Bài tổng quan
Nhìn rồng kết huyệt ở đầu, ở eo lưng hay ở đuôi
Có rồng đi ngàn dặm mới dừng, có rồng mới đi mười dặm đã kết; có huyệt kết ở ngực, có huyệt kết ở eo lưng, có huyệt kết ở đuôi. Người xem đất phải tìm không phải ngọn núi cao nhất, mà là chỗ rồng chịu dừng lại. Nhận ra chỗ ấy bằng cách nào?
Mục lục · 5 phần
Thấy một ngọn núi nhô lên thì gọi nó là rồng, thấy một chỗ lõm trên núi thì gọi nó là huyệt: nếu nhìn như vậy, mỗi quả núi đều thành rồng, mỗi chỗ lõm đều thành huyệt, và rồng chẳng khác gì con giun đất. Người xưa đòi hỏi một cách nhìn khó hơn nhiều: nhìn rồng thì phải thấy chỗ bắt đầu, nhìn huyệt thì phải thấy chỗ dừng. Rồng nào đi ngàn dặm mới dừng, rồng nào chỉ cần mười dặm đã kết?
Phong thủy lấy sinh khí làm chủ, lấy long và huyệt làm nền
Phong thủy địa lý lấy sinh khí làm chủ, lấy long huyệt làm nền tảng, lấy sa và nước làm bổ trợ. Xem phong thủy chính là quan sát sự thuận ứng và nghịch phản của núi và nước, khí cứng rắn và khí nhu hòa của âm và dương, lý phân ly và hội hợp của tụ và tán.
Phong thủy tốt là địa mạch thoạt tiên cao vượt lên, hướng đi hoạt bát như rồng, nhấp nhô không ngừng, đứt đoạn rồi lại nối liền. Địa mạch hiện ra ở giữa, xung quanh có sa trướng trùng trùng; sa trướng có gần có xa, có nghênh có tống, có trần, có hộ vệ. Khi hiệp cốc xuất hiện, tất cả đều thu giữ địa khí, tựa như lưng ong và gối hạc; có nơi tạo thế cử đỉnh, có chỗ tạo hình giáp hộ; nơi giao tiếp của địa mạch không bị đứt đoạn. Khi gió thổi qua hai bên hiệp cốc thì địa mạch lại như hai bên mạn thuyền song song mà ra. Nơi đỉnh và hai bên của địa mạch sáng sủa, lại cùng tương ứng với tinh thần, tựa hồ sắp có Long, Hổ giáng xuống chốn này. Triều sơn ở xa thì đẹp đẽ muôn hình vạn trạng. Minh đường rộng rãi bằng phẳng, thủy khẩu giao kết, uốn lượn bao quanh, bốn phương tám hướng không có chỗ nào khuyết hãm.
Địa mạch hạ xuống kết huyệt ở nơi này, khí âm dương phân biệt rồi lại tiếp nhau; chỗ cao chỗ thấp, lồi lõm rõ ràng; địa hình hai bên như hai cánh tay giang rộng, phía trên phân ra, phía dưới hợp lại; địa thế tròn và nhọn cùng đối ứng với thiên quan, địa quỷ. Nước trong nước ngoài đều ôm ấp bao quanh, núi trong núi ngoài cùng quây quần tụ hội. Nơi nào được như vậy thì xem là đại phú đại quý của phong thủy.
Luận về long: can long không kết huyệt, phải hóa thành chi long
Cái cây to lớn nhất cũng không kết trái ở thân, mà ở cành; rồng cũng vậy.
Long trong phong thủy có can, có chi; có chi trong can, lại có can trong chi. Vì vậy các nhà địa lý khi bàn về long thường nói là "tìm can", nhưng họ lại không biết long của chủ can vốn không kết huyệt, mà phải biến thành phân chi mới kết huyệt được. Điều này cũng giống như một cây chỉ kết quả nơi cành mà không kết quả nơi thân. Muốn kết huyệt, long phải tự lột xác, hóa già thành trẻ, từ can thô biến ra chi thanh. Dù long chủ can có kết thành cát địa nơi thành đô, cũng cần từ trên cao giáng xuống đất bằng, qua thoát thai đổi lốt, giấu ấn tinh thần, cuối cùng lại do sơn địa mà kết huyệt.
Khi long chủ can sắp phân thành chi, cần bỏ hết lầu các điện đường mà lập ra một đường riêng cho mình, cần có Thái Tổ sơn, Thiếu Tổ sơn, Phụ Mẫu sơn cùng các tiểu trướng sơn nổi lên; đó chính là sự xuất hiện của chi long. Nếu địa mạch của chi long phân ra từ tiểu trướng sơn thì đó là chính chi của can long; nếu phân ra từ góc núi của tiểu trướng sơn thì đó là bàng chi của can long. Chính chi xuất hiện là Trung Long chính huyệt; bàng chi xuất hiện là Tòng Long hộ triền. Sơn phụ trợ hai bên Trung Long nhất định phải cao hơn Trung Long mới coi là giáp tòng.
Cũng có khi hai long mạch đồng thời dừng núi ở hai bên làm phụ trợ. Khi hai long mạch này sắp hình thành cục thế, nhất quyết phải có một long mạch cao vượt lên, một long mạch nằm phục xuống; như vậy gọi là thư hùng tương ứng. Lại có trường hợp bàng chi cũng kết huyệt được; khi ấy cần mở ra một cục thế khác, có sơn thủy hộ vệ tùy tòng khác, như thế mới thành cát địa, nhưng địa lực của nó yếu hơn hẳn chính chi kết huyệt.
Ba dạng rồng: cao lũng, bình cương, bình chi
Long có hình dáng cao vút gọi là Cao Lũng; có trạng thái hành tiến chậm rãi gọi là Bình Cương; có long tản lạc trên mặt đất gọi là Bình Chi. Cao Lũng thì nhấp nhô lên xuống, trạng thái hiển lộ rõ ràng. Bình Cương thì nhấp nhô ít, đi một bước dừng một bước. Bình Chi thì nối tiếp liền liền, hầu như không trông rõ sự lên xuống nhấp nhô. Long thế của Cao Lũng phần lớn hùng tráng, khí thế cương mãnh. Long thế của Bình Cương thì hòa hoãn nhu nhược, không cần khai trướng xuyên hiệp, chỉ cần có chút nhấp nhô là đủ. Long thế của Bình Chi vì địa thế tản mác nên hình tích không rõ, khó thấy, nhưng quan sát kỹ vẫn thấy được trạng thái của nó; cách khai trướng và hành tiến của nó cũng tương tự Cao Lũng, chỉ có địa thế là khác.
Long kết huyệt ở đầu gọi là Thiếu Long. Cổ ngữ nói: sơ long đều kết huyệt tại ngực. Long kết huyệt ở eo lưng gọi là Trung Long. Cổ ngữ nói: hảo long đều kết huyệt tại eo lưng, dư chi của nó chính là nơi thành quận. Long kết huyệt ở đuôi gọi là Tận Long. Cổ ngữ nói: địa thế tương ứng, chạy thẳng tới tận cùng, long và nước đều đến nơi tận cùng ấy mới là long mạch chân chính.
Chương Bối Lai nói: chân long đi từ bên xế mà lật xuống thì gọi là Hoành Long; nếu quay thân mình thì gọi là Hồi Long; kết huyệt ở chỗ cao thì gọi là Phi Long; hạ xuống đất bằng thì gọi là Tiềm Long. Thể dáng của rồng đều tùy hình dạng di chuyển của long mạch, sự tụ tán của hình thế địa mạo, sự phân hợp của núi nước, của âm dương mà quyết định.
Long cao lũng và long bình cương hiện ra như bình phong, như màn trướng; khi hành tiến thì như nhe nanh múa vuốt, tạo thanh thế; khi qua hiệp thì nhất định có dáng tiền nghênh hậu tống; khi sắp nhập thủ thì nhất định thắt lại ở yết hầu, đồn tụ chân khí; khi sắp kết huyệt thì nhất định tạo sơn cái, sơn đỉnh. Bên ngoài có nước chảy theo dòng, bên trong có nước phân giới huyệt vị. Nơi kết huyệt tất có minh đường đại cục, bốn phía tất có lan can che chắn, thế mới là chân long.
Rồng trên đất bằng, rồng qua sông, rồng xuyên ruộng
Long ở đất bằng, tức long bình chi, có hình thái và khí độ cũng gần giống long ở núi; khác nhau chỉ ở chỗ tinh thần tương ứng trên núi cao thì hình thế dựng đứng, còn tinh thần tương ứng dưới đất bằng thì hình thế dàn trải. Cách quan sát long ở đất bằng là tìm hình thế tản mát, lúc ẩn lúc hiện của nó, lấy nước phân giới hai phía đông tây làm long, lấy thước tấc đo sự biến hóa cao thấp là được. Đất Thiểm, Biện, Tề, Lỗ là loại đất bằng phương Bắc; đất Tô, Tùng, Gia, Hồ là loại đất bằng phương Nam. Loại đất bằng phương Bắc phần nhiều vì khai khẩn mà mất hình thế núi, phải nhận ra mũi và miệng của núi mới được. Loại đất bằng phương Nam do khơi thông đường nước mà làm đứt địa mạch, nên phải truy ngược lên nguồn gốc của nó mới được.
Long còn có loại vượt qua sông, xuyên qua ruộng đồng rồi mới nhô lên, tiến tới mà kết huyệt, tạo nên đất quý về phong thủy. Thế núi của long đến bờ sông thì mất hút, thực ra nó đang vượt qua sông; có đá ngầm nhô đầu lên trong nước, đến bờ sông đối diện lại nhô hẳn lên một khối đá, ngoài ra không thấy vết tích đâu nữa. Như thế gọi là long mạch quá thủy. Còn long mạch xuyên điền nghĩa là hai quả núi bị ngăn cách hẳn với nhau, không rõ lai lịch, nhưng trên ruộng đồng nằm giữa hai quả núi thấy có địa mạch hơi nhô lên như sống trâu, hoặc có khối đá khô nhô lên giữa màu xanh của lúa.
Sở dĩ gọi núi là rồng vì rồng biến hóa khó lường, tinh thần của rồng chẳng phải phàm tục, khí thế của rồng không chút tầm thường. Núi lấy sự nhấp nhô lên xuống làm đốt xương, lấy sự phân bố làm răng và móng vuốt, lấy đầm nước làm đồ ăn thức uống, nên gọi núi là rồng. Ngày nay người chưa biết can chi của núi, không thấy tông tích của núi, thấy một ngọn núi nhô lên thì gọi nó là rồng, thấy chỗ núi lõm xuống thì gọi nó là huyệt. Nếu nói như vậy thì mỗi quả núi đều biến thành rồng, mỗi chỗ lõm trên núi đều biến thành huyệt, và rồng khác gì con giun đất? Cho nên không biết rồng thì làm sao biết huyệt? Muốn học phong thủy địa lý, kiến thức nhập môn là phải nhận biết về rồng.
Luận về huyệt: xem rồng thì nhìn chỗ khởi, xem huyệt thì nhìn chỗ dừng
Cùng một con rồng, người nhìn đầu và người nhìn đuôi thấy hai cảnh khác nhau.
Cách quan sát huyệt là phải hiểu rõ mạch lạc của rồng. Long và huyệt chỉ khác nhau ở chỗ: xem long thì phải nhìn khởi thế của nó, còn xem huyệt thì phải thấy rõ chỗ dừng cuối cùng của nó. Có khi long mạch vận hành hàng ngàn dặm, hàng trăm dặm lộ trình mới kết huyệt; có khi vận hành năm sáu chục dặm vẫn chưa kết; lại có khi mới vận hành một hai chục dặm đã kết huyệt. Long mạch kết huyệt tuy dài ngắn, lớn nhỏ khác nhau, nhưng chỉ cần có dừng, có tụ, có phân có hợp, có bốn phía vây bọc thì đều sẽ kết huyệt; chỉ khác là huyệt ấy tạo nên phúc phận lớn hay nhỏ mà thôi.
Khi long mạch sắp đến chỗ kết huyệt, sẽ đột nhiên xuất hiện sơn phong tương ứng với tinh thần giữa các ngọn núi cao ngang nhau; nếu đột nhiên có một ngọn núi nhỏ độc nhất thì tiểu sơn phong ấy là cao quý. Giữa các ngọn núi thấp ngang nhau, đột nhiên có độc nhất một ngọn núi cao thì đại sơn phong ấy là tôn quý. Long mạch kết huyệt dài ngắn, cao thấp cũng cùng một nguyên lý ấy.
Long kết huyệt có hai trường hợp: thuận và nghịch với thế nước đang chạy. Thuận nước hành long thì kết huyệt cần phải nghịch nước, và ngược lại. Cũng có trường hợp thuận: nước hành long lại thuận nước kết huyệt, khi ấy nơi kết huyệt cần có sa phong và nước ôm ấp bao bọc. Lại có nghịch nước hành long mà nghịch nước kết huyệt thì cần phải có núi và nước tiến ra ở phía trước.
Nơi long nhập thủ cao mà núi lại thấp, núi bên dưới dựng đứng, dọc ngang tán loạn, thì chân khí của long nhất định tụ ở bên trên; ở giữa có hình tượng Long Hổ hoặc oa kiềm, núi hai bên cao vút hộ vệ, nước uốn khúc bao bọc; có như vậy mới kết được Thiên huyệt. Nếu nơi long nhập thủ thấp mà núi cao, chân khí nhất định ngưng tụ ở phía dưới, hai bên Long Hổ cúi thấp, sơn thủy xung quanh cũng rời rạc; như vậy thì có thể kết Địa huyệt. Nếu nơi nhập thủ, núi không cao cũng không thấp, đường đường chính chính lại phóng khoáng, chân khí ắt tụ tập ở phần giữa, núi xung quanh không tản mác cũng không bao bọc, nước chảy không chậm cũng không nhanh; như vậy có thể kết Nhân huyệt. Ba loại huyệt này đều do trạng thái của nó mà quyết định, hoàn toàn không thể có một ngọn núi kết được cả ba loại huyệt như các nhà địa lý ngày nay vẫn thường nói.
Thiên huyệt được gọi là Cái, Địa huyệt là Niêm, Nhân huyệt là Chàng. Nếu huyệt kết ở hai bên tả hữu thì gọi là Ỷ. Nếu hai bên là Long sơn dài mà Hổ sơn ngắn, huyệt ắt kết ở bên tả mà nghênh sang bên hữu, và ngược lại. Nếu Long sơn đến trước thì uy thế của Long giảm đi mà uy thế của Hổ tăng thêm, và ngược lại. Nếu địa mạch ra từ bên phải thì cần kết huyệt bên trái; nếu địa mạch ra từ bên trái thì huyệt kết ở bên phải.
Chính diện của núi thuận hành mà mặt sau lại nghiêng lệch gấp khúc thì kết huyệt ở nơi lõm hãm; mặt sau của núi ngay ngắn mà chính diện lại nghiêng ngả thì kết huyệt ở trên cao. Nếu kết huyệt lệch về bên trái hoặc bên phải thì loại huyệt này gọi là Tiên cung; nếu quay về tổ sơn, tông sơn mà kết huyệt thì gọi là Hồi Long. Hổ sơn bao bọc Long sơn gọi là Thư tựu hùng huyệt; Long sơn bao bọc Hổ sơn gọi là Hùng tựu thư huyệt. Nếu long mạch ẩn hiện ở bên tả mà vai tả lại hình thành Phụ Bật thì huyệt có thể dựa vào Tả Phụ mà kết; nếu long giáng xuống ở bên hữu mà Phụ Bật lại hình thành ở vai hữu thì huyệt có thể nương tựa vào Hữu Bật mà kết.
Trong lòng huyệt, địa hình dựng đứng hiểm trở thì bên ngoài sẽ bằng phẳng ngay ngắn; phần phía trên quá cao thì bộ phận bên dưới sẽ ẩn tàng. Địa mạch nếu uốn lượn ngoằn ngoèo như rắn thì nên chọn lấy một đoạn để ứng nghiệm; nếu lằng nhằng đan xen như mây song thì nên chọn chỗ thắt kết mà ẩn tàng. Chỗ tận kết của chính long, nếu bốn bề hội tụ mà không thiên lệch, thì lấy chỗ chung kết của mạch. Chỗ yêu kết, tức kết ở eo lưng, của quá long, nếu bốn bề thấp mà không liên tục thì chọn chỗ ẩn phục của mạch. Muốn tìm một huyệt vị tốt, ắt phải ngẩng lên khảo sát trên đầu xem có tú lệ hay không, xem hai bên vai như thế nào, rồi cúi xuống thẩm xét lộ tuyến của địa mạch có đứt đoạn hay không.
Chân khí của địa mạch luân lưu chuyển độ, một sáng một tối, hợp lại ở phía trước huyệt thì gọi là thư hùng giao tương chuyển độ. Nếu sự chuyển độ ấy chỉ có hợp mà không có phân thì mạch khí đến là giả; nếu chỉ có phân mà không có hợp thì mạch khí ấy chưa rõ khi nào mới dừng tụ. Do vậy việc kết huyệt tất phải trên ứng với kim, dưới ứng với thủy, giữa ứng với thổ, hai bên tả hữu ứng với mộc. Chỗ tốt nhất có tam phân tam hợp, chỗ tốt vừa có nhị phân nhị hợp, chỗ kém có nhất phân nhất hợp. Nếu không có phân hợp thì không thể gọi là huyệt vị.
Huyệt hình thành ở phía trên có hình dạng oa, tức lõm, hoặc kiềm, tức như cây kìm, thì chân khí phát ra ngoài là dương, giống như cặp vú của nữ hoặc sinh thực khí của nam; chân khí hàm chứa ở bên trong là âm. Nhưng ở dạng lõm của thư, tức mái, giống cái, phải có chỗ nhô cao lên như dương vật của hùng, tức trống, giống đực; như thế gọi là dương lai âm thụ. Ở địa hình nhô lên ắt phải có chỗ lõm xuống; như thế gọi là âm lai dương thụ. Địa mạch gấp gáp thì huyệt hình thành ắt phải có chỗ hòa hoãn; địa mạch hòa hoãn thì huyệt hình thành ắt phải có chỗ gấp gáp. Nếu huyệt hoàn toàn là âm hoặc hoàn toàn là dương, đơn thuần là thư hoặc đơn thuần là hùng thì không thể thụ thai.
Phàm huyệt do âm mạch tạo thành sẽ có hình dạng trên nhỏ dưới lớn, cửa ra tròn rộng; phàm huyệt do dương mạch tạo thành sẽ có hình dạng trên lớn dưới nhỏ, cửa ra tương đối nhọn hẹp. Các huyệt vị ấy đều phải có hình dáng âm dương tương hợp thật cụ thể. Tuyệt đối không thể khai tạo huyệt vị trên đồi trọc hoặc nơi đất hoang đá bằng những cách kém văn minh.
Khi tìm huyệt ở nơi địa hình bằng phẳng, tất phải quan sát kỹ xem có chỗ nào hơi nhô cao một chút, xem hai bên có vết tích nước chảy thành rãnh thấp xuống hay không, dưới rãnh có hình chiếc kìm hơi nhô cao một chút hay không; đó là tìm loại huyệt vị ở gần chân khí. Khi tìm huyệt ở nơi có nước, hãy tìm chỗ mặt đất có hai dòng nước sắp giao hội với nhau hoặc có một dòng chảy vòng quanh, tìm lấy một mảnh đất dù chỉ cao lên một thước hay một tấc có thể làm minh đường, rồi xem có sa phong hộ vệ và nước phân giới địa mạch hay chăng; đó là tìm huyệt vị ở gần nước.
Ruộng đồng bằng phẳng thật ra cũng có độ chênh, mảnh này thấp hơn mảnh khác một chút, cứ thế thấp dần. Nếu đặt một chiếc bè trúc, nước sẽ đưa chiếc bè trôi dần tới chỗ kết huyệt, bởi ruộng ở phía trước sẽ như những chiếc răng trâu mới mọc. Như thế gọi là huyệt vị bình dương. Tóm lại, ở nơi địa mạo bình dương phải kết huyệt ở nơi có khí thế quần tụ, chứ không thể cắm huyệt ở bất cứ chỗ nào vô phân vô hợp, tuy nhô cao nhưng cô độc hiển lộ. Vậy là phải có nhãn lực, cước lực và suy tính kỹ mới mong tìm đúng chân huyệt.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
