên bố ngược chiều kim đồng hồ. Ở phương Khảm, Tý nằm giữa là thiên nguyên (phụ mẫu), Quý là thuận tử, Nhâm là nghịch tử.
Hai câu của Thiên Ngọc kinh được giải như sau. Câu "Giang đông nhất quái tòng lai cát, bát thần tứ cá nhất": "bát thần" là tám sơn, "tứ cá" là bốn âm hoặc bốn dương, "nhất" là địa nguyên quái, gồm Giáp, Canh, Nhâm, Bính và Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Tám sơn ấy không nên kiêm lẫn: kiêm thuận thì phạm "âm sai dương thác", kiêm nghịch thì ra ngoài quái hướng. Giang đông chỉ việc đi thuận, như Tý là phụ mẫu thì hướng đông là Quý. Câu "Giang tây nhất quái bài long vị, bát thần tứ cá nhị" chỉ rằng thiên nguyên và nhân nguyên đồng nhất âm dương, nên thiên nguyên kiêm được nhân nguyên và ngược lại.
Học cho kỹ phụ mẫu tử tức, và biết tuyến vị nào kiêm được, tuyến vị nào không. Tóm lại, lập hướng nhất định phải ở lúc đương vượng; hạ quái không đương vượng thì dùng phép khởi tinh; không nữa thì lấy cuộc "tam cát ngũ cát" cũng đẹp.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
