Bài tổng quan
Bùa giữ sức khỏe và gốc rễ quan tượng của âm dương
Hai bó hoa đặt cạnh nhau trên bàn, mỗi sáng chỉ có một bó được nhìn chăm chú, và vài ngày sau chúng khác nhau thấy rõ. Cũng từ cái nhìn lên mặt trời, người xưa đã rút ra một cặp chữ làm nền cho cả nền văn hóa...
Lá bùa bảo vệ sức khỏe và sức mạnh của ý niệm
Có một vật nhỏ treo cạnh giường bệnh từ ngàn xưa, và người ta vẫn tranh cãi nó có tác dụng gì.
Tác giả mô tả lá bùa bảo vệ sức khỏe là một hình thức thờ cúng cầu nguyện, tự cầu cho mình hay cầu cho người khác đều như nhau, cùng phát huy tác dụng của ý niệm, và đều mang ý nghĩa rằng ý niệm đi trước hết. Ông dẫn Hoàng đế nội kinh, nơi nhấn mạnh tác dụng của ý niệm đối với bệnh tật. Thời cổ, lá bùa dùng để giữ sức khỏe, trừ bệnh, theo ông chủ yếu là phát huy tác dụng về tâm lý và ý niệm.
Hiệu quả tâm lý là một kiểu tác dụng ám thị và điều chỉnh, còn ý niệm mang theo cái gọi là sức lực theo ý nghĩ mà đến. Ông cho rằng lý do cầu nguyện thực sự là hiệu quả của ý niệm trong trạng thái khí công. Loại tác dụng này đôi khi có hiệu quả nhất định, và đó là bí quyết sâu xa của tác dụng tâm lý khi cầu nguyện chữa bệnh thời cổ, chứ không phải do thần thánh nào cả. Theo ông, chính việc cầu nguyện xuất phát từ trạng thái khí công, chỉ có điều hồi đó không gọi là khí công mà là tên gọi chung của việc ngồi yên chắp tay, tự cầu nguyện, điều hòa hơi thở, miệng khấn cầu. Khi thêm vào những môi giới như hương, gạo vãi, nước phép thì nó nhiễm màu sắc mê tín, nếu không việc cầu nguyện có thể có tác dụng trong sạch và dẫn dắt.
Ông kể một thử nghiệm: người ta đặt hai bó hoa lên bàn, mỗi sáng thức dậy chỉ chăm chú nhìn một bó, không để ý bó còn lại. Mấy ngày sau họ ngạc nhiên thấy bó hoa được chăm chú nhìn vẫn tươi nguyên, còn bó không được để ý thì khô héo. Theo ông, điều đó cho thấy một khi có ý niệm thì thông tin tất nhiên được truyền đến theo. Cũng theo quy luật ấy, trước khi chữa bệnh và uống thuốc, nếu khấn cầu để ý niệm tập trung vào bệnh của mình rồi mới điều trị, hiệu quả sẽ mạnh hơn việc không dùng đến ý niệm, vì ý niệm là một vật dẫn thông tin và còn mang được sức điều tiết của cơ thể. Mỗi sáng hay tối nhìn ngắm lá bùa, truyền thông tin qua ý niệm đến bệnh tật của mình cũng sẽ có kết quả. Dân gian dùng cầu nguyện để trị bệnh mạn tính cũng vì quy luật ấy.
Ông nhận xét rằng khi tác dụng phụ của thuốc, ngộ độc và nhờn thuốc ngày càng tăng, việc khai thác năng lực tự chữa bệnh của mỗi con người ngày càng có ý nghĩa quan trọng, với cá nhân lẫn xã hội. Ý niệm và lòng tin thực sự trong lời cầu nguyện tập hợp khả năng đề kháng của cơ thể, và có thể có tác dụng thay thế thuốc. Ông cũng nói rằng từ xưa bùa trị bệnh đã bị xem như mắt cá lẫn với châu báu, bị các thầy thuốc khinh miệt, vì có kẻ tuyên truyền mê tín để lừa người kiếm tiền, làm lỡ thời cơ chữa bệnh. Điều ấy y đức và lòng nhân đạo không cho phép, và so với việc vận dụng chân chính lời cầu nguyện để chữa bệnh thì như nước với lửa, không thể cùng tồn tại.
Về nguồn sách, ông cho biết Hoàng đế nội kinh của Đông y xem lời cầu nguyện chủ yếu là dùng tâm lý để bảo vệ sức khỏe. Thiên Tố vấn, phần Di tinh biến khí luận, nhấn mạnh lời cầu nguyện có thể làm đổi khí huyết. Ông giải thích chữ "chúc" giống chữ "chú", "do" nghĩa là nguyên do, tức người bệnh khấn cầu để tìm nguyên nhân bệnh của mình và khai thông tâm lý. Ông trích đoạn nói người thầy thuốc phải hỏi han kỹ tình cảnh người bệnh để thuận theo ý họ, và đoạn nhấn mạnh người mất thần thì chết. Đó là một hàm ý khác của lời cầu nguyện, tức "thần vận", ý niệm và thông tin mà nó mang theo, khiến người ta lành bệnh, không bị nặng thêm.
Nhà y học lớn đời Đường Tôn Tư Mạc, trong Thiên kim dực phương, cũng có phương pháp khấn nguyện, đặc biệt chú trọng việc niệm chú hộ thân. Lời khấn trong sách rất giống lời của Phật gia, như trước khi khấn cần giữ ngũ giới, thập thiện, bát kỵ, tứ quy. Kinh Thần tiên viết ai muốn học sự chịu đựng thì trước hết phải biết và giữ ngũ giới, thập thiện, bát kỵ, tứ quy, giữ được thì muôn vạn thần tiên phù hộ. Năm giới là không giết chóc, không trộm cướp, không dâm đãng, không nói xằng bậy, không uống rượu và đố kỵ. Mười điều thiện gồm giúp người khổ nạn, hành đạo, chôn cất người hay súc vật chết, kính trọng quỷ thần, không sát hại mà biết thương xót, không thương giàu ghét nghèo, tâm địa ôn hòa, không ăn thịt uống rượu, không ham mê sắc dục, và điều hòa tâm tính, không thoắt giận thoắt vui.
Lời khấn hộ thân, tránh điều cấm kỵ được ông chép lại như sau: ngày mồng một tháng giêng, khi sao sáng phía đông mọc thì tắm gội, trai giới sạch sẽ, ngồi ngay ngắn, đốt hương, vẩy nước rửa mặt, mặt hướng về phía đông và đứng thẳng. Trước hết giơ tay trái lên hô Thanh Long, giơ tay phải lên hô Bạch Hổ, tiến lên phía trước hô Chu Tước, lùi về sau hô Huyền Vũ. Tiên kinh còn nêu sáu cách giữ không phạm điều cấm kỵ, như không để hở răng lợi, giữ khí trong miệng, hay mở một mắt nhắm một mắt. Ông kết luận rằng hệ thống ký hiệu trong Chu Dịch đã đặt nền móng cho văn hóa ký hiệu Trung Quốc, và có tác dụng quan trọng với sự phát triển của văn hóa ký hiệu cổ đại và việc nâng cao tư duy trừu tượng.
Văn hóa âm dương: hạt nhân của văn hóa Trung Hoa
Có một điều then chốt của cả bộ sách, và nó được nói thẳng ra.
Tác giả mở chương bằng nhận định rằng đặc trưng của văn hóa truyền thống Trung Quốc là văn hóa âm dương. Đó là văn hóa cơ bản, căn nguyên trong số nhiều hiện tượng văn hóa Trung Quốc. Dù là văn hóa khí, ký hiệu, tướng số, bát quái, Hà Lạc hay Thái cực, tất cả đều lấy văn hóa âm dương làm hạt nhân. Nó là hiện tượng văn hóa của phương Đông, ảnh hưởng đến mọi mặt văn hóa Trung Quốc và phương Đông, gắn liền với lịch sử văn hóa của dân tộc ấy. Ông nói không hiểu văn hóa phương Đông thì cũng không thể hiểu văn hóa Trung Quốc.
