Bài tổng quan
Hán Dịch, Dịch vĩ, Tống Dịch và rừng sách chú giải Chu Dịch
Có hơn ba nghìn bộ sách mọc lên quanh một cuốn kinh bói cỏ thi. Mỗi triều đại đọc nó bằng một đôi mắt khác, người nhìn hình, người nhìn nghĩa, kẻ lại vẽ hẳn lên giấy...
Triều Hán dựng móng cho phái tượng số
Thời nào cũng chép lại Dịch, nhưng mỗi thời chép bằng một thứ mực khác.
Tác giả nhận xét rằng triều Hán là thời kỳ quan trọng của Dịch học, khi hàng loạt tác phẩm nổi tiếng ra đời. Có Chu Dịch chương cú của Mạnh Hỷ, Tiêu thị Dịch lâm của Tiêu Cán, Kinh thị Dịch truyện của Kinh Phòng, Chu Dịch chú của Tuân Sảng, Chu Dịch chú của Ngu Phiên, và nhiều bộ khác nữa, đều là những tác phẩm chủ đạo của Dịch học đời Hán. Chu dịch tham đồng khế của Ngụy Bá Dương và tám loại Kinh vĩ do Trịnh Huyền chú giải là những thành tựu lớn khác, tất cả gọi chung là Hán Dịch. Đặc điểm của Hán Dịch là dùng tượng để giải nghĩa, nên nó thuộc phái tượng số.
Dịch vĩ, chiếc cánh trái của Kinh
Thành tựu nổi bật trong nghiên cứu Chu Dịch thời này là chuỗi tác phẩm Dịch vĩ. Chữ vĩ có nghĩa là cánh trái của Kinh. Trong sáu kinh đều có vĩ, và vĩ của Kinh Dịch là Dịch vĩ, được soạn thành sách vào thời Tây Hán. Đó là tác phẩm nổi tiếng chuyên chú giải và khai thông Kinh Dịch, là bộ lông cánh của Kinh truyện, ảnh hưởng lớn đến Chu Dịch, đáng tiếc ngày nay đã thất lạc. Về sau Trịnh Huyền đời Đông Hán chú giải lại. Nội dung của bộ này thể hiện chủ yếu ở các tác phẩm Càn tạc độ, Càn khôn tạc độ, Khôn linh đồ, Kê lãm đồ, Càn nguyên tự chế kỷ, hai quyển Thông quái nghiệm và một quyển Biện chung bị. Trong số đó nổi tiếng nhất là Càn tạc độ, Càn khôn tạc độ, Hà đồ vĩ và Khôn linh đồ.
Dịch vĩ cũng thuộc phái tượng số, là lông cánh của Kinh Dịch, có một vị trí nhất định trong lịch sử Dịch học và lịch sử triết học. Lý luận âm dương trong đó có ảnh hưởng tương đối lớn đến y học Trung Hoa. Những bộ như Càn tạc độ, Càn khôn tạc độ, Khôn linh đồ được các nhà nghiên cứu xếp vào dực tả, một trong mười cánh của Kinh Dịch, khẳng định chỗ đứng của nó giữa muôn vàn sách về Dịch.
Tác giả giải thích rằng Thập dực chính là Dịch truyện soạn vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, gồm Thoán hai tập thượng hạ, Tượng hai tập thượng hạ, Văn ngôn, Hệ từ hai tập thượng hạ, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái, cộng thêm một số tác phẩm đời Đông Hán như Càn tạc độ, Càn khôn tạc độ, Khôn linh đồ. Ngoài Dịch vĩ, thời Hán còn có Kinh thị Dịch truyện ảnh hưởng mạnh đến Dịch học. Những cống hiến lớn của triều Hán, ông tóm lại, là loạt sách quý như Dịch vĩ do Trịnh Huyền chú, cùng Kinh thị Dịch truyện, Chu Dịch chương cú, Tiêu thị Dịch lâm, Chu Dịch chú, Chu dịch tham đồng khế của các nhà Dịch học nổi tiếng Kinh Phòng, Mạnh Hỷ, Tiêu Cán, Ngu Phiên, Tuân Sảng, Ngụy Bá Dương, đã gây tiếng vang lớn trong giới Dịch học.
Ngụy Tấn và Đường: nghĩa lý lên tiếng
Sau bao đời xem quẻ bằng hình, một người dám đọc quẻ bằng nghĩa.
Tác phẩm đóng góp quan trọng cho Dịch học thời Ngụy Tấn là Chu Dịch chú của nhà Dịch học lớn Vương Bật. Sách chọn hướng dịch nghĩa, có vai trò thúc đẩy quan trọng đối với sự phát triển của phái dịch lý. Vương Bật còn giữ lại những giá trị của thời Hán và quan điểm tượng số của Trịnh Huyền, đồng thời hợp Kinh và Truyện thành một tập sách, điều có tác dụng tích cực cho việc nghiên cứu Chu Dịch.
Dịch học đời Đường gọi là Đường Dịch. Ở thời kỳ này, Khổng Dĩnh Đạt tiếp nhận quan điểm dịch lý của Vương Bật, và tác phẩm của ông là Chu Dịch chính nghĩa. Cùng với Chu Dịch tập giải của Lý Đỉnh Tộ, những sách này tụ lại đầy đủ thành tựu của phái dịch lý, đưa phái ấy tiến thêm một bước. Ngoài ba thời kỳ đỉnh cao là Hán, Tống, Thanh, đời Đường cũng góp phần vào rừng Dịch với bảy mươi sáu nhà nghiên cứu, ghi trong Đường chí.
Tống Dịch: đồ hình, nghĩa lý và sự hòa hợp của Chu Hy
Khi chữ không nói hết, người đời Tống vẽ thêm đồ hình.
Triều Tống là thời kỳ quan trọng trong nghiên cứu Dịch học, một loạt tác phẩm nghiên cứu Chu Dịch xuất hiện rầm rộ và thúc đẩy mạnh việc nghiên cứu. Ngoài Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy, được xem là thành tựu quan trọng của việc nghiên cứu Chu Dịch trước đời Tống, còn có Dịch truyện của Trình Di, Ôn công Dịch thuyết của Tư Mã Quang, Dịch thuyết của Triệu Thiện Cử, Chu Dịch kinh truyện tập giải của Lâm Lật, Chu Dịch tường giải của Lý Khởi, Dịch học biện hoặc của Thiệu Bá Ôn, Dịch toàn cơ của Ngô Hàng, Chu Dịch ngoạn từ của Hạng An Thế, Dịch thông của Triệu Dĩ Phu, Dịch tượng ý ngôn của Thái Uyên, Chu Dịch yếu nghĩa của Ngụy Liễu Ông, Chu Dịch truyện nghĩa của Đổng Khải, Chu Dịch tượng nghĩa của Đinh Dịch Đông.
Tác phẩm Hoàng cực kinh thế của Thiệu Ung đời Tống tiếp nhận học thuật của đạo sĩ Trần Đoàn và có những phát triển mới. Thiệu Ung chú trọng đồ thuyết, học thuật về đồ số, và đưa ra tiên thiên đồ, tức đồ họa về thứ tự sáu mươi bốn quẻ. Dần dần, triều Bắc Tống nổi lên trào lưu dùng đồ họa để giải thích Dịch, chịu ảnh hưởng của Thiệu Ung. Về phía nghĩa lý, đại diện là Trình Di với Dịch truyện, một kiệt tác của Chu Dịch học. Còn Chu Dịch bản nghĩa của đại nho Chu Hy là sự phối hợp của phái dịch lý và phái tượng số, trở thành bộ sưu tập hoàn mỹ nhất về Dịch học đời Tống. Việc nghiên cứu khảo hiệu và huấn cố, tức khảo nghiệm sự lĩnh hội và giải thích ngữ nghĩa, ở các đời Tống và Nguyên thể hiện ở những tác phẩm như Chu Dịch kinh truyện huấn giải của Thái Uyên, Chu Dịch văn thuyên của Triệu Phương, Quái biến khảo lược của Đổng Thủ Du, và các triều Tống, Nguyên, Minh đều rất coi trọng Chu Dịch. Đáng nhắc nữa là Dịch số câu ẩn đồ của Lưu Mục đời Tống, tác phẩm ghi chép Hà đồ Lạc thư sớm nhất.
Đời Minh có Ngũ kinh đại toàn vẫn giữ quan điểm của Trình Di và Chu Hy, và được dùng đến tận đời Thanh. Đời Nguyên và Minh cũng sinh ra nhiều tác phẩm nổi tiếng như Chu Dịch diễn nghĩa của Hồ Chấn đời Nguyên, Chu Dịch đại toàn của Hồ Quảng đời Minh, Chu Dịch tâm đăng của Tưởng Sĩ Long. Đời Minh còn nổi tiếng với những tác phẩm đồ giải như Dịch kinh đồ giải của Lưu Định Chi, Chu Dịch quái biến đồ truyện của Lã Hoài. Tác giả kết rằng các tác phẩm nghiên cứu Dịch trong lịch sử Trung Hoa nhiều không kể xiết.
Đời Thanh rực rỡ và những kiệt tác cận đại
Cây Dịch trăm tuổi vẫn nhú thêm những chồi non.
Triều Thanh cũng là thời kỳ rực rỡ của Dịch học với hàng loạt tác phẩm, trong đó có nhiều kiến giải mới. Ví dụ Chu Dịch thiển thuật của Trần Mộng Lôi, Học Dịch bút đàm của Hàng Tân Trai, Chu Dịch truyện nghĩa của Chu Thức, Chu Dịch ngoạn từ tập giải của Tra Thận Hành, Chu Dịch thuật của Huệ Đống, Dịch tượng số lý phân giải của Tạ Duy Nhạc, Chu Dịch Thượng thị học của Thượng Bỉnh Hòa, Chu Dịch Diêu thị học của Diêu Phối Trung, Chu Dịch quan thoán của Lý Quang Địa, Dịch học tượng số luận của Hoàng Tông Hy, Chu Dịch tẩy tâm của Nhiệm Khải Vận. Tác giả cho rằng điều này cho thấy việc nghiên cứu Chu Dịch đang bước vào một giai đoạn mới.
Ở thời cận đại cũng xuất hiện nhiều kiệt tác như Chu Dịch cổ kinh kim chú và Chu Dịch đại truyện kim chú của Cao Hanh, Chu Dịch tham nguyên của Lý Kính Trì, Trung Quốc triết học sử tân biên do Phùng Hữu Lan chủ biên, Chu Dịch tư tưởng nghiên cứu của Trương Lập Văn, và Chu Dịch khái luận của Lưu Đại Quân, trong đó có nhiều phát triển mới. Nói tóm lại, tác phẩm về Chu Dịch qua các niên đại nhiều và bao la như biển cả, bát ngát như rừng. Tác giả thấy điều đó chứng tỏ các thế hệ con cháu Viêm Đế luôn chú trọng môn Chu Dịch đầy huyền bí và linh nghiệm, và coi việc tiếp tục tìm tòi, khai thác nó là nhiệm vụ quan trọng trong việc kế thừa và phát huy di sản văn hóa của dân tộc.
Sáu nhóm sách về Chu Dịch qua các triều đại
Từ một cuốn sách của người xưa nhất đến sách bói của người đời sau, dòng sách quanh Dịch chia thành nhiều nhánh.
Tác giả liệt kê các tác phẩm chính theo sáu nhóm.
Nhóm chú thích và giải nghĩa
Nhóm đầu gồm các sách chú trọng chú thích, giải nghĩa. Cổ nhất là Tử Hạ Dịch truyện, sách xưa nhất bàn về Dịch, do Bốc Thương thời Xuân Thu soạn, bản chính nay đã thất lạc. Tiếp đến là Dịch truyện do Khổng Tử đời Xuân Thu soạn theo truyền thuyết, Chu Dịch chú của Trịnh Huyền đời Hán, Chu Dịch chú của Vương Bật đời Ngụy, Chu Dịch chính nghĩa của Khổng Dĩnh Đạt, Chu Dịch quyết khẩu nghĩa của Sử Trưng đời Đường, Chu Dịch thích văn của Lục Đức Minh đời Đường, Chu Dịch tập giải của Lý Đỉnh Tộ đời Đường. Đời Tống có Dịch truyện của Trình Di, Ôn công Dịch thuyết của Tư Mã Quang, Chu Dịch tân nghĩa giải của Cảnh Nam Trọng, Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy, Triệu Thiện Cử, Lâm Lật, Lý Khởi. Đời Thanh có Chu Dịch thiển thuật của Trần Mộng Lôi, Chu Dịch hàm thư ước chú của Hồ Húc, Chu Dịch truyện nghĩa của Chu Thức, Chu Dịch ngoạn từ tập giải của Tra Thận Hành, Chu Dịch thuật của Huệ Đống, Chu Dịch chương cú chứng dị của Địch Quân Liêm, Ngự soạn Chu Dịch chiết trung do vua Khang Hy soạn năm thứ năm mươi tư, Chu Dịch bái sớ của Vương Phu Chi, Chu Dịch Thượng thị học của Thượng Bỉnh Hòa, Chu Dịch giải cố của Đinh Án, Chu Dịch Diêu thị học của Diêu Phối Trung. Thời cận đại có Chu Dịch cổ kinh kim chú của Cao Hanh.
Nhóm chú trọng phát huy
Nhóm thứ hai chú trọng phát huy. Đó là Dịch vĩ với Càn khôn tạc độ, Càn tạc độ do Trịnh Huyền chú, và hàng loạt sách đời Tống như Dịch học biện hoặc của Thiệu Bá Ôn, Dịch tiểu truyện của Thẩm Cai, Dịch toàn cơ của Ngô Hàng, Dịch nguyên của Trình Đại Xương, Chu Dịch nghĩa hải toát yếu của Lý Hoành, Chu Dịch ngoạn từ của Hạng An Thế, Chu Dịch tổng nghĩa của Dịch Phất, Dịch thông của Triệu Dĩ Phu, Dịch tượng ý ngôn của Thái Uyên, Chu Dịch yếu nghĩa của Ngụy Liễu Ông, Dịch thuyết Khải mông tiểu truyện của Thuế Dĩ Quyền, Dịch thuyết Khải mông của Hồ Phương Bình, Dịch thuyết truyện nghĩa của Đổng Khải, Chu Dịch tượng nghĩa của Đinh Dịch Đông. Đời Nguyên có Dịch nguyên áo nghĩa của Bảo Ba, Dịch nguyên diễn nghĩa của Hồ Chấn, Chu Dịch hào biến nghĩa uẩn của Trần Ứng Nhuận. Đời Minh có Chu Dịch đại toàn của Hồ Quảng, Dịch dụng của Trần Tổ Niệm, Dịch tượng của Hoàng Đạo Chu, Dịch tượng giải của Lưu Liêm, Lục hào nguyên nghĩa của Kim Dao, Chu Dịch sinh sinh chân truyện của Du Quốc Nhân, Dịch giải tâm đăng của Tưởng Sĩ Long. Đời Thanh có Dịch học tượng số luận của Hoàng Tông Hy, Chu Dịch tẩy tâm của Nhiệm Khải Vận, Độc Dịch biện nghi của Lý Khai Tiên, Dịch tượng số lý phân giải của Tạ Duy Nhạc, Chu Dịch quan thoán của Lý Quang Địa, và Chu Dịch bút đàm của Hàng Tân Trai.
Nhóm đồ giải và nhóm Hà đồ Lạc thư
Nhóm thứ ba là các tác phẩm đồ giải, giải Chu Dịch bằng hình vẽ. Có Chu Dịch câu ẩn đồ của Lưu Mục đời Tống, Dịch đồ thuyết của Ngô Nhân Kiệt, Dịch đồ giải biện của Lôi Tư Trai, Chu Dịch đồ thuyết của Tiền Nghĩa Phương đời Nguyên, Khôn linh đồ trong Dịch vĩ do Trịnh Huyền soạn, Chu Dịch bàng chú đồ thuyết của Chu Thăng, Dịch kinh đồ thích của Lưu Định Chi, Chu Dịch quái biến đồ truyện của Lã Hoài, Phục Hy đồ tán của Trần Đệ, Dịch đồ thân kiến của Lai Tập Chi đời Minh, Dịch kỳ đồ thuyết của Phan Hàm, Dịch đồ sơ nghĩa của Lưu Minh Kha, Chu Dịch hậu thiên quy đồ của Lê Do Cao, Dịch đồ minh biện của Hồ Vị đời Thanh.
Nhóm thứ tư viết về Hà đồ Lạc thư: Thái cực đồ thuyết của Chu Đôn Di đời Tống, Dịch số câu ẩn đồ của Lưu Mục, Hà Lạc định nghĩa tán và Hà Lạc chân truyện của Du Quốc Nhân, Hà Lạc phát vi của Trần Sĩ Huệ đời Minh, Hà đồ Lạc thư nguyên suyễn biên của Mao Kỳ Linh, Hà Lạc tiên thiên đồ thuyết của Lưu Thiên Chân đời Thanh.
Nhóm khảo cứu và nhóm sách bói toán
Nhóm thứ năm viết về chiêm phệ, khảo lược và giải nghĩa cổ: Chu Dịch kinh truyện huấn giải của Thái Uyên, Cổ Dịch âm huấn của Lã Tổ Khiêm, Chu Dịch văn thuyên của Triệu Phương, Quái biến khảo lược của Đổng Thủ Du, Cổ Chu Dịch đính hỗ của Hà Khải, Độc Dịch khảo nguyên của Tiêu Hán Trung, Chu Dịch tượng huấn của Diệu Cầu, Chu Dịch hiệu khám lý của Nguyễn Nguyên, và Chu Dịch phệ từ khảo của Lý Kính Trì thời hiện đại.
Nhóm thứ sáu là các sách bói toán trong Chu Dịch. Có Dịch lâm của Tiêu Diên Thọ và Kinh thị Dịch truyện của Kinh Phòng đời Hán, Huyền châu mật ngữ của Vương Băng và Quan tượng ngoạn chiêm của Lý Thuần Phong đời Đường, Hoàng cực kinh thế của Thiệu Ung, Chu Dịch cổ chiêm pháp của Trình Quýnh, Dịch phệ thông biến của Lôi Tư đời Tống, Chu Dịch phệ thuật của Vương Hồng và Xuân Thu chiêm phệ thư của Mao Kỳ Linh đời Thanh, rồi các sách Kỳ môn độn giáp qua các đời Tống, Minh, cùng Lục Nhâm đại toàn, Lục Nhâm chỉ nam, Tinh học đại thành của Vạn Dân Anh, Tinh chiêm tam quyển của Lưu Khổng Chiếu, Dịch học phệ trinh của Triệu Thế Thời. Một số sách đời Minh không rõ tác giả.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
