Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Trang Châu mộng hóa bướm và cái du của tâm không cần chờ đợi

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Trang Châu mộng hóa bướm và cái du của tâm không cần chờ đợi

Con chim bằng bay chín vạn dặm vẫn phải đợi gió, người cưỡi gió đi mười lăm ngày vẫn còn phải nhờ gió. Trang Châu hỏi: vậy bao giờ mới là tự do thật? Câu trả lời của ông nằm trong một giấc mộng, nơi không còn biết mình là người hay bướm…


Trang Tử là kinh điển quan trọng của Đạo gia. Tư tưởng triết học trong đó là dòng chủ đạo của triết học Lão – Trang, được xem như đại diện của chủ nghĩa duy tâm chủ quan và của tư tưởng tương đối luận thời cổ đại Trung Quốc. Đó là một tác phẩm triết học rất đặc sắc, vừa là khuôn mẫu của Đạo gia, vừa là công trình quý giá của triết học Trung Hoa. Tuy nhiên, Trang Tử cũng được nhận định là đã gạt bỏ cái nhìn tiêu cực của Lão Tử rồi đẩy nó thành thuyết bỏ đời đến cùng, phủ nhận văn minh nhân loại. Vì thế, về mặt quan điểm xã hội, học phái Lão – Trang cuối cùng đã rơi vào một nhân sinh quan tiêu cực.

Chim bằng, bướm và cá trong một bộ kinh điển

Trang Tử còn có tên là "Nam Hoa chân kinh", là tác phẩm của Trang Châu và các học trò ông ở thời Chiến Quốc. Theo Hán thư – Nghệ văn chí, sách gồm 52 thiên. Bản còn lại hiện nay là bản chú của Quách Tượng, gồm 33 thiên chia làm ba phần: bảy thiên Nội, mười lăm thiên Ngoại và mười một thiên Tạp. Căn cứ vào trình độ cao hơn của bảy thiên Nội, người ta cho rằng chúng do chính Trang Châu soạn. Các thiên Ngoại và Tạp có thể là học trò thuật lại tư tưởng của ông, cũng có thể do người đời sau kể lại.

Ba thiên "Đại tông sư", "Tề vật luận", "Tiêu dao du" trong phần Nội phản ánh nội dung chủ yếu của triết học Trang Tử. Ngoài ra, các thiên "Thiên hạ" và "Thu thủy" thể hiện tổng hợp tư tưởng xã hội và tư tưởng triết học của ông.

Trang Tử là một trong những cơ sở lý luận của huyền học Ngụy Tấn. Bản thể luận và vũ trụ quan hư vô, quan điểm chính trị lánh đời tiêu cực và triết học nhân sinh tiêu dao lãng mạn của sách này, cùng với Lão Tử, đã trở thành căn cứ lý luận chủ yếu của tư tưởng Đạo gia. Nó cũng là một tác phẩm văn học đồ sộ, ảnh hưởng sâu sắc đến dòng văn học lãng mạn của Trung Quốc. Trí tưởng tượng phong phú cùng thứ ngôn ngữ hài hòa, giàu hình ảnh của nó đã thúc đẩy quan trọng, nâng trình độ nghệ thuật ngôn ngữ của văn học Trung Hoa lên.

Về chú giải, bản Trang Tử chú của Quách Tượng đời Tấn có giá trị cao nhất, sau đó đến bản Trang Tử chú dịch của Lục Đức Minh và bản Trang Tử sớ của Thành Huyền Anh đời Đường.

Đạo ở trước cả trời đất, và chuyện ngồi mà quên

Cỗ xe lịch sử luôn đi về phía trước. Thời Chiến Quốc, cỗ xe của chế độ phong kiến đã xô đổ cỗ xe của chế độ nô lệ, và chế độ phong kiến mới nổi lên chiếm ưu thế. Trang Tử được xem là đại diện cho ý thức của tầng lớp quý tộc chủ nô: thấy ưu thế của chế độ cũ mất đi, họ sinh ra cực đoan, có thái độ chính trị tiêu cực, cuối cùng rơi vào chủ nghĩa hư vô. Dù vậy, Trang Tử đã đẩy triệt để tư tưởng triết học của Lão Tử theo con đường duy tâm, và vẫn có ảnh hưởng không nhỏ với triết học Trung Quốc cổ.

Trang Tử và Lão Tử đều lánh hiện thực chính trị để dốc tâm tìm hiểu bản thể vũ trụ. Việc Trang Tử trình bày bản thể của "đạo" tập trung nhất ở thiên "Đại tông sư". Ở đó có đoạn mô tả: đạo có tình, có tính, không làm gì cũng không có hình; có thể trao mà không thể nhận, có thể hiểu mà không thể thấy. Đạo tự là gốc của chính nó, khi chưa có trời đất đã có đạo. Đạo sinh ra quỷ, sinh ra vua, sinh ra trời đất. Nó ở trước thái cực mà chẳng gọi là cao, ở dưới cực sáu phương mà chẳng gọi là sâu, sinh trước trời đất mà chẳng gọi là lâu, dài hơn thượng cổ mà chẳng gọi là già.

Nói gọn lại, đạo vô vi vô hình là bản thể tuyệt đối của vũ trụ, sinh trước trời đất và tồn tại lâu dài, là cái sinh ra vạn vật mà bản thân không tự sinh, không tự diệt, sống mãi cùng thời gian và không gian, trong sự vĩnh hằng không thể già đi. Đó là cách sách này phản ánh đầy đủ bản thể vũ trụ theo chủ nghĩa duy tâm khách quan của Trang Tử, đồng thời nhấn mạnh đạo là thứ không có hình mà vẫn có thật. Quan điểm bản thể tuyệt đối này của Lão – Trang đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành huyền học đời Tống và lý học đời Minh.

Cũng trong thiên "Đại tông sư", cùng với việc bàn về đạo còn có nguyên tắc tu đạo nổi tiếng là "tọa vong", ngồi mà quên. Đoạn đối thoại như sau. Nhan Hồi nói: "Hồi thấy mình tiến thêm." Trọng Ni hỏi: "Nghĩa là sao?" – "Hồi quên nhân nghĩa." – "Được, nhưng chưa đủ." Hôm khác, Hồi lại nói: "Hồi tiến thêm." – "Nghĩa là sao?" – "Hồi quên lễ nhạc." – "Được, nhưng vẫn chưa đủ." Một hôm nữa Hồi bảo: "Hồi tiến thêm." – "Nghĩa là sao?" – "Hồi ngồi mà quên." Trọng Ni ngạc nhiên: "Ngồi mà quên là sao?" Nhan Hồi đáp: "Rã thân thể, bỏ thông minh, lìa hình, bỏ trí, cùng thông với đạo lớn. Ấy gọi là ngồi mà quên."

Trang Tử nhấn mạnh rằng "tọa vong" không chỉ là rèn luyện thân thể mà còn quan trọng trên mặt tư tưởng: bỏ nhân nghĩa, lễ nhạc, trốn khỏi xã hội, xóa đi đời sống văn minh trần thế. Đó là quan điểm xuất thế làm nền cho triết học nhân sinh của Đạo gia. Như vậy, việc bàn đạo và tu đạo trong thiên "Đại tông sư" lập nên hai quan điểm gốc của tư tưởng Lão – Trang: vũ trụ quan duy tâm khách quan và nhân sinh quan tiêu cực, xuất thế.

Tề vật luận: coi muôn vật như nhau

Tề vật luận của Trang Tử phát triển thêm tư tưởng "tề vật" của danh gia thời cổ. Trang Tử và Huệ Thi bên danh gia là bạn tri âm. Vì đứng trên lập trường của tầng lớp quý tộc chủ nô sa sút, nên ông có ác cảm với xã hội phong kiến mới hình thành mà không cứu vãn nổi thế cuộc, đành về mặt triết học phủ định nền văn minh mới ấy để tìm sự cân bằng và giải thoát trong tư tưởng.

Cụ thể ông đề xướng "tề vật": vạn vật trong thiên hạ đều như nhau. Giữa vật và ta, giữa có và không, giữa phải và không phải, giữa lớn và nhỏ, giàu và nghèo, cao và thấp, thậm chí giữa sống và chết, cũng không có khác biệt. Như thế là tuyệt đối hóa tính tương đối của sự vật, thực chất là xóa tính quy định về chất của chúng, đi vào con đường ngụy biện tương đối luận, và về nhận thức thì rơi vào thuyết bất khả tri. Quan điểm này thể hiện đầy đủ trong thiên "Tề vật luận", chẳng hạn đoạn nói không vật nào không là "kia", không vật nào không là "đây"; cho nên mới có chuyện nói sống rồi nói chết, nói chết rồi nói sống, nói được rồi nói không được, nói không được rồi nói được, nhân cái phải mà có cái quấy, nhân cái quấy mà có cái phải. Câu ấy phủ nhận giới hạn giữa sống và chết, phải và quấy, xóa sự đối lập và gạt bỏ sự khác biệt của sự vật.

