Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tiêu Hà và Phạm Lãi: chim hết thì cung phải cất

Đạo Học - Khuyên Thiện30/09/202615 phút đọc1 lượt đọc
Tiêu Hà và Phạm Lãi: chim hết thì cung phải cất

Tiêu Hà từng đuổi theo Hàn Tín suốt đêm dưới ánh trăng để giữ chân người tài, rồi chính tay giăng bẫy đưa Hàn Tín vào chỗ chết khi thời thế đổi thay. Cùng một bài học ấy, mưu sĩ Phạm Lãi lặng lẽ rời bỏ triều đình Việt Vương ngay khi vừa lập xong đại công, để lại một câu nói còn truyền đến tận bây giờ: chim đã hết thì cung tốt phải cất, thỏ khôn đã chết thì chó săn phải nấu...


Tiêu Hà, người dựng thành Hàn Tín cũng chính tay hại chết

Không phải mưu lược nào cũng cần tiếng vang trên chiến trường. Có một kiểu tài năng lặng lẽ hơn nhiều: giữ hậu phương vững chắc để người khác yên tâm ra trận, và biết đúng lúc nào nên buông bỏ ân oán cá nhân vì đại cục.

Thao lược phi phàm, thấy được cái kỳ lạ trong việc bình thường

Tiêu Hà là thừa tướng nổi danh thời sơ Hán, người huyện Bái, cả cuộc đời phò tá Lưu Bang và có công lao lớn đối với sự nghiệp củng cố và phục hưng nhà Hán. Tiêu Hà làm thừa tướng cho Hán Vương từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 193 trước Công nguyên thì lâm bệnh mà chết.

Trong cuộc đời làm tướng của mình, Tiêu Hà có một đặc điểm nổi bật đó là ông có thể lập công ngay trong những việc bình thường. Không giống với Lý Tư, Tiêu Hà không có những hành vi làm kinh thiên động địa song ông đã giúp được Lưu Bang giành lấy giang sơn, ổn định xã tắc, khiến Lưu Bang không thể rời xa ông dẫu chỉ một ngày, như thể người ta không thể mất đi cánh tay trên cơ thể mình. Điều đó chứng tỏ Tiêu Hà có những thao lược phi thường.

Công lao lớn nhất của Tiêu Hà là việc ông đã trở thành hậu thuẫn kiên cường vững chắc cho Lưu Bang. Về điểm này, ông đứng vào hàng nhất trong số các thừa tướng của phong kiến Trung Quốc. Tiêu Hà không những giỏi mưu lược mà còn tài ba trên nhiều phương diện, nhất là những việc hậu cần, cấp dưỡng, quân trang..., ông đã giúp Lưu Bang giải quyết thấu đáo. Đúng như Lưu Bang đã đánh giá: "Trấn thủ quốc gia, vỗ yên trăm họ, cung cấp lương thực." Tiêu Hà đã lập nên nhiều công lớn.

Ông cũng là một người có tầm nhìn sâu rộng. Khi Hạng Vũ hủy điều ước "người nào vào được cửa thành trước thì làm vua Hán" - tiên nhập quan giả vi Hán Vương - tự phong là Sở Bá Vương, lấy ba quận Ba, Thục, Hán vốn do Lưu Bang cắt đặt, lại xưng là Hán Vương, Lưu Bang biết được, trong cơn thịnh nộ thề quyết một phen sống mái với Hạng Vũ. Song Tiêu Hà đã hết sức can ngăn, cho rằng Ba và Thục tuy ở xa nhưng hiểm, nếu lập tức ra quân chẳng khác gì tìm đến chỗ chết. Lưu Bang đành phải nuốt hận rút quân về bảo toàn lực lượng chờ ngày quyết chiến cùng Hạng Vũ.

Là thừa tướng, Tiêu Hà còn giỏi việc an dân. Trong thời gian Lưu Bang dấn quân lên Trung Nguyên, Tiêu Hà ở lại giữ Hán Trung, không chỉ an định được lòng người mà còn thực hiện xuất sắc việc cung cấp quân nhu cho tiền phương, thể hiện tư tưởng chiến lược "bình trung kiến kỳ" - thấy cái lạ trong cái thường - cũng là thể hiện tài năng trong những việc tưởng như nhỏ bé, bình thường.

"Tiêu Hà thường di từ Hán Trung điều quân bổ sung nơi thiếu... đương khi Hán Sở giữ nhau ở Huỳnh Dương mấy năm, quân không có lương thảo, Tiêu Hà đã vượt Quan Trung cấp cho đủ. Bệ hạ tuy để mất Sơn Đông song Tiêu Hà vẫn luôn túc trực giữ an toàn Quan Trung để đợi bệ hạ, đó kể cũng là công lớn... Tiêu Hà xứng đáng ở ngôi đầu."

- Hán thư, Tiêu Hà Tào Tham truyện.

Biện pháp trị nước của Tiêu Hà rất xuất sắc, ông lại có nhiều mưu sâu rất đắc dụng và có viễn kiến chính trị. Như việc quân Hán phá được Hàm Dương, Tiêu Hà không hề để ý tới việc cướp được bao nhiêu của cải mà chỉ chăm chú tìm hiểu, sưu tập những tư liệu, giấy tờ về quân sự và chính quyền, trở thành tình báo số một giúp Lưu Bang đánh thắng Hạng Vũ.

"Khi nhiều tướng khác đều đang tranh giành phân chia vàng bạc của cải thì riêng Tiêu Hà lại đi lục tìm trong kho sách những luật lệnh của Tần thừa tướng, ngự sử."

- Sử ký, Tiêu tướng quốc thế gia.

Tiêu Hà đã trấn thủ Hán Trung bao nhiêu năm, đức cao vọng trọng song tâm trí không gợn chút toan tính tranh quyền đoạt lợi. Đây cũng là phẩm chất rất đáng ngợi khen ở ông.

Lập bệ bắt Hàn Tín, ra sức tiến cử Tào Tham

Hàn Tín là người Hoài Âm, là một tài tướng trí dũng song toàn, lúc đầu theo Hạng Vũ nhưng chưa được trọng dụng thì lại theo về với Lưu Bang, sau trở thành nhân vật quan trọng số một trong cuộc Hán Sở tương tranh của Lưu Bang và Hạng Vũ. Từng hiến kế cho Lưu Bang đoạt cửa ải, lại giúp Lưu Bang "phá Triệu lấy Tề", sau đó cùng với Lưu Bang dốc sức trong trận chiến với Hạng Vũ, buộc Hạng Vũ phải tự sát ở dòng Ô Giang. Đối với Lưu Bang, Hàn Tín có công khai quốc, đã vì giang sơn của Lưu Bang mà lao tâm dốc lực. Ông rất giỏi dùng binh, hậu thế còn mãi lưu truyền những lời ca ngợi "Hàn Tín dùng binh, điêu luyện thần tình" để nói lên tài năng của ông. Hàn Tín xuất thân hèn mọn, có thể chịu được nỗi nhục để mưu việc lớn, thời trẻ từng phải chịu nỗi nhục "chui qua háng".

Tiêu Hà từng hết lòng tiến cử Hàn Tín. Đây cũng là một công lớn của Tiêu Hà. Ông nói với Lưu Bang: "Hàn Tín là kẻ quốc sĩ có một không hai. Nhà vua nếu cứ muốn làm vương mãi ở Hán Trung thì chẳng cần Tín làm gì, chứ nếu muốn tranh lấy thiên hạ thì ngoài Tín ra chẳng có thể bàn công việc với ai."

Câu chuyện "Tiêu Hà đuổi theo Hàn Tín dưới ánh trăng" đã trở thành giai thoại được hậu thế lưu truyền. Nhưng về sau Hàn Tín bị tố cáo mưu phản, bị Tiêu Hà, Lữ Hậu lừa đến cung Trường Lạc và giết. Đó là mưu kế của Tiêu Hà, giả truyền Hán Vương sẽ đến cung Trường Lạc để nhận triều bái của chư hầu. Cung Trường Lạc rất gần chỗ ở của Hàn Tín, Tín không thể không đến, không biết đó là kế hãm hại mình, vì thế đã bị bắt. Việc Tiêu Hà tiến cử rồi lại hại chết Hàn Tín, toàn bộ đều xuất phát từ lợi ích của Lưu Bang, không mang tình nghĩa cá nhân trong đó. Thật đúng là "thành cũng do Tiêu Hà mà bại cũng do Tiêu Hà".

Một công lao nữa của Tiêu Hà là đã tiến cử Tào Tham. Tào Tham là một lão thần đắc dụng của Lưu Bang, có những công lớn trong triều, lại từng có mâu thuẫn với Tiêu Hà. Trước khi chết, Tiêu Hà đã đề nghị Lưu Bang đưa Tào Tham lên làm thừa tướng thay mình, không hề tỏ chút đố kỵ, ghen ghét. Điều này đã cho thấy cách nhìn rất thoáng, lòng dạ rộng rãi, độ lượng của nhà mưu lược chính trị Tiêu Hà.

"Tiêu Hà ốm, Hoàng thượng đích thân tới thăm bệnh, nhân đó hỏi rằng: sau khi tiên sinh trăm tuổi, ai có thể thay được? Tiêu Hà đáp: không ai hiểu triều thần bằng chúa thượng. Vua nói: Tào Tham thế nào? Tiêu Hà gật đầu nói: chúa thượng được người ấy, thì tôi chết cũng không hận gì!"

- Hán thư, Tiêu Hà Tào Tham truyện.

Tiêu Hà tìm cách tránh sự nghi kỵ của Cao Tổ

Tiêu Hà tuy đã cùng với Lưu Bang, bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa ở huyện Bái, từ đó mười mấy năm vào sinh ra tử, đồng cam cộng khổ, nhưng rồi cũng không tránh khỏi những nghi kỵ quân chủ thường tình của giai cấp thống trị. Đối với điều này, Tiêu Hà luôn bày tỏ một thái độ rất thẳng thắn và khéo léo. Như việc Cao Tổ phong cho Tiêu Hà nhưng Tiêu Hà từ chối không nhận, mà lại lấy tài sản riêng quyên hiến cho quân đội, vì thế mà được Lưu Bang rất khen ngợi. Tiêu Hà lại đưa mười người trong gia đình mình theo vào tùy tùng của Lưu Bang.

"Đến như Tiêu Hà, thân cao vọng trọng, đã đem mình theo ta, một ông ấy bằng bao nhiêu người khác, lại còn cử ra mười người trong gia tộc theo hầu ta, công lao ấy thật không thể nào quên!"

- Hán Cao Tổ, Hán thư, Tiêu Hà Tào Tham truyện.

Tiêu Hà còn tham khảo, lựa chọn ý kiến của các thuyết khách, để giúp ông tránh được những nghi kỵ, ngờ vực của Lưu Bang. Thuyết khách nói: "Gia tộc của ngài có thể gặp họa bất trắc, ngài ở ngôi tướng quốc công đầu, hỏi còn có được ai hơn? Nay ngài vào Quan Trung và thu phục được nhân tâm, mới hơn mười năm mà dân chúng đều theo về ngài, hết lòng ủng hộ ngài. Nhà vua sở dĩ nhiều lần dò xét, hỏi thăm là do sợ ngài tạo phản ở Quan Trung. Nay ngài hãy nên mua nhiều ruộng đất, lại cho vay nợ lãi để tự bôi xấu mình thì chúa thượng sẽ an tâm." Đó là lời khuyên Tiêu Hà nên giả bộ chỉ ham phú quý mà không mưu cầu gì về chính trị, tất có thể trừ bỏ được sự ngờ vực, đề phòng của Lưu Bang. Tiêu Hà thấy có lý liền làm theo. Quả nhiên Cao Tổ sau khi thăm dò biết được, liền an tâm mà cười, vờ là tìm Tiêu Hà kiểm thảo.

Biện pháp mà thuyết khách nêu ra không phải là tích cực, thậm chí còn giúp thoát tội cho nhiều kẻ lợi dụng có chút công lao mà hưởng lợi, sống xa hoa phú quý. Tiêu Hà luôn phản đối mọi sự xa xỉ. Ông từng liều chết can ngăn Cao Tổ hãy nên trả lại ruộng đất cho dân - vốn bị vua chiếm làm đất đi săn - Cao Tổ nổi cơn thịnh nộ, mạt sát ông là đã ăn của đút lót của dân, muốn giết ông. Sau được cả triều thần ra sức can ngăn, Tiêu Hà mới thoát khỏi tội chết.

"Tướng quốc nay đã vì dân mà liều chết, ta không bằng lòng, chẳng hóa ta thành Hạ Kiệt, Trụ Vương, tướng quốc lại là hiền tướng. Ta từng phạt ông thì trăm họ sẽ trách giận ta."

- Hán Cao Tổ, Sử ký, Tiêu tướng quốc thế gia.

Như vậy, Tiêu Hà là vị tướng quốc vừa giỏi trị quốc lại biết trị kỷ. Ông đã xử lý rất thích đáng những mối quan hệ quân thần, thần dân, dưới thì được sự ủng hộ tin tưởng của trăm họ, trên thì được quân vương tin tưởng, trọng dụng. Cuối cùng, không giống như những vị tể tướng công cao mà kết cục bi thảm khác, Tiêu Hà trước sau vẫn bảo toàn được thân danh, chứng tỏ sự khác biệt và trọn vẹn trong triết lý ứng xử của mình. Vì vậy có thể xem Tiêu Hà là một hiền tướng nổi danh vào bậc nhất trong số các thừa tướng của vương triều phong kiến Trung Quốc.

Phạm Lãi giả ngây dại và bài học chim hết thì cung phải cất

Giả vờ ngây dại, ngầm tìm minh chủ

Phạm Lãi là nhà mưu lược chính trị trác việt thời kỳ trước nhà Tần, đã từng giúp Việt Vương Câu Tiễn phục quốc rửa thù, viết nên câu chuyện nổi tiếng trong lịch sử, được hậu thế ngợi ca.

Phạm Lãi trước khi được trọng dụng đã từng giả vờ ngây dại, mai danh ẩn tích, không để lộ mình, quyết chí nếu không gặp được minh chủ thì sẽ không hiến cái trí thức của mình. Văn Chủng nói về Phạm Lãi: "Người đã giả vờ ngây dại tất thuộc loại phi phàm, Phạm Lãi chính là một tú nhân đang mai danh ẩn tích vậy." Biết nhiều thì phải giả ngu, đây là cái đạo để bảo toàn thân danh của các bậc tiên triết. Lão Tử đã từng dạy "kẻ tuyệt khéo phải giả vụng về" - đại xảo nhược chuyết, Đạo đức kinh. Các bậc danh nhân chí sĩ cổ xưa thích dùng mọi hình thức để ẩn mình, mục đích là để ngầm tìm kiếm minh chủ, đợi có thời cơ sẽ xuất đầu lộ diện, như Khổng Minh lấy hiệu Ngọa Long, Bàng Thống lấy hiệu Phục Phượng ẩn trong rừng núi cả thời gian dài.

Phạm Lãi ba lần can Việt Vương Câu Tiễn

Đặc điểm trong mưu lược của Phạm Lãi chính là ở chỗ có mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa duy vật biện chứng đơn giản thời cổ đại. Đặc biệt, Phạm Lãi đã vận dụng những lý luận "tổn ích, cương nhu, âm dương" của Kinh Dịch vào mưu lược của mình, đồng thời lợi dụng thành thục các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa, từ đó thuận ứng và điều khiển quy luật khách quan. Vì thế mà đã giúp được cho Việt Vương chuyển từ thế yếu sang thế mạnh.

Lần can ngăn thứ nhất là khi Ngô Vương Hạp Lư bị đánh trọng thương mà chết, con trai là Phù Sai lên kế vị, chuẩn bị khởi binh báo thù cho cha. Việt Vương Câu Tiễn muốn ra tay trước, thừa lúc Ngô Vương còn chưa tiến đánh, nhưng Phạm Lãi ngăn lại, nói rằng: "Không nên. Tôi nghe nói việc binh là điều gở, đánh nhau là việc trái với đức, tranh nhau là việc thấp nhất... nếu làm là bất lợi." Việt Vương không nghe, quyết phát binh tiến đánh, cuối cùng đại bại ở Cối Kê, trở thành tù nhân của nước Ngô.

Lần can ngăn thứ hai chính là lúc Câu Tiễn được thả về nước, quyết chí nằm gai nếm mật, không ăn thịt động vật, không mặc áo hai màu, tích cực chuẩn bị cho cuộc phục thù. Hơn mười năm sau, gặp lúc nước Ngô bị nạn lụt, Câu Tiễn muốn thừa cơ này tiến đánh. Phạm Lãi ngăn rằng: "Thiên thời tuy đã đến nhưng việc người vẫn chưa xong, đại vương phải tiếp tục chờ đợi."

Lời can ngăn thứ ba là lúc Việt Vương Câu Tiễn thừa lúc Ngô Vương bị thương trong trận chiến với nước Tề, lại thêm việc mưu thần của họ Ngô là Ngũ Tử Tư bị giết, triều thần hỗn loạn, lại gặp phải thiên tai mất mùa. Phạm Lãi nhận thấy thời cơ đã đến, Việt Vương rốt cuộc cũng cất quân đi phạt nước Ngô. Nước Ngô trong tình thế trong ngoài đều rối loạn đã bị nước Việt đại phá. Ngô Vương quỳ gối trước Câu Tiễn cầu khẩn xin tha tội như đã từng được tha ở Cối Kê. Câu Tiễn mềm lòng, định thả cho Phù Sai đi nhưng Phạm Lãi ngăn lại, nói: "Việc lo lắng hai mươi năm trời nay có nên một sớm bỏ đi không?... Nhà vua đã quên tai nạn ở Cối Kê rồi sao?" Phạm Lãi kiên quyết cự tuyệt nguyện vọng của Phù Sai. Từ đó đã kết thúc được cuộc chiến tranh trường kỳ giữa hai nước Việt Ngô.

Cẩn thận kín kẽ từ đầu đến cuối

Sau khi nghiệp lớn của Việt Vương đã thành, Phạm Lãi liền cáo từ ra đi. Trong thư ông viết cho Văn Chủng có câu nói nổi tiếng lưu truyền hậu thế:

"Chim đã hết thì cung tốt phải cất, thỏ khôn đã chết thì chó săn phải nấu. Vua Việt là người cổ dài, miệng diều hâu, có thể cùng lo lúc hoạn nạn, nhưng không thể cùng vui sướng với ông ta."

- Phạm Lãi, Sử ký, Việt Vương Câu Tiễn thế gia.

Văn Chủng vì không nhìn hết được con người Việt Vương mà cuối cùng bị Việt Vương ép phải rút gươm tự sát. Quân chủ phong kiến phần lớn đều là những kẻ có thể cùng chung hoạn nạn nhưng không thể cùng hưởng yên vui phú quý, khi công thành nghiệp tựu lại lo những bậc có công lao lớn sẽ lấn át chủ nên tìm cách trừ bỏ những bậc công thần bằng thủ đoạn tương đối cao cường.

Vì đã có rất nhiều tấm gương để lại trong lịch sử cho nên các nhà mưu lược chính trị cũng đều phải chuẩn bị cho mình những kế sách phòng thân tránh nạn. Như Tiêu Hà phải giả vờ tham lam hưởng thụ, Trương Lương tìm chốn ẩn mình, Tư Mã Ý giả lâm bệnh nặng... chính là vì họ đều hiểu rõ tâm lý muốn độc chiếm quyền lực của các bậc thống trị phong kiến nên đến khi công thành đều phải nghĩ kế rút lui, tìm cách bảo toàn thân danh. Việc Phạm Lãi ra đi không từ biệt chính là vì ông hiểu rõ cái quy luật ấy của những kẻ thống trị phong kiến, đó cũng là khả năng nhìn cái nhỏ mà biết cái lớn để ẩn hiện hợp thời của ông, và đó cũng chính là khí tiết của một nhà mưu lược chính trị vừa giỏi trị quốc lại biết trị kỷ.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện