Bài tổng quan
Cứng mềm, động tĩnh, tụ tán: bảy cặp tương phản của đất
Lúc đất trời còn là một khối mây khói mịt mù, gió và khí va nhau, nước và đất xô nhau, cái cứng nổi lên thành núi còn cái mềm chìm xuống thành sông. Từ buổi ấy, người xem đất phải học đọc từng cặp đối nghịch: cứng và mềm, động và tĩnh, tụ và tán. Vì sao nơi huyệt kỳ quái lại có thể là huyệt thật, còn nơi huyệt đẹp đẽ lại có thể là huyệt giả?
Cứng và mềm: cái gốc của mọi thế đất
Kinh Dịch nói rằng đạo dựng nên trời là âm với dương. Trâu công nói thêm: cứng với mềm là điều bao hàm đạo dựng nên đất. Vì vậy phép xem cương nhu được đặt làm chỗ then chốt hàng đầu của địa lý phong thủy, bởi cứng mềm chính là đặc tính gốc của đất. Buổi trời đất mới mở, mây khói mịt mù, chưa có sông núi như hôm nay. Rồi gió và khí cọ xát vào nhau, nước và đất xô đẩy lẫn nhau. Thứ nào cứng mạnh thì nổi lên mà tồn tại, thứ nào mềm yếu thì tan đi và chìm lấp. Sông và núi cứ thế dần dần thành hình.
Thể của núi thì cứng mà cách dùng của nó lại nhu nhược, cho nên núi cao sừng sững và đứng yên bất động. Thể của nước thì mềm mà cách dùng của nó lại cương cường, cho nên nước thường nằm ở chỗ thấp và chảy mãi không ngừng. Ấy là trong cứng có mềm, trong mềm có cứng.
Trâu công xếp Thủy là thái nhu, Hỏa là thái cương, Thổ là thiếu nhu, Thạch là thiếu cương. Bốn thứ ấy là bốn hình tượng chung của địa lý. Nước giống huyết mạch trong thân người nên là thái nhu. Lửa giống khí mạch nên là thái cương. Đất giống da thịt nên là thiếu nhu. Đá giống xương cốt nên là thiếu cương. Hòa lửa, nước, đất, đá làm một thể thì thành mặt đất, cũng như hợp xương, máu, khí và da thịt làm một thì thành thân con người.
Nhìn cho kỹ sẽ thấy: những gì khô khan, lồi lõm đều là cứng, những gì bằng phẳng tươi nhuận đều là mềm. Thế nhưng ngay giữa chỗ khô héo lồi lõm vẫn có nơi bằng phẳng tươi nhuận, nên mới nói trong cứng có mềm. Những gì mạnh mẽ, cao vút, gấp gáp đều là cứng, những gì dịu dàng, chậm rãi đều là mềm. Nhưng trong cái mạnh mẽ vẫn có chỗ dịu dàng, trong cái dịu dàng vẫn có sức cương cường, nên mới nói trong mềm có cứng.
Động và tĩnh: khi núi biết đi, khi nước biết dừng
Hiểu rõ cứng mềm rồi thì phải hiểu đạo lý động tĩnh. Động tĩnh chính là sự biến hóa thông suốt. Đạo vận hành của trời đất và vạn vật là tìm sự lặng yên ngay trong chỗ sôi động và tìm sự sôi động ngay trong chỗ lặng yên. Tuyệt nhiên không phải đã lặng rồi lại càng lặng thêm, đã động rồi lại càng động hơn.
Nước vốn chảy không ngừng, người lại cần nó dừng lại. Núi vốn đứng yên, người lại mong nó đi không nghỉ.
Lời cổ nhân ấy thật đúng. Núi lấy yên tĩnh làm trạng thái thường, chỉ vì núi không vận hành. Nếu núi vận hành không ngừng thì nó thành long mạch. Nước lấy chảy xiết làm trạng thái thường, chỉ vì nước không đứng lại. Nếu nước dừng lại thì nó có thể kết thành huyệt.
Bởi vậy núi non thành long mạch thì chắc chắn phải nhấp nhô sôi động, còn nước chảy mà kết thành huyệt thì nhất định phải uốn lượn quanh co. Nếu núi thẳng cứng và thô, dẫu có đi cũng chẳng biến hóa, đổi thay, chẳng khác nào chuyển từ một trạng thái tĩnh sang một trạng thái tĩnh khác. Nước mà không uốn lượn, không quanh co, không mềm mại thì cũng giống hệt như núi vậy. Khi ấy núi và sông không thể giao kết với nhau. Nước phải uyển chuyển quanh co thì mới có chỗ để gặp núi, núi phải nhấp nhô biến đổi thì mới có chỗ để đón nước.
Tuy vậy, một động một tĩnh vẫn tuần hoàn mãi. Núi cũng có lúc chạy đến cùng cực rồi dừng lại, nước cũng có lúc yên đến cùng cực rồi chảy đi. Đừng giữ chặt lấy một điều mà nhắm mắt nói bừa.
Tụ và tán: dáng chung của núi sông
Sau động tĩnh là xem tụ tán. Tụ tán nói về thế đi và hình thái chung của núi sông. Khi núi và nước hội tụ thì đó là sự kiến tạo tự nhiên của trời đất, lấy bớt chỗ dư và bồi đắp chỗ thiếu. Vì thế núi sông nhỏ thì địa lý có tiểu thành, núi sông lớn thì địa lý có đại thành, còn nếu phân tán thì không thể thành địa lý.
Tụ là gì? Là các dãy núi giao kết với nhau, nước sông giao hội và tập hợp, gió và khí được giấu kín. Tán là gì? Là các dãy núi rời ra bốn bề, nước sông tan đi mất dấu, gió và khí thổi tản mát một cách khắc nghiệt.
Người đời nay bàn địa lý thường không hiểu thế tụ tán. Thật ra nếu đất tụ thì huyệt có hình dáng càng quái lạ càng là đại thế chân chính, còn nếu đất tán thì huyệt càng đẹp đẽ lại càng là giả. Quan sát mồ mả của người xưa sẽ thấy phần nhiều là huyệt có hình dáng kỳ quái chứ không phải huyệt đẹp đẽ. Những huyệt kỳ lạ ấy đã nắm được chính thế của núi và nước, cho nên huyệt kỳ quái lại chính là huyệt thường đạo. Bây giờ người ta hay câu chấp vào hình dáng cụ thể của huyệt nên không dùng quái huyệt.
Tụ tán còn chia làm hai loại: tụ tán của đại thế và tụ tán ngay trong huyệt. Đứng xa mà ngắm tụ tán của đại thế, lại bước gần mà xét tụ tán trong huyệt. Hai thứ ấy phải nâng đỡ nhau, cùng thành, thiếu một thứ cũng không được.
Hướng và bối: tình ý của núi với nước
Kế đó là xem hướng bối. Hướng bối nói về tính tình của núi nước. Diện mạo của đất và việc của người đều có phân âm dương. Tính tình con người muôn hình muôn vẻ, nên có thể nhìn tính tình người mà hiểu rõ hướng bối của đất. Núi nước hướng về ta thì ắt có ý bao bọc, hòa hợp, chu toàn. Núi nước quay lưng với ta thì ắt có ý ngang trái, phản nghịch. Bề ngoài có thể đẹp đẽ tươi tốt, nhưng đó chỉ là vẻ giả tạo và rốt cuộc diện mạo ấy sẽ lộ ra.
Cho nên muốn xem diện mạo của đất, trước hết phải xem hướng bối của nhân tình. Tình hướng thì dễ thấy: đối mặt nhau như bầy tôi cung kính trước quân vương, như chủ với khách thương mến nhau, như anh em ruột thịt đỡ đần lẫn nhau. Tình bối thì khó thấy hơn: núi nước nhìn nhau như kẻ thù, đánh nhau như người xa lạ, đều là cảnh quay lưng với nhau.
Chỉ nhìn diện mạo của đất thì sẽ bị lừa gạt và mê hoặc. Xét tính tình của nó là hướng hay bối thì tình hình sáng tỏ. Đã rõ hướng bối của đất thì cát hung họa phúc tự hiện ra. Cũng như xem người, nhìn dung mạo thôi chưa đủ, phải xét tính tình mới biết lòng họ hướng về mình hay quay lưng với mình.
Thư và hùng: sự đối ứng giữa âm và dương
Kế nữa là xem thư hùng, tức sự phối hợp và ứng đối của núi nước. Chỉ có dương thì không có sinh sôi, chỉ có âm thì không có lớn lên. Trong trời đất, vạn sự vạn vật chẳng có thứ nào tồn tại mà không có chỗ ứng đối phối hợp.
Các nhà phong thủy bàn bằng thư hùng chẳng qua là nói đạo tương hỗ ứng đối. Căn cứ vào đâu? Núi thuộc âm, nước thuộc dương, nên hễ núi hội tụ kết hợp thì ắt gặp nước quanh co uốn lượn bao bọc. Thế vận hành của núi tuy thuận theo nước mà đến, nhưng hình thái của nó lại nghịch với nước mà thành. Núi và nước đối nhau, có thư có hùng, mà bản thân mỗi bên cũng tự phân thư hùng riêng.
Long dương thì chọn huyệt âm, long âm thì chọn huyệt dương: đó là long và huyệt phối hợp, ứng đối để giữ lấy thư hùng. Núi dương lấy âm làm bạn đối, núi âm lấy dương làm bạn đối: đó là chủ khách thương mến nhau, có thư có hùng. Ở nơi nào đã ngưng kết tụ hội thì thư hùng ắt cùng ứng hợp. Long với huyệt, sa với nước, bên trái với bên phải, chủ với khách đều ứng hợp với nhau như vậy.
Nếu chỉ có thư hoặc chỉ có hùng mà không kết hợp thành đôi thì dẫu thế đất có tụ có cát cũng chẳng thể gọi là tốt đẹp. Vì thế khi đến một nơi, đừng chỉ hỏi có núi hay có nước, mà phải hỏi núi ấy đã có nước ứng đối chưa và nước ấy đã có núi phối hợp chưa.
Mạnh và yếu: khí bẩm sinh của đất
Kế đến là xem cường nhược, tức khí bẩm sinh của đất. Đạo vận hành và tồn tại của trời đất lấy sự bình hòa và ngay chính làm gốc. Cứng quá thì gãy, mềm quá thì nhược. Bởi vậy phải lấy sự mềm mại nâng đỡ chỗ cứng rắn, lấy sự cứng rắn bù cho chỗ mềm mại. Cứng mềm nương nhau thì mới đạt đạo trung hòa.
Bàn về địa hình thì phải xét kỹ khí bẩm sinh của nó. Khí bẩm sinh thiên về mềm hòa thì tính tình ắt bình ổn, hiền hòa. Khí bẩm sinh thiên về cứng rắn thì tính tình ắt cương cường, nóng vội.
Đất có khí cương cường, tính nóng vội thì huyệt nên chọn chỗ thấp và bằng phẳng mà đặt. Nếu lại dựng huyệt ở nơi địa thế gấp gáp thì ắt gặp họa tuyệt tự. Ngược lại, huyệt có khí mềm hòa, tính bình hòa thì hợp với việc dựng ở nơi gấp gáp, cương cường, bằng không ắt lụn bại.
Đặt huyệt ở nơi khí cương cường, tính nóng vội sẽ làm tổn hại long mạch. Còn đặt huyệt nhu nhược ở nơi vốn đã mềm hòa thì lại rời xa long mạch. Cho nên phép định chỗ dựng huyệt phải cân nhắc thật kỹ lưỡng, không được thiên lệch. Bằng không sẽ rơi vào cực đoan và tai họa nối nhau ập xuống. Người xem đất phải biết nơi mình đứng thuộc loại khí nào rồi mới chọn cách đặt huyệt cho hợp, chứ không thể đem một phép áp cho mọi nơi.
Thuận và nghịch: nguồn đến và nơi về
Kế tiếp là phân biệt hình thế thuận nghịch. Thuận nghịch nói về sự đến và đi của đất trong núi sông. Đến (lai) là nguồn của nước và nơi xuất phát của núi. Đi (khứ) là mọi xu thế nước quy tụ và quay về. Biết rõ lai khứ rồi thì biết được hình thế thuận nghịch của núi nước.
Thuận trong chữ thuận sơn thuận thủy là từ nơi phát nguồn của sông núi mà thuận thế chạy đến. Nghịch là long từ nơi quy tụ và dừng lại của núi nước mà nghịch thế chạy đến. Phép lập huyệt là giữ cái nghịch trong cái thuận, lấy cái thuận trong cái nghịch. Đây là đạo lý không thể đổi dời. Nói rộng ra thì long mạch có phân thuận nghịch, nước cũng có thuận nghịch khác nhau. Huyệt của long thuận phải nghịch với thế kết tụ, và ngược lại.
Tóm lại, muốn xem thuận nghịch của núi nước thì trước hết phải xét kỹ đại thế, tức hình thế chung. Phải đứng ngoài xa vài dặm mà ngắm đại thế thì mới nhận rõ được thế thuận nghịch của núi nước trong khoảng vài thước. Bằng không vàng với thau lẫn lộn, đen với trắng không phân minh.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