Thiên này còn có giấc mộng hóa bướm nổi tiếng của Trang Châu: xưa Trang Châu mộng thấy mình là bướm, phơi phới như một con bướm thật, thích chí mà không biết có Châu. Chợt tỉnh thì lại là Châu. Không biết Châu mộng làm bướm hay bướm mộng làm Châu. Giữa Châu và bướm hẳn có sự phân biệt, nhưng đó gọi là "vật hóa". Chuyện mộng điệp thực chất nói rằng Châu có thể là bướm mà bướm cũng có thể là Châu, tức quan điểm tề vật: trời đất cùng sinh với ta, vạn vật cùng ta là một.

Khi sự vật trong nhận thức của Trang Tử không còn khác biệt, thì cạnh tranh và đối lập cũng nên bỏ đi, rồi mặc sức tiêu dao. Vì thế có thể nói "Tề vật luận" là nền lý luận của "Tiêu dao du", đồng thời là căn cứ để Đạo gia vượt qua sống – chết mà thành tiên.

Tiêu dao du: tự do tuyệt đối của tinh thần

Trang Châu là một người ở ẩn, đại diện cho tâm thế của tầng lớp ẩn sĩ. Vì bất mãn với hiện thực xã hội mà ông có quan điểm lánh đời tiêu cực, từ đó phát triển thành quan điểm "tiêu dao du", thể hiện đầy đủ trong thiên cùng tên.

Tầng cao nhất mà "tiêu dao du" nhắm tới là cái "du" của tâm chứ không phải cái "du" của thân. Cái du của thân còn phải có điều kiện, tức là "có chờ đợi". Con chim bằng bay vạn dặm cũng phải đợi gió tới, người cưỡi gió mà đi cũng phải dựa vào điều kiện mới du được, nên chưa đến được tiêu dao chân chính. Căn nguyên là còn "có bản thân", chưa thoát khỏi chỗ khác nhau giữa thân hình mình với trời đất.

Thiên này cho rằng chỉ khi thoát khỏi chỗ khác nhau giữa vật và ta mới tới được "vô đãi, vô kỷ", tức không cần đợi điều kiện nào. Chỉ có cái du của tâm mới không bị ràng buộc, tự do tự tại. Cái gọi là tiêu dao du chính là sự tự do tuyệt đối của tinh thần, và chỉ như thế mới "du đến chỗ vô cùng". Có đoạn tả chim bằng lúc bay qua biển Nam, cánh đập làm nước nổi lên ba nghìn dặm, nương gió xoáy mà cất lên chín vạn dặm; chim bằng vút lên chín vạn dặm là cưỡi trên lớp gió nằm dưới nó. Rồi chuyện Liệt Tử cưỡi gió mà đi, nhẹ nhàng khéo léo, mười lăm ngày mới về, sống trong chỗ phước lớn mà ít người như thế; tuy khỏi phải đi bộ, nhưng vẫn còn chỗ phải đợi. Nếu thuận cái chính của trời đất, nương cái biến của sáu khí mà rong chơi trong cõi vô cùng, thì còn phải đợi gì nữa.

Để đạt tới sự giải thoát tinh thần triệt để, thiên này còn nêu rằng muốn "vô kỷ" thật sự thì trong tư tưởng phải làm được "vô công", "vô danh": người chí đức vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh. Tức là xóa mọi mong cầu công danh, và như thế mới đạt tới tinh thần tiêu dao tuyệt đối. Tinh thần tuyệt đối tự do là chủ đề của "Tiêu dao du", cũng là bức tranh nhân sinh quan của Đạo gia.

Như vậy, ba thiên "Đại tông sư", "Tề vật luận", "Tiêu dao du" ở phần Nội gần như đã phản ánh phần cốt lõi của Trang Tử: vũ trụ quan, nhận thức luận và triết lý nhân sinh. Bốn thiên còn lại là "Dưỡng sinh chủ", "Nhân gian thế", "Đức sung phù", "Ứng đế vương" cũng đi tới cùng tôn chỉ với các thiên trên.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện