Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Thành ngữ con giáp, Thái cực đồ, Hà đồ và bát quái

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202614 phút đọc3 lượt đọc
Thành ngữ con giáp, Thái cực đồ, Hà đồ và bát quái

Mỗi lần năm rồng, năm hổ trở lại, cả một đất nước bỗng thấy lòng mình phấn chấn hơn. Trong khi đó, một vòng tròn với một đường cong đã được ai đó gọi là bức đồ đệ nhất thiên hạ, và người ta tự hỏi vì sao...


Mười hai con giáp ghi năm, ghi giờ, ghi ngày sinh

Cứ mười hai năm, một con vật quay về chỗ cũ, và cả một dân tộc lại cùng nhau bước vào một bầu không khí quen thuộc.

Tác giả nói mười hai con giáp được dùng để ghi năm, cứ mười hai năm lại luân chuyển về cùng một con, và điều ấy ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần, phong cách của dân tộc Trung Hoa. Mỗi lần vào năm rồng, năm hổ, năm rắn, lòng người lại phấn chấn, cả nước phấn khởi, ai nấy nguyện làm được việc lớn. Vào năm Ngọ, người ta nghĩ đến hàng chục nghìn con ngựa phi, liên tưởng đến thành công. Năm Sửu, năm Mùi, người ta cùng chúc nhau làm ăn cần cù, đợi mùa thu được mùa. Năm Mão cũng là năm tốt lành, tin là cả năm có điềm lành. Các năm còn lại là khỉ, lợn, gà, chó, chuột cũng đều có điềm lành, tạo nên chỗ dựa tâm lý và khí thế cho cả một năm của mọi người.

Mười hai con giáp cũng dùng để ghi giờ. Ông liệt kê giờ Tý từ mười một giờ đêm đến một giờ sáng, giờ Sửu từ một đến ba giờ sáng, giờ Dần từ ba đến năm giờ, giờ Mão từ năm đến bảy giờ, giờ Thìn từ bảy đến chín giờ, giờ Tỵ từ chín đến mười một giờ, giờ Ngọ từ mười một giờ trưa đến một giờ, giờ Mùi từ một đến ba giờ chiều, giờ Thân từ ba đến năm giờ, giờ Dậu từ năm đến bảy giờ chiều, giờ Tuất từ bảy đến chín giờ tối và giờ Hợi từ chín đến mười một giờ tối. Các nhà số thuật và nhà nông thường dựa vào đó để xem giờ tốt, rồi tiến hành tế lễ, hôn nhân, ma chay, chúc mừng và những việc trọng đại.

Mười hai con giáp còn được dùng để ghi ngày sinh. Vì chúng đã được dùng để ghi năm, năm sinh của mỗi người ứng với việc cầm tinh con nào, nên còn gọi là "mười hai ngày sinh". Theo tác giả, điều ấy vô hình ảnh hưởng đến khí chất và tâm lý con người hàng nghìn năm nay. Người xem tướng số thường dựa vào đó để tính điềm lành dữ, còn dân gian dựa vào đó để tiến hành hôn nhân, tang lễ, chuyện vui, tế lễ. Ông nhận xét rõ ràng rằng điều này không có căn cứ khoa học mà chỉ là phong tục, và những người xem tướng số dùng "mười hai ngày sinh" để thuyết phục người khác là việc vô giá trị, cần phải chấm dứt.

Con giáp trong truyện, thành ngữ và lời nói hằng ngày

Mỗi con vật, qua nhiều đời, đã để lại một vốn câu nói mà người nghe vẫn hiểu ngay không cần giải thích.

Tác giả gọi mười hai con giáp là một nội dung quý giá trong kho văn hóa phỏng sinh học của Trung Quốc. Những thành ngữ, câu nói vui, truyện ngụ ngôn và thần thoại sinh ra từ chúng đã làm phong phú ngôn ngữ và văn học. Ông đi qua từng con.

Với rồng, ông nói văn hóa rồng đã trở thành một nội dung quan trọng của văn hóa truyền thống, có phong vận và ma lực độc đáo, đã chinh phục người Trung Quốc. Điệu múa rồng hoành tráng, bức tranh rồng rực rỡ, bức tượng rồng bay liệng như thật đều là kho báu của văn hóa rồng. Hàng trăm nghìn năm nay, truyện thần thoại, ngụ ngôn, chuyện thú vị bắt nguồn từ rồng, thành ngữ, câu nói vui là kết quả cụ thể. Phần lớn ca ngợi tính cách của rồng, cũng có chuyện gửi gắm vào hình tượng rồng, như mượn rồng trừ ma quỷ, khấn rồng cầu mưa, mượn rồng trả ơn, chinh phục rồng ác. Sơn hải kinh với Chúc Long và Ứng Long khiến người ta hoang mang, truyện Diệp Công thích rồng có hàm ý rất sâu, truyền thuyết cá chép vượt cửa rồng luôn cổ vũ những người có chí muốn thử thách, và chuyện cưỡi rồng lên trời kích thích tinh thần vươn lên. Thành ngữ bắt nguồn từ rồng như rồng cuộn hổ chồm, rồng cuộn phượng bay, khỏe như rồng như hổ, rồng bay phượng múa, đầm rồng hang hổ, tinh thần long mã đều thường dùng.

Hổ có dáng vẻ uy vũ khiến người ta khiếp sợ, nên tượng trưng cho sự trấn áp, như nói đến cọp là tái mặt, cưỡi trên lưng cọp, thoát khỏi miệng hùm, rồng hàng phục hổ. Hổ ngồi rồng cuộn chỉ người anh tài sáng suốt, mắt nhìn thèm thuồng như hổ đói, đầu hổ đuôi rắn, mình hổ thân gấu đều chỉ đặc tính của hổ, và con người thường dùng hổ để trừ ma tránh tà. Rắn là con vật thiêng được sùng bái. Từ thời tam hoàng ngũ đế mình rắn đã luôn tượng trưng cho thần uy, và thần thoại về rắn rất phong phú, như chuyện bạch xà đồng cảm với tâm trạng con người. Thành ngữ về rắn có vẽ rắn thêm chân, nhìn bóng cung trong chén rượu tưởng là rắn. Nhưng trong văn học, rắn thường được dùng với nghĩa xấu như đầu hổ đuôi rắn, rồng rắn lẫn lộn, độc ác như rắn rết.

Ngựa tượng trưng cho niềm vui phơi phới, khí thế bừng bừng, người Trung Quốc thích khí chất và sự gánh vác của ngựa, và trong tranh tượng ngựa có nhiều kiệt tác, như tranh ngựa của Từ Bi Hồng nổi tiếng trong ngoài nước. Thành ngữ về ngựa nhiều không kể hết, như kìm ngựa trước vực thẳm, một con ngựa làm hại cả đàn, cưỡi ngựa xem hoa, chỉ hươu thành ngựa, ngựa già biết đường, thiên quân vạn mã, ngựa xe như nước. Trâu có đặc tính cần cù, chịu khó, trung hậu. Tranh và tượng trâu lấp lánh màu sắc văn học nghệ thuật, trong Di Hòa Viên ở Bắc Kinh có bức tượng trâu đồng nổi tiếng, và hình ảnh trâu có trong truyện đẹp Ngưu Lang Chức Nữ. Tinh thần không bon chen, âm thầm dâng hiến của trâu tạo nên cốt lõi văn hóa về trâu, nên người ta trọng vọng tinh thần cúi đầu cam chịu làm chú nghé con. Thành ngữ về trâu gồm đầu trâu mặt ngựa, dùng dao mổ trâu cắt tiết gà, sức chín trâu hai hổ, nhiều như lông trâu.

Dê gắn với đời sống vùng đồi núi, phỏng sinh học về dê chủ yếu mô tả sự ôn hòa hiền lành, như người chịu tội thay, yếu như dê, dê non lạc đường, mất dê mới lo làm chuồng, treo đầu dê bán thịt chó. Thỏ trắng tượng trưng cho sự thuần khiết và là hóa thân của mặt trăng, nên gọi là thỏ ngọc, hồn trăng. Văn hóa về thỏ đề cao sự tinh nhanh của thỏ, như thỏ khôn ba hang, há miệng chờ sung, thỏ chết cáo thương. Khỉ gần giống người nên thông minh, nhanh nhẹn, giỏi bắt chước. Những câu về khỉ phần nhiều là lời nói bỏ lửng, như Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung, Tôn Ngộ Không lộn nhào, cây đổ thì đàn khỉ cũng tan.

Chó là công cụ tự vệ của con người, giữ nhà, đi săn, cung cấp thịt, rất hiểu tính người và trung thành với chủ. Nhưng trong văn học chó lại thường bị dùng với nghĩa xấu, như chó cậy gần nhà, chó nhà có tang, chó cùng rứt giậu, ngậm máu phun người, chỉ gà mắng chó, trộm gà bắt chó. Tác giả nhận xét những câu này đối với chó là không công bằng nhưng chúng làm giàu thêm ngôn ngữ Trung Quốc. Lợn trong Tây du ký của Ngô Thừa Ân được khắc họa qua nhân vật Trư Bát Giới, tham ăn, lười biếng nhưng thật thà đáng yêu, và nhờ đó lợn trở thành từ chỉ loài tham ăn, lười biếng. Gà là vật quý của nhà nông, là đồng hồ tự nhiên, nhà nông từ xưa nghe tiếng gà gáy báo sáng để dậy làm việc. Thành ngữ về gà có lông gà vỏ tỏi, gà bay trứng vỡ, gà bay chó nhảy, da gà lông ngỗng.

Chuột có địa vị thấp kém hèn mọn. Truyền thuyết kể rằng chuột vốn không có tên trong mười hai con giáp, đáng ra là mèo, nhưng một lần đức Phật Như Lai triệu tập mười hai con vật, mèo đến chậm nên chuột thừa cơ đứng lên trước và thành đứng đầu. Theo tác giả, ngoài phân chuột có thể làm thuốc, chuột không có đặc tính tốt nào khác, chỉ hay ăn vụng, tầm nhìn hạn hẹp, nên những câu nói về chuột đều mang nghĩa xấu, như rồng sinh rồng, phượng sinh phượng, chuột sinh con biết đào hang, tầm nhìn hạn hẹp như chuột, gan bé như gan chuột, ôm đầu lủi như chuột. Ông kết luận văn hóa phỏng sinh mười hai con giáp có nội dung rất phong phú, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa, phong tục, luân lý, tín ngưỡng và ngôn ngữ của người Trung Quốc.

Văn hóa ký hiệu: khi một hình vẽ chở cả thông tin

Có một ý lạ: loài người sống giữa những dấu hiệu, lúc nào cũng vậy.

Ở chương tiếp theo, tác giả nói ký hiệu tượng trưng cho thông tin cổ xưa, và bát quái là ký hiệu thông tin sớm nhất. Thái cực, bát quái, Hà đồ, Lạc thư là trọng tâm của văn hóa ký hiệu Trung Quốc cổ đại. Hệ thống ký hiệu trong Chu Dịch đặt nền móng cho văn hóa ký hiệu, thúc đẩy tư duy hình tượng, và làm cầu nối cho sự chuyển sang tư duy trừu tượng.

Con người sống cùng ký hiệu, vì sống đời sống xã hội theo bầy nên không thể thiếu giao lưu thông tin, và ký hiệu là một hình thức biểu hiện cũng như giao lưu tin tức. Ký hiệu học là môn khoa học nghiên cứu hệ thống ký hiệu, gồm ngôn ngữ, mã hóa, tín hiệu, trong đó có ký hiệu lôgíc, ký hiệu ngôn ngữ, ký hiệu biểu tượng. Đặc điểm của ký hiệu là có thể dùng thay thế, có thể truyền bá và lưu thông. Mọi nền văn hóa đều có hệ thống ký hiệu vốn có. Ông chia ký hiệu thành ký hiệu ẩn và ký hiệu hiện. Ký hiệu ẩn trừu tượng, khách quan, lý tính, thường do con người tạo ra. Ký hiệu hiện mang hình tượng, chủ quan, tình cảm, đặc thù, do tự nhiên tạo ra. Ông coi đồ Thái cực là thể thống nhất của ký hiệu ẩn và hiện, xứng đáng là "thiên hạ đệ nhất đồ".

Tác giả nhận xét ký hiệu học là môn khoa học tổng hợp mới nổi lên từ những năm bốn mươi của thế kỷ hai mươi, nhưng ba nghìn năm trước trong Chu Dịch đã có nền móng của nó.

Thái cực, Hà đồ, Lạc thư và bát quái như những ký hiệu

Một vòng tròn với một đường cong, mười số chấm đen trắng, hai nét liền đứt: ba hình vẽ giản dị mà ông cho là chở cả vũ trụ.

Về ký hiệu Thái cực, ông cho biết ở thôn Bán Pha, Thiểm Tây, thuộc di chỉ Ngưỡng Thiều, người ta khai quật được một chậu gốm màu có hoa văn cá, trên có đôi cá đang vờn nhau, có thể là tiền thân của đồ Thái cực âm dương ngư. Đồ Thái cực có thể coi là ký hiệu vũ trụ, cô đọng sự vận động âm dương của vạn vật. Ông trích bài đăng trên Thời báo New York ngày 24 tháng 12 năm 1986 của Hồng Thiên Thủy, hội trưởng hội khảo cổ học về Kinh Dịch của Mỹ, nói về một chiếc chậu gốm Hy Lạp cổ cách ba nghìn hai trăm năm có hình Hà đồ cùng bài minh bằng chữ triện cổ Trung Quốc. Theo ông, điều đó chứng tỏ văn hóa ký hiệu như Hà đồ, bát quái thời Chu, Thương đã vào Hy Lạp cổ, đồng thời chứng thực Hà đồ Lạc thư có từ rất sớm.

Về Hà đồ Lạc thư, ông dẫn Thượng thư, thiên Cố mệnh, có nhắc Hà đồ đặt ở phía đông, và sách Xuân thu vĩ chép rằng sông Hà thông với Càn, sông Lạc chảy qua Khôn, Hà có rồng ra đồ, Lạc có rùa dâng thư. Theo ông, Hà đồ Lạc thư do các con số tạo nên là mẫu mực của ký hiệu chữ số. Sự tăng giảm của các số trong đồ là thứ tự thời gian của sự chuyển hóa tăng giảm âm dương, hàm chứa quy luật biện chứng thống nhất đối lập. Ông cho Thái cực đồ là ký hiệu gấp khúc, chỉ gồm một vòng tròn và một đường cong, nhưng ẩn chứa triết lý rất sâu xa, và trong hàng chục triệu ký hiệu chỉ có mình ký hiệu này phản ánh triết lý giản dị của Kinh Dịch. Giá trị của đồ ở chỗ dùng ký hiệu động để tượng trưng cho quy luật vận động của vạn vật, cô đọng hai mặt đối lập như âm dương, hư thực, chính phản, trắng đen, lạnh nóng. Đặc điểm của nó là sự trừu tượng hóa rất cao trên cơ sở tượng hình, và ông cho đó có thể là ký hiệu tuyệt vời nhất của loài người.

Nguồn gốc Hà đồ Lạc thư cho đến nay chưa xác định, tương truyền là từ rất sớm, như Hệ từ có câu Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi. Tương truyền long mã mang Hà đồ, rùa thiêng cõng Lạc thư từ Hoàng Hà, sông Lạc. Những vòng tròn đen trắng biểu thị quan hệ hư thực, chính phản, và vị trí của các con số đại diện cho vị trí không gian, nên theo ông Hà đồ Lạc thư là bức tranh thu nhỏ của quan hệ thời gian, không gian và vũ trụ. Trên cơ sở ấy lại biến hóa thành các loại trận đồ hình vuông, cửu cung trận đồ, kỳ môn độn giáp, lục nhâm, trở thành các phương pháp tính toán suy đoán trong Chu Dịch, chứng thực hiệu quả nhiều mặt của ký hiệu Hà đồ Lạc thư.

Trong hệ thống ký hiệu của Chu Dịch, bát quái là ký hiệu trọng tâm. Nguồn gốc bát quái liên quan đến ký hiệu khắc họa thời cổ, và nhiều học giả cho rằng nó có tiền thân từ đó. Đặc điểm của bát quái là lấy hai ký hiệu hào dương và hào âm làm nguyên mẫu, trên cơ sở ấy biến đổi thành sáu mươi bốn quẻ, ba trăm tám mươi bốn hào. Bát quái là ví dụ điển hình của việc dung hòa ký hiệu trừu tượng và hình tượng. Hai ký hiệu liền và đứt là ký hiệu mẫu mang hình tượng, rồi từ đó biến thành ba trăm tám mươi bốn hào là ký hiệu con trừu tượng. Tám quẻ kinh với Càn Khôn là ký hiệu mẫu, sáu mươi bốn quẻ phát triển từ đó là ký hiệu con. Mỗi quẻ là một hệ thống ký hiệu nhỏ, sáu mươi bốn quẻ là một hệ thống ký hiệu lớn.

Ký hiệu bát quái có hai yếu tố, căn cứ vào sự biến đổi "số" và "vị" của hào âm dương mà diễn tả quy luật biến đổi âm dương của cả vũ trụ, thể hiện sự hàm chứa vô cùng của thông tin ký hiệu. Ông cho đó là lý do bát quái có thể bao quát mọi vật trong vũ trụ. Vì bát quái là hệ thống ký hiệu có ưu thế tích trữ và lưu thông thông tin, nên ngoài việc biểu thị quy luật vận động âm dương, nó còn là công cụ trao đổi nhiều loại thông tin, và từ thời cổ được dùng làm căn cứ xem bói, dự đoán. Việc xem bói bằng bát quái có địa vị ưu việt trong các loại bói là nhờ ưu thế của hệ thống ký hiệu tương đối chính xác. Tóm lại, ký hiệu trong Chu Dịch đặt nền móng cho văn hóa ký hiệu Trung Quốc, vừa có ký hiệu mang tính hình tượng vừa có tư duy trừu tượng.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện