Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Kim tiên luận chứng: gió thổi lửa, cực tĩnh sinh động

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/20267 phút đọc4 lượt đọc
Kim tiên luận chứng: gió thổi lửa, cực tĩnh sinh động

Muốn lửa bốc lên phải có gió, nhưng ở đây gió không thổi từ ngoài vào mà từ hơi thở của chính người luyện. Liễu Hoa Dương dành riêng một thiên cho chuyện gió và lửa ấy. Lửa là gì, gió là gì, và vì sao ông bảo không tĩnh thì thần không linh?


Mười hai thiên xoay quanh tiểu chu thiên

Kim tiên luận chứng là bộ kinh đạo đan của Liễu Hoa Dương đời Thanh, người từng ngộ triệt để công phu tiểu chu thiên. Vì thế mọi điều ông nêu đều lấy tiểu chu thiên làm trung tâm, đi qua luyện kỷ, dược vật, đỉnh khí, giao nghiệm, nhiệm đốc nhị mạch, cả thảy mười hai thiên. Ai muốn tìm hiểu tiểu chu thiên của đạo đan đều cần đọc đến nó. Thiên hay nhất trong bộ, chuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của hỏa hầu, là Phong hỏa kinh.

Lửa là ý niệm, gió là hơi thở

Nghe như chuyện của người thợ rèn, nhưng chiếc bễ trong thiên này nằm ở lồng ngực.

Phong hỏa kinh mở đầu bằng một câu gọn: việc tu luyện hoàn toàn chỉ nhờ phong hỏa. “Hỏa” là ý niệm khi luyện đan, cùng hơi thở dưới sự chi phối của nó. “Phong” là khí hậu thiên, tức sự hít vào thở ra khi luyện nội đan, gọi là dị phong. Nói cách khác, bí quyết của hỏa hầu là cách ý và hơi thở phối hợp nhau. Liễu Hoa Dương nêu bốn điểm then chốt.

Điểm một là “cổ động dị phong, phiến khai hỏa diệm”: quạt gió cho ngọn lửa bùng lên. Dẫn lời Ngũ Xung Hư, ông nói nguyên khí cần nghịch tu, hơi thở cũng phải đổi chiều, vì người đời chỉ biết xuất mà không biết nhập. Hơi thở phải sâu thì cho sâu, tự mình cảm được khí đi vào; khi dồn thần thì cảm được khí vào tận khí huyệt. Như lời Trang Tử nói, hơi thở của bậc chân nhân thật sâu.

Điểm hai là coi khí ở đan điền như chiếc bễ. Đây là nguồn gió của đan gia, phải dẫn động cho khéo. Dẫn lời Thê Vân tiên sinh, ông chép rằng chỉ cần dùng hơi thở tự nhiên ở đan điền thổi vào ngọn lửa trong đó, thủy ở trên, hỏa ở dưới; thủy gặp hỏa thì hóa thành khí, khí bay lên hun đúc, thấu vào các khiếu, đi qua các mạch, nhờ ngọn lửa thần hỏa luyện mà tinh thần tự nhiên trong sạch. Nghĩa là biết dẫn khí đan điền thổi vào chân hỏa thì tự luyện được âm hóa thành khí.

Điểm ba nói về thời gian hít thở. Khi nguyên tinh mới sinh, còn ở trạng thái hư, phải lập tức tức phong. Từ lúc ban đầu còn trống không để đợi nguyên tinh sinh, dùng thần hỏa mà hóa, gọi là tức phong, rồi lấy đó chế ra thuốc: ấy là phép luyện đan.

Điểm bốn nói về cảnh tượng khi sinh hỏa, tức cảm giác lúc dương khí mới khởi lên mà rất khó nắm. Liễu Hoa Dương ghi lại điều chính ông đã trải: ánh sáng âm dương biến hóa, khí trời đất như quay tròn, người tu thấy đói, ngứa râm ran khắp các khiếu, thân mềm như bông, lòng hoảng hốt bàng hoàng. Tử Dương chân nhân nói đó là dấu thuốc sinh.

Cực tĩnh mới sinh động

Càng đi sâu vào lửa, ông càng nhắc người ta chớ quên nền của mọi ngọn lửa: sự tĩnh lặng.

Trong những kiến giải về tiểu chu thiên của Liễu Hoa Dương, quan hệ động tĩnh là độc đáo nhất. Ông cho rằng trong đạo kim đan phải “từ động mà nhập vào tĩnh”, và nói rõ nếu không tĩnh thì thần không linh, mà khi ấy cái gọi là khí cũng không có thật. Ông viết: chỉ có tĩnh mới luyện được; không tĩnh thì nhận thức tạp, rốt cuộc phản lại đạo. Đan hỏng, khí rò rỉ, đạo không thành, đều do chưa đạt được cái tĩnh. Ông bổ sung rằng cái “động” ở đây không phải động của tâm, mà là động vô cớ, tự nhiên mà không chủ ý. Rồi ông chỉ ra nhịp của nó: vận động xong lại trở về tĩnh, tĩnh rồi lại sinh vận động, cứ thế tuần hoàn không dứt.

Về thuốc, ông trải nghiệm rằng thần có tĩnh thì thuốc mới sinh. Muốn có thuốc thật, thần phải tĩnh; hư vô sinh ra. Khi khí chạm vào cái hư thì thấy động và biết nó đang động, rồi không kinh không sợ; động xong lại lắng, gọi là “phục giác”; lúc đó mới có thuốc. Như vậy thuốc làm ra được hay không là do động tĩnh của thần, tức tâm niệm.

Ông còn nói rằng lúc sinh thuốc và lúc hái thuốc thì “động tĩnh vô tướng”. Vô tướng theo Đạo gia là hư vô, theo nhà Phật là chân không. Vì thế, lúc ấy có cảnh như động mà là không động, như biết mà là không biết. “Giác” là biết, “bất giác” là mê, không biết; khí ở thời điểm ấy như đang thành hình, biết được thì gọi là giác. Ông trích câu “phong luân kích động sản chân duyên, đô chân tĩnh cực hoàn sinh động”, nghĩa là thuốc sinh ra từ quá trình tự tĩnh đến cực tĩnh mà sinh động. Kim tiên luận chứng gọi động sinh trong tĩnh là nguyên tinh, tức dương khí do tĩnh mà phát động. Tĩnh là nguyên khí, động là nguyên tinh, nên mối quan hệ giữa động tĩnh với việc sinh nguyên tinh là chỗ ông nhấn mạnh.

Thuốc, lò, lửa và hai mạch

Cuối cùng, bộ kinh đi qua từng vật dụng của một xưởng luyện đặt trong thân người.

Về dược vật của tiểu chu thiên, ông viết gốc của thuốc là nguyên tinh hay nguyên khí, cái khí ấy ẩn ở khí huyệt đan điền và lặng, nhưng vẫn thay đổi theo tác động từ bên ngoài. Thuốc có tĩnh là nguyên khí, có động là sự đổi thay của nguyên tinh; nên hái thuốc luyện đan phải theo thời cơ: nắm chắc lúc biến hóa, hồi quang phản chiếu, ngưng thần nhập khí huyệt thì khí theo thần trở về. Tĩnh sinh động, tĩnh là thần, động là khí; vậy nói “khi chạm cái hư, động mà biết” chính là thời cơ biến thành thuốc.

Về đỉnh khí, ông nhấn mạnh lò đỉnh nằm ngay trong thân: thần và khí hun đúc nhau mà thành lư đỉnh. Đường luyện đan chân chính phải đi từ trong thân mình: thần là hỏa, khí là lò, tinh thần con người là ngọn lửa và khí là cái lò hun đúc ngọn lửa ấy. Quan điểm “càn khôn là đỉnh khí” rất tích cực.

Về hỏa hầu, bộ kinh bàn theo Phong hỏa kinh, nêu lối: hoặc thể hiện ở hỏa mà giấu kín phong, hoặc thể hiện ở phong mà giấu kín hỏa. Cả thiên trình bày đầy đủ bí quyết “phong hỏa hóa tinh”.

Về nhiệm đốc, hai mạch này là hai đường chính để luyện công vận thuốc của tiểu chu thiên, nhưng mỗi người mô tả đường đi một khác, phần đông theo học thuyết kinh lạc của y học cổ truyền. Nhiệm mạch và đốc mạch cùng khởi từ vùng hội âm, rồi chia hai ngả đi lên theo mặt trước và mặt sau của thân. Nhiệm mạch qua bụng, ngực, yết hầu, mặt rồi dừng ở dưới mắt; đốc mạch đi dọc cột sống, qua phong phủ vào não, lên đỉnh đầu, vòng trán, xuống sống mũi. Liễu Hoa Dương dựa vào kinh nghiệm luyện công của bản thân, cho rằng nói đốc mạch ở ngoài cột sống, nhiệm mạch dừng ở hai môi, đều là quan niệm sai của y học thế tục. Ông tự vẽ một lược đồ đường đi của nhiệm đốc và nói tiên gia nói về nhiệm đốc là đã chứng nghiệm ngay trong thân, đã biết được cái diệu của kim đan thần khí.

Nội đan trong Kim tiên luận chứng có nhiều ý riêng, nhất là phần tiểu chu thiên, nơi ông kết hợp kinh nghiệm bản thân để đưa ra những nhận định hay, đáng để tâm xem xét.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện