Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Địa vận dài ngắn, nhập tù, đả kiếp và lẽ chọn đất táng

Đạo Học - Đạo Gia08/10/202611 phút đọc0 lượt đọc
Địa vận dài ngắn, nhập tù, đả kiếp và lẽ chọn đất táng

Bốn vận, mỗi vận hai mươi năm, cộng lại là tám mươi năm: đó là tuổi thọ của cuộc Tý Ngọ, và đến lúc sao Ngũ vào trung cung thì hướng đã lập cũng hết thời. Nhà nhập tù thì đinh tài đều suy, nhưng một dòng sông lớn trước cửa có thể mở xiềng ấy. Còn muốn địa vận kéo dài hàng nghìn năm thì phải là chốn đóng đô…


Một ngôi nhà dựng đúng vào vận một, ngoảnh về hướng Ngọ, tưởng chừng sẽ vượng mãi. Nhưng đến khi con số Ngũ rời hướng để vào ngồi giữa nhà, cái hướng ấy đã hết thời hạn của nó, dù mái ngói vẫn còn nguyên. Mỗi thế đất có một đồng hồ riêng, và đồng hồ ấy chạy theo những quy luật rất cụ thể.

Địa vận dài ngắn do hướng tinh ở trung cung quyết định

Mỗi cặp trong hai mươi bốn sơn hướng đều gắn với một hướng tinh riêng, và độ dài của địa vận tính từ lúc hướng tinh ấy bay vào trung cung. Lấy cặp sơn Tý hướng Ngọ làm mẫu: vận một có sao Nhất Bạch nhập trung cung và hướng tinh là Ngũ; bốn vận một, hai, ba, bốn, mỗi vận hai mươi năm, cộng lại thành tám mươi năm. Bởi vậy, cuộc Tý Ngọ dù khởi ở vận nào cũng chỉ có địa vận tám mươi năm.

Khi xây nhà, lập sơn định hướng, dù đó là vượng sơn vượng hướng hay thượng sơn hạ thủy, tác dụng của thế đất chỉ nằm trong giới hạn địa vận ấy. Qua khỏi giới hạn, hướng tinh theo thời gian mà vào trung cung, và hướng đã lập mất hết hiệu lực. Ví dụ lập sơn Tý hướng Ngọ ở vận một, hướng tinh là Ngũ; đến vận năm, hướng tinh Ngũ vào trung cung, hướng ban đầu không còn nghĩa lý gì nữa. Cổ nhân gọi tình cảnh ấy là vô hướng khả hướng, nghĩa là không còn hướng nào để chọn làm hướng.

Hướng tinh nhập tù và những cách thoát tù

Nhà mà hướng tinh nhập tù thì đinh lẫn tài đều suy, khó bề cứu vãn. Tuy vậy, nếu bên ngoài có hình thế Loan Đầu đẹp thì dù nhập tù vẫn không suy bại. Chẳng hạn ở phương lập hướng có sông hồ lớn, hoặc con đường trước cửa rộng thênh thang, uốn lượn hữu tình, thì dù hướng tinh theo vận mà vào ngục cũng không giam hãm nổi. Cách cuộc Loan Đầu tốt đẹp đủ sức giữ cho ngôi nhà tiếp tục vượng.

Còn một trường hợp khác là vượng hướng được lập vào lúc vận năm, sao Ngũ Hoàng nhập trung cung. Hướng ấy đòi hỏi Ngũ phải là phi tinh của chính hướng. Ngũ Hoàng thuộc thổ, ngự ở trung ương, uy nghiêm tôn quý bậc nhất, nên không bị coi là nhập tù. Trường hợp này chỉ ứng nghiệm trong thời gian vận năm, và gồm các cặp sơn hướng sau, mỗi cặp đều có hướng tinh là phi tinh Ngũ:

  • Sơn Tý hướng Ngọ và sơn Quý hướng Đinh;
  • Sơn Đinh hướng Quý;
  • Sơn Tuất hướng Thìn và sơn Thìn hướng Tuất;
  • Sơn Sửu hướng Mùi và sơn Mùi hướng Sửu;
  • Sơn Mão hướng Dậu và sơn Dậu hướng Mão;
  • Sơn Ất hướng Tân và sơn Tân hướng Ất.

Địa vận tiểu tam nguyên và đại tam nguyên

Trong các cặp sơn hướng ấy, địa vận dài nhất là 160 năm, ngắn nhất là 20 năm; hai số cộng lại thành 180 năm. Phái Huyền Không gọi quãng ấy là địa vận tiểu tam nguyên.

Nếu địa mạch kéo dài liên miên, khí thế bao la hùng vĩ, trong tám phương có đủ hai cung thành môn tả hữu, lại thêm toàn cuộc hợp thập, thì địa vận có thể kéo dài đến 540 năm, thậm chí 1080 năm. Kinh đô của các triều đại phần nhiều thuộc loại này. Phái Huyền Không gọi đó là địa vận đại tam nguyên.