Ông xếp văn hóa âm dương, gồm cả ngũ hành, văn hóa khí, văn hóa ký hiệu, văn hóa bói toán và văn hóa tướng số thành năm hiện tượng văn hóa lớn của truyền thống Trung Quốc. Cả năm đều có quá trình phát triển lâu dài và ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa nghệ thuật, trình độ lý luận của đất nước. Vì văn hóa khí, bói toán, tướng số đều có quan hệ mật thiết với âm dương và lấy âm dương làm yếu tố hạt nhân, nên âm dương là nền tảng của văn hóa truyền thống, thâm nhập vào mọi khía cạnh, và có thể coi là hạt nhân của nó.
Theo ông, Chu Dịch có tác động quan trọng với khởi nguồn của lý luận âm dương, còn Dịch truyện kế thừa và đẩy lý luận ấy lên một cấp độ chưa từng thấy. Dưới ảnh hưởng của Dịch truyện, bách gia chư tử thời cổ, gồm Lão Tử, Trang Tử, Tôn Tử, Mặc Tử, đều nối nhau lấy âm dương làm cơ sở để phát triển học thuyết. Nhờ đó âm dương thấm sâu đến cao độ vào tư tưởng văn hóa, phương pháp tư duy, triết học, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học tự nhiên, diện mạo tinh thần của Trung Quốc. Qua nhiều thế hệ kiểm nghiệm, chúng đã đưa văn hóa Trung Hoa thành một hệ thống đặc biệt với hạt nhân là văn hóa âm dương.
Mấy nghìn năm nay, văn hóa truyền thống Trung Quốc lấy văn hóa Thái cực làm đặc trưng đã luôn đứng vững trong nền văn hóa thế giới. Tác giả dẫn lại lời một học giả nước ngoài rằng ngày nay một nhà sử học lớn của phương Tây lại gọi nền văn minh của cả đất nước Trung Quốc là văn hóa âm dương, trích trong cuốn bàn về sự giống và khác của văn hóa Trung Quốc và phương Tây của Úc Long Dư. Vì văn hóa âm dương có vị trí quan trọng như thế, việc nghiên cứu nó cũng như lý luận âm dương trong Chu Dịch, theo ông, có ý nghĩa sâu sắc.
Quan tượng và ứng tượng: âm dương sinh ra từ việc nhìn mặt trời
Trước khi có chữ "âm dương", đã có một người đứng trên sườn núi, nhìn bóng mình dài ngắn theo ánh nắng.
Tác giả giải thích "quan tượng" là sự quan sát hình tượng, hiện tượng của sự vật, phương pháp tư duy sớm nhất của người xưa. Quan tượng sớm nhất là quan sát thiên nhiên gồm mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Ông dẫn Hệ từ nói thuở xưa Bào Hy làm vua thiên hạ, ngẩng lên thì quan tượng ở trời, cúi xuống thì quan pháp ở đất, xem vân của chim thú. Theo ông, nguồn gốc xuất hiện âm dương sớm nhất dựa vào bối cảnh thiên văn của sự vận động của mặt trời và mặt trăng. Người xưa sớm có mối quan hệ không thể tách rời với mặt trời, và truyền thuyết Khoa Phụ đuổi mặt trời đủ cho thấy sự ngưỡng vọng của con người, vì mặt trời tượng trưng cho ánh sáng, ấm áp, đối lập với tăm tối và giá lạnh.
Người xưa quan sát mặt trời lặn và mọc, thấy hai kết quả trái ngược là bóng tối và ánh sáng, từ đó có hai khái niệm đối lập, về sau ví cho hai phạm trù ban đêm và ban ngày. Họ cũng chú ý ảnh hưởng của vị trí cao thấp của mặt trời đến nhiệt độ, nên có khái niệm mùa đông và mùa hè, giá rét và ấm áp. Họ phát hiện mặt trời ở các vị trí khác nhau thì bóng nắng dài ngắn khác nhau, nên phát minh ra khuê biểu đo thời gian. Vì người xưa đứng trên núi quan sát bóng nắng, nên có các cặp phạm trù sơn dương và sơn âm, hướng dương và bội âm. Kinh Thi có câu nói về việc nhiều lần lên núi cao, so xem hai bên núi trong ánh mặt trời, giống như âm dương.
Mặt trời mọc là lúc mọi người ra khỏi nhà bắt đầu cày cấy, mặt trời xuống núi là lúc về nhà nghỉ, nên có khái niệm động và tĩnh. Những cặp như xuất và nhập, hướng ngoại và hướng nội cũng xuất hiện cùng sự vận động của mặt trời. Càn Khôn bát quái trong Kinh Dịch dùng hình tượng "tiềm" tức động và "duyệt" tức tĩnh để phản ánh sự thay đổi của tự nhiên. Dưới ánh mặt trời chiếu rọi, vạn vật hòa quyện mềm mại, khi ánh nắng yếu thì vạn vật giá lạnh, thậm chí kết băng, nên có sự phân biệt giữa cương và nhu. Bởi thế tất cả những gì sáng sủa, ấm áp, động, quang tạnh, hướng ngoại, ở trên, cao, khô ráo, cường tráng, cương tính, nam tính đều thuộc dương. Ngược lại những gì tối tăm, giá lạnh, tĩnh, hướng nội, u ám, ở dưới, thấp, ẩm ướt, nhu tính, nữ tính đều thuộc âm. Ông cho rằng mọi thuộc tính hai mặt đối lập trong vạn vật đều liên quan đến mặt trời và có thể bao quát bằng âm dương, và đó chứng minh nguồn gốc của âm dương từ quan tượng sớm nhất.
Ông nhắc rằng Lương Khải Siêu có chú ý hình tượng của hai chữ âm và dương, và Thuyết văn giải thích âm là mây che phủ mặt trời, còn dương có nghĩa là mở ra, tức quang minh, sáng sủa. Còn "ứng tượng", ông giải thích, là sự phát triển của quan tượng, nếu quan tượng là tư duy trực tiếp thì ứng tượng là tư duy trừu tượng theo kiểu loại suy, đi từ quan tượng đến pháp tượng. Vì vạn vật trong vũ trụ dường như đều có hai mặt đối lập như âm dương, nên mọi thứ có thể khái quát bằng âm dương. Trời đất, mặt trời mặt trăng, nam nữ, đực cái đều là ứng tượng âm dương, còn dài ngắn, cao thấp, to nhỏ, đẹp xấu, nước lửa là sự suy diễn từ hai mặt đối lập ấy. Ông dẫn Tố vấn nói đếm âm dương thì chỉ có mười nhưng suy ra thì thành trăm, đếm được nghìn thì suy ra thành vạn, nên với âm dương của trời đất không thể đếm mà chỉ có thể diễn đạt qua hình tượng. Âm dương là đạo của trời đất, là kỷ cương của vạn vật, là cội nguồn của mọi sự thay đổi, là gốc của sinh diệt.
Dịch truyện đưa ra đạo "nhất âm nhất dương", coi âm dương là hiện tượng phổ biến căn bản của vũ trụ, nên chính Trang Tử đã nói Dịch truyện là để nói về âm dương. Chữ "dịch" theo chữ tượng hình tức là mặt trời và mặt trăng ghép lại. Thuyết văn viết nhật nguyệt là dịch, tượng của âm dương. Ông nhìn chữ "quái" trong bát quái cũng thấy quan hệ mật thiết với bóng nắng: chữ "khuê" nằm trong chữ "quái" chỉ khuê biểu của người xưa, và bát quái thực tế là những vạch đo bóng nắng ở các vị trí khác nhau. Nét hào được Thuyết văn giải là chữ "giao", tia sáng bị giao cắt, nên sáu nét hào chỉ sự thay đổi của các tia sáng ở những góc độ khác nhau. Hệ từ cũng nói hào là sự biến hóa. Ông đi đến kết luận rằng người xưa lấy hào dương liền nét tượng trưng cho tia sáng mặt trời, lấy hào âm đứt nét tượng trưng cho tia sáng mặt trăng yếu ớt thuộc về đêm tối giá lạnh, rồi từ sự hoán chuyển giữa nhật quang và nguyệt quang, giữa ngày và đêm mà phát triển quan niệm âm dương. Vì thế việc quan sát mặt trời mặt trăng và ứng tượng trong bát quái là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện âm dương và hình thành bát quái.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