Nhà ở thông thường chỉ dựng trên một khoảnh đất nhỏ, vượng được chừng một trăm năm đã là rất tốt. Muốn địa vận dài lâu, đất phải có địa mạch kéo dài liên miên, nước chảy về tụ hội hữu tình. Cảnh quanh hùng vĩ rộng lớn như thế thường chỉ có ở chốn kinh thành đô hội, không phải nơi một cá nhân chiếm giữ được. Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu đều có địa mạch dài phía sau, còn phía trước là chỗ sông biển giao nhau, gọi là tam thoa thủy, cho nên địa vận dài lâu và có thể hưng vượng hàng nghìn năm.

Đả kiếp cung Ly và cung Khảm khi nhập tù

Có một cách cuộc nữa: địa vận tuy nhập tù, nhưng ở hướng có song tinh, tức cuộc há thủy, thì dùng phép đả kiếp cung Ly và cung Khảm, và khi ấy thời hạn nhập tù được tính theo cách khác. Phương pháp này lấy hướng tinh của quẻ sơn đối chiếu với sao lập cực, là ngôi sao nằm ở trung cung, để định. Mỗi dòng ghi một cặp sơn hướng bị nhập tù ở vận nào, và vận ấy nên hay không nên tu sửa.

Trong vận một

  • Sơn Tý hướng Ngọ, và sơn Quý hướng Đinh cũng vậy: nhập tù ở vận 9; vận 9 không nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Thìn hướng Tuất: nhập tù ở vận 3; vận 3 nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Canh hướng Giáp: nhập tù ở vận 6; vận 6 nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Mão hướng Dậu, và sơn Ất hướng Tân cũng vậy: nhập tù ở vận 5; vận 5 nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Kiền hướng Tốn, và sơn Hợi hướng Tỵ cũng vậy: nhập tù ở vận 8; vận 8 nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Bính hướng Nhâm: phạm phản ngâm phục ngâm, không dùng được.

Trong vận hai

  • Sơn Nhâm hướng Bính: nhập tù ở vận 1; vận 1 không nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Dậu hướng Mão, và sơn Tân hướng Ất cũng vậy: nhập tù ở vận 7; vận 7 nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Ngọ hướng Tý, và sơn Đinh hướng Quý cũng vậy: nhập tù ở vận 3; vận 3 không nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Giáp hướng Canh: nhập tù ở vận 6; vận 6 nên tu tạo sửa đổi.

Trong vận ba

  • Sơn Tý hướng Ngọ, và sơn Quý hướng Đinh cũng vậy: nhập tù ở vận 2; vận 2 không nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Bính hướng Nhâm: nhập tù ở vận 4; vận 4 không nên tu tạo sửa đổi.

Trong vận bốn

  • Sơn Nhâm hướng Bính: nhập tù ở vận 3; vận 3 không nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Thìn hướng Tuất: nhập tù ở vận 6; vận 6 có thể tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Ngọ hướng Tý, và sơn Đinh hướng Quý cũng vậy: nhập tù ở vận 5; vận 5 tu tạo sửa đổi có lợi.
  • Sơn Kiền hướng Tốn, và sơn Hợi hướng Tỵ cũng vậy: phạm phản ngâm phục ngâm, không dùng được.

Trong vận sáu

  • Sơn Tý hướng Ngọ, và sơn Quý hướng Đinh cũng vậy: nhập tù ở vận 5; vận 5 tu tạo sửa đổi có lợi.
  • Sơn Tốn hướng Kiền, và sơn Tỵ hướng Hợi cũng vậy: phạm phản ngâm phục ngâm, không dùng được.
  • Sơn Tuất hướng Thìn: nhập tù ở vận 4; vận 4 có thể tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Bính hướng Nhâm: nhập tù ở vận 7; vận 7 không nên tu tạo sửa đổi.

Trong vận bảy

  • Sơn Nhâm hướng Bính: nhập tù ở vận 6; vận 6 không nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Ngọ hướng Tý, và sơn Đinh hướng Quý cũng vậy: nhập tù ở vận 8; vận 8 không nên tu tạo sửa đổi.

Trong vận tám

  • Sơn Tý hướng Ngọ, và sơn Quý hướng Đinh cũng vậy: nhập tù ở vận 7; vận 7 không nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Canh hướng Giáp: nhập tù ở vận 4; vận 4 nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Mão hướng Dậu, và sơn Ất hướng Tân cũng vậy: nhập tù ở vận 3; vận 3 nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Bính hướng Nhâm: nhập tù ở vận 9; vận 9 không nên tu tạo sửa đổi.

Trong vận chín

  • Sơn Nhâm hướng Bính: phạm phản ngâm phục ngâm, không dùng được.
  • Sơn Tốn hướng Kiền, và sơn Tỵ hướng Hợi cũng vậy: nhập tù ở vận 2; vận 2 nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Dậu hướng Mão, và sơn Tân hướng Ất cũng vậy: nhập tù ở vận 5; vận 5 nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Ngọ hướng Tý, và sơn Đinh hướng Quý cũng vậy: nhập tù ở vận 1; vận 1 không nên tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Tuất hướng Thìn: nhập tù ở vận 7; vận 7 có thể tu tạo sửa đổi.
  • Sơn Giáp hướng Canh: nhập tù ở vận 4; vận 4 có thể tu tạo sửa đổi.

Chôn cất cha mẹ là việc lớn, nên phải biết địa lý

Giang Vu Sinh mở đầu bằng những lời xưa về chuyện an táng. Thầy Tử Tư dạy rằng người thân mất thì ba ngày làm lễ liệm, ba tháng làm lễ táng, và khi liệm chôn cần có lòng thành tín mới khỏi hối tiếc về sau. Sách Tả Truyện ghi lệ cũ: thiên tử bảy tháng mới táng, chư hầu năm tháng, đại phu ba tháng, kẻ sĩ hơn một tháng. Kinh Lễ giảng rằng chữ táng nghĩa là cất giấu, vì muốn cho người đời không còn trông thấy nữa.

Phận làm con không thể không biết Địa Lý.

Cố Đình Lâm nhận xét rằng thuở xưa chuyện chôn cất cho thỏa đáng vốn chưa có, đến đời Kiến An rồi lan rộng tới đời Vĩnh Gia thì mới bất đắc dĩ phải dừng lại; theo quy chế Ngụy Tấn, người chưa chôn cất ông bà cha thì không được phục chức quan. Tư Mã Ôn Công viết rằng cái quý của con người là có con cháu đưa hình hài mình về lòng đất sau này. Ai Liễu Phàm viết rằng cha mẹ sinh con là thân làm trâu ngựa, không một ngày nhàn rỗi; khi mất mà con để thây bỏ nơi khe rạch, xương cốt mục nát chẳng ai giữ gìn, thì làm con nghĩ đến đó, một ngày chưa chôn cha mẹ sao yên lòng được.

Nguyên nhân chưa chôn được có thể là thiếu tiền của. Nhưng chôn cất còn phải chọn đất cho kỹ. Hiếu Kinh có câu:

Bốc kỳ trạch triệu nhi an thố chi.

Họ Trịnh chú giải rằng trạch là mộ huyệt, triệu là hình thế của cuộc đất; câu ấy nói về việc chọn đất để yên táng. Thế đủ biết người xưa đối với việc chọn đất táng ắt có đạo lý của họ.

Táng người thân là đại sự, không thể giao vào tay những địa sư bất học vô thuật; Giang Vu Sinh cho rằng địa sư ngày nay phần lớn dùng lý thuyết Tam Hợp, và người theo Tam Hợp đều bị ngụy thuyết trói buộc mà không được chân truyền. Vậy người thành tâm tìm cầu Loan Đầu Lý Khí đúng phép, thể dụng đều đủ, phải làm thế nào?

Sách Loan Đầu như Táng Kinh, Hám Kinh, Nghi Long Kinh, Sơn Dương Chỉ Thuật thì ai đọc cũng hiểu. Nhưng sách giảng Khí Lý theo lý thuyết Huyền Không chỉ có Địa Lý Biện Chính của Tưởng Đại Hồng cùng hai bản chú giải là Chương Trọng Sơn Trực Giải và Ôn Minh Viễn Tục Giải, mà các bản ấy đều chủ trương thiên cơ bất khả tiết lậu, giữ kín bí quyết chân truyền, không công bố rộng rãi. Vì thế đọc sách họ Tưởng thường không có cửa để vào; chọn huyệt tuy đắc thế nhưng lại không hợp thiên tâm, tức không đúng thời, táng xong thì hao tài tốn đinh. Lỗi này rất thường gặp.

Giang Vu Sinh kể rằng mùa đông năm Nhâm Tuất, ông may mắn đọc được bản chú giải sách Trọng Sơn Trạch Đoán của Thẩm Trúc Nhưng ở Tiền Đường. Nghiên cứu nửa năm ông mới thấu hiểu phép khởi tinh, và mọi điều nghi nan trong sách họ Tưởng đều sáng ra. Tháng chín năm Giáp Tý, ông bốc một cuộc đất sơn Thân hướng Dần để táng song thân; đến nay song thân được an vị, lòng ông cũng yên ổn. Ông tin rằng người con nào trong thiên hạ nghĩ đến việc an táng song thân cũng mong được như vậy.

Những sai lầm của người trước trong việc giữ kín bí mật đã được Thẩm Trúc Nhưng phân tích tường tận. Về sau con của ông là Điệt Dân thu thập và biên tập thành sách Thẩm Thị Huyền Không Học khi ông còn tại thế. Gốc của sách họ Thẩm là lấy Hà Đồ và Lạc Thư dung hợp với tinh hoa của phái Tam Hợp; cát hung của sơn hướng đều tùy thời mà biến đổi, nên không rõ Dịch lý và lý thuyết tinh bàn thì không thể hiểu được.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia