Bài tổng quan
Tam nguyên, sao gặp sao và phép lập quẻ khi dời nhà
Mỗi căn phòng dựng thêm là một vạch hào, hào lẻ cho dương, hào chẵn cho âm, và khi sáu vạch đủ, ngôi nhà bỗng trở thành một quẻ Dịch mang tên một ngôi sao cát hoặc hung. Người xưa tính cả chuyện dời từ đông bắc sang tây nam sẽ gặp Thiên Y hay Tuyệt Mệnh. Vì sao một cái bếp, một con đường lại chọn được quẻ...
Mục lục · 17 phần
- 01Tam nguyên: cung sinh hay khắc thì ứng vào người, đất, hay gia súc
- 02Bài ca cát hung của chín sao
- 03Sao và cung hợp nhau thì sinh khí dồi dào
- 04Ba sao cát đúng vị trí
- 05Trong khắc ngoài, ngoài khắc trong
- 06Bài ca ngũ hành sinh khắc
- 07Sao gặp sao: cùng loại vui, khác loại giận
- 08Hưng phế của ngũ hành theo số, và khí sao theo tháng
- 09Ngũ hành khắc nhau thì sinh bệnh gì
- 10Mỗi nhà một quẻ: khí khẩu của bát trạch
- 11Tìm trung cung của ngôi nhà
- 12Dựng nhà mới: vạch hào để biết nhà thành quẻ gì
- 13Dời nhà: từ đông bắc sang tây nam thì thành quẻ gì
- 14Đường qua lại, lửa bếp và phép tạo quẻ của Huyền Không
- 15Xích Tùng Tử bàn về khói lửa trong nhà
- 16Dời từ đông nam sang đông bắc, từ đông bắc sang đông nam
- 17Dời từ chính đông sang chính tây
Tam nguyên: cung sinh hay khắc thì ứng vào người, đất, hay gia súc
Cửu cung dưới đất và cửu tinh trên trời sinh khắc nhau, và từ đó chia thành ba nguyên: Thiên, Địa, Nhân. Cung sinh cung, cung khắc cung là Thiên nguyên. Cung sinh sao, cung khắc sao là Địa nguyên. Sao sinh cung, sao khắc cung là Nhân nguyên.
Thiên nguyên chủ về nhân đinh, Địa nguyên chủ về điền sản, Nhân nguyên chủ về gia súc. Cung sinh cung thì nhân khẩu hưng vượng. Cung sinh sao thì ruộng vườn tài sản gia tăng. Cung khắc sao thì gia sản suy bại. Sao sinh cung thì gia súc đông đúc. Sao khắc cung thì gia súc chết sạch. Dương khắc cung âm thì phụ nữ bất lợi; âm khắc cung dương thì đàn ông bất an.
Các quan hệ tuy nhiều nhưng có thể quy về một mối: sự kết hợp giữa quan hệ của sao và khí âm dương. Đó là cái khí gốc mà sự vật nào cũng có thể áp dụng.
Bài ca cát hung của chín sao
Phục Vị, Thiên Y phúc khí dồi dào; Diên Niên, Sinh Khí vô cùng cát lợi. Ngũ Quỷ, Liêm Trinh hung khí kéo đến ngay. Thủy tinh Văn Khúc khó bề hưng vượng. Tuyệt Mệnh là sao gây nhiều tai họa. Tả Phụ, Hữu Bật tính khí thất thường, tùy đi cùng sao hung hay sao cát mà tốt hay xấu.
Sao và cung hợp nhau thì sinh khí dồi dào
Trên trời có cửu tinh, dưới đất có cửu cung. Sao và cung phối hợp hòa hợp thì sinh khí dồi dào. Âm dương khác nhau thì người và của chẳng còn. Âm dương tương sinh thì phú quý lâu dài. Các sao chủ các nhà, từ đó suy ra dấu tích của cả gia tộc.
Nếu sao của cổng lớn cát lợi mà các nơi còn lại đều không cát lợi thì lập tức đoán là hung. Cổng lớn, cổng sau đều cát lợi nhưng lại bị đường nước hoàng tuyền xung phá thì cũng hung. Nếu cổng nhà hợp với đường nước thì con cháu hiền lương, gia nghiệp hưng vượng.
Ba sao cát đúng vị trí
- Sao Tham Lang thuộc Mộc ở phương bắc thuộc Thủy: Mộc Thủy đắc vị, chủ có năm con trai, mười cháu trai, đều tuấn tú, vinh hiển lâu dài. Nếu đến phương đông là Chấn, Tốn thì hai Mộc thành rừng, con em đi thi đều chiếm bảng vàng.
- Sao Cự Môn thuộc Thổ ở phương nam: con cháu phát đạt, hưng vượng, phú quý lâu dài. Nếu cổng lớn là sao Cự Môn thì sinh khí ở hướng sao Vũ Khúc là Kim tinh; nếu cổng lớn là sao Lộc Tồn thuộc Thổ thì sinh khí ở hướng sao Phá Quân, cũng là Kim tinh.
- Sao Vũ Khúc thuộc Kim ở phương nam thuộc Hỏa: Kim gặp dương Hỏa được luyện thành khí huyết tốt đẹp, gia nghiệp hưng vượng, hanh thông. Nếu còn tương sinh đắc vị với Thổ thì con em trong nhà thi đỗ trạng nguyên.
- Sao Văn Khúc thuộc Thủy ở trung ương thuộc Thổ: bị khắc, trở thành hung tinh. Phải sớm áp chế hung tinh thì con cháu mới thi cử đỗ đạt.
Trong khắc ngoài, ngoài khắc trong
Trong khắc ngoài thì còn khả năng ngăn chặn hung hiểm. Ngoài khắc trong thì khó tránh tai nạn. Ngoài sinh trong thì phúc lộc đến nhà ngay. Trong sinh ngoài thì gia đạo cũng có thể hưng vượng. Trước hết phải căn cứ ngũ hành, cửu tinh tương khắc, âm dương phối hợp; rồi xét tới sự thống nhất của Tam nguyên (Thiên, Địa, Nhân) để luận đoán nhân đinh, tiền tài, gia súc.
Bài ca ngũ hành sinh khắc
Ngũ hành tương sinh thì gia đình phú quý, quan vận hanh thông. Ngũ hành tương khắc thì tai họa liên miên, gia đình suy bại. Kim vào cung Thủy, nhiều việc hung. Hỏa vào cung Kim thì có hỏa hoạn. Mộc khắc Thổ thì ai oán khóc than. Kim Thủy tương sinh thì không sợ tai họa. Thủy Hỏa xung khắc thì lao đao khốn khổ. Hỏa Kim xung khắc thì bệnh tật triền miên. Nếu hóa được khắc thành sinh, đủ sinh khí để trong khắc ngoài, thì tai họa sẽ giảm.
Sao gặp sao: cùng loại vui, khác loại giận
- Tham Lang gặp Liêm Trinh: trong nhà sinh đạo tặc.
- Cự Môn gặp Liêm Trinh: nhà có con bất hiếu, phản nghịch.
- Lộc Tồn gặp Liêm Trinh: nhà bất hòa.
- Văn Khúc gặp Liêm Trinh: nếu không làm loạn thì cũng phải đi lính nơi biên ải.
- Tham Lang gặp Tham Lang: nam nữ ôn hòa, hiền thục, giỏi văn thơ, gia đình no đủ, con cháu hưng vượng.
- Cự Môn gặp Cự Môn: gia đình no đủ, bình an.
- Lộc Tồn gặp Lộc Tồn: người và của tiêu tán.
- Văn Khúc gặp Văn Khúc: đàn ông tham lợi, phụ nữ dâm đãng, gia sản suy bại, lưu lạc tha hương.
- Vũ Khúc gặp Vũ Khúc: phúc lộc cũng đến.
- Phá Quân gặp Phá Quân: trộm cướp, gian tà.
- Tả Phụ gặp Hữu Bật: con cháu hiếm hoi, phụ nữ làm bại hoại gia phong.
Hưng phế của ngũ hành theo số, và khí sao theo tháng
Ngũ hành hưng phế có quy tắc nhất định, phải nắm chắc sinh khắc. Có thể từ quẻ ngũ hành mà suy đoán: Thủy một, Hỏa hai, Mộc ba, Kim bốn, Thổ năm.
Khí của sao cũng đổi theo tháng: tháng Giêng là sao Liêm Trinh, tháng Hai là Vũ Khúc, tháng Ba là Phá Quân, tháng Tư là Tả Phụ, tháng Năm là Hữu Bật, tháng Sáu là Tham Lang, tháng Bảy là Cự Môn, tháng Tám là Lộc Tồn, tháng Chín là Văn Khúc, tháng Mười lại là Liêm Trinh, tháng Mười một là Vũ Khúc, tháng Chạp là Phá Quân. Đó là căn cứ theo tháng để xem khí sao, và phải xem kỹ nơi cung và sao hợp nhau.
Ngũ hành khắc nhau thì sinh bệnh gì
- Kim khắc Mộc, chủ chết dữ: dễ bị bệnh gan, viêm phổi hoặc ho lao, lạnh tim, khí bế, đau họng, sầu muộn; có người không chịu nổi mà tự vẫn. Phần lớn là người già và trẻ nhỏ trong nhà mắc bệnh.
- Mộc khắc Thổ, chủ chết vì bệnh: dễ mắc bệnh tỳ vị, ăn không tiêu, ợ chua, mặt vàng gầy yếu, ho có đờm, đau mắt, đau chân. Phần nhiều bà già và bé trai mắc các bệnh này.
- Thổ khắc Thủy, chủ câm điếc: trẻ nhỏ bất lợi, đau mắt, tỳ vị kém, tâm tính thất thường. Sinh nhiều con nhưng chết nhiều, nam nữ đều bất lợi.
- Thủy khắc Hỏa, chủ bệnh tim, động thai, băng huyết, thổ huyết; phụ nữ trong nhà hay bệnh tật. Phần nhiều nam nữ trong nhà hay mắc các bệnh này.
- Hỏa khắc Kim: lao phổi, ho, thổ huyết, mặt bủng da chì hoặc rượu và sắc quá độ. Xung khắc nặng thì đến mức tự vẫn. Bệnh dễ đến với người già và trẻ nhỏ; lại còn tai họa cháy nhà, kiện tụng, thị phi.
Mỗi nhà một quẻ: khí khẩu của bát trạch
Mỗi nhà ứng một quẻ, chủ khí đã định. Tám quẻ đều có khí Tiên Thiên và khí Hậu Thiên. Cổng và cung phối hợp với nhau có tương sinh, tương khắc, tỉ hòa khác nhau, dẫn đến biến hóa cát hung. Nhưng mỗi cung có tượng sao riêng ẩn hiện trong cung trạch. Cát hung của khí sao hoặc vượng suy của chủ khí phối hợp với nhau theo những lối khác nhau. Do đó cát hay hung tùy theo tình huống của khí sao mà định, và cát hung có thể chuyển hóa, cần hóa hung thành cát. Tất cả đều dựa trên ngũ hành bát quái, thông qua tượng sao mà định cát hung.
Tìm trung cung của ngôi nhà
Ở thành thị mà chỉ có một căn nhà thì lấy phần giữa cây cột làm trung cung. Nếu căn nhà có hành lang phía trước thì nên là trước sâu sau nông, lấy phần dưới mái hiên làm trung cung. Nếu phía trước có hành lang, phía sau có chái thì kích thước trước sau phải bằng nhau, lấy giữa cây cột làm trung cung. Có hai phòng ở thì lấy giếng trời giữa hai phòng làm trung cung. Có ba, bốn, năm phòng thì dựa vào sự biến hóa sâu nông của từng phòng.
Hai mươi bốn chữ trên la kinh không co dãn biến hóa, nên việc đo đạc ngoài thực địa phải chuẩn xác, rồi mới từ chính giữa đặt la kinh. Như vậy mới xác định rõ đâu là cửu hung, cửu sát của bát trạch, và trong hai mươi bốn chữ không nhầm chỗ có sát khí với chỗ không có sát khí. Dùng cách này để chọn thời gian, phương vị khai cổng, đặt bếp thì mới chính xác.
Nếu xây trụ sở của châu, phủ, huyện nha hoặc hương thôn thì cách làm không giống thành thị. Chỉ cần dựa vào nơi long huyệt linh tú, lấy đó làm trung cung, rồi thực hiện theo tám cửa, không phải câu nệ phép lấy trung cung trước sau.
Dựng nhà mới: vạch hào để biết nhà thành quẻ gì
Nếu ngồi Khảm, hướng Ly, mở cổng Tốn, tại phương chính nam dựng một am Hỏa, thì tại phương chính bắc xây một phòng cao hoặc lấy lầu làm phòng chính. Như vậy Thủy được Kim sinh, Mộc được Thủy sinh, nhờ đó nhà có căn cơ. Vạch một hào lẻ; nếu tiếp đó xây một phòng phía đông thì vạch thêm một hào lẻ nữa; nếu xây một phòng phía tây thì vạch một hào chẵn. Từ đó trở đi, dù phòng ở phía đông, tây, nam hay bắc, dù là một, hai, ba, mười, mười bốn hay mười lăm tòa, mỗi tòa cứ theo âm dương mà vạch hào chẵn lẻ: âm vạch hào chẵn, dương vạch hào lẻ, chỉ dùng sáu hào, xem thành quẻ gì.
Quẻ Đông thì bố trí phòng phía đông, quẻ Tây thì bố trí phòng phía tây mới cát lợi. Kiền, Khôn, Cấn, Đoài thuộc Tây tứ trạch; Khảm, Ly, Chấn, Tốn là Đông tứ trạch; nhất định phải phối hợp âm dương, nếu không thì cô âm khó có con nối dõi, cô dương thì thiệt hại cho phụ nữ.
Cho nên khi xây nhà mới, nhất thiết phải tính trước nhà thành quẻ gì. Nếu làm một phòng thì chỉ có một hào dương, bên trên vạch thêm năm hào lẻ thành quẻ Bát Thuần Càn. Nếu làm hai phòng, một dương một âm, bên trên vạch bốn hào chẵn, thành quẻ Ký Tế. Thiếu thì bù thành nhiều, nhiều thì giảm thành ít: đó là câu quyết lập quẻ cho nhà mới.
Dời nhà: từ đông bắc sang tây nam thì thành quẻ gì
Nhà ở hướng đông bắc không hợp dời sang hướng chính nam, chính đông, đông nam, chính bắc; nên dời sang tây nam, tây bắc hoặc chính tây. Nếu từ đông bắc dời sang tây nam thì nhà mới là quẻ Khôn, đã có ba hào hình thành. Quẻ trên từ hướng dương tới, biến thành âm, vạch một hào chẵn; đến hào hai từ hướng dương đi, vạch một hào lẻ; rồi lấy chỗ Yêm Hỏa làm hào sơ.
- Nếu ở phòng phía bắc, dương biến thành âm, vạch một hào chẵn, sẽ thành quẻ Địa Thủy Sư là sao Tuyệt Mệnh, chủ hung hiểm.
- Nếu ở phòng phía tây, âm biến thành dương, vạch một hào lẻ, bố trí thành quẻ Địa Trạch Lâm là sao Thiên Y, thì trước cát sau hung.
- Nếu ở phòng phía đông bắc hay tây bắc, dương biến thành âm, vạch một hào chẵn, tuy thành quẻ Địa Thủy Sư, nhưng Kiền Khôn phối hợp thành quẻ Địa Thiên Thái là sao Diên Niên. Khôn phối với Cấn thành quẻ Địa Sơn Khiêm là sao Sinh Khí thì vô cùng cát lợi.
Các quẻ khác theo cách ấy mà suy.
Đường qua lại, lửa bếp và phép tạo quẻ của Huyền Không
Dịch có Thái Cực, từ đó sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, rồi dùng Bát Quái trấn giữ tám phương.
- Càn là trời, là cha, vị trí Tiên Thiên ở phương chính nam.
- Khôn là đất, là mẹ, trong Tiên Thiên ở phương chính bắc. Cho nên nói trời đất định phương vị.
- Cấn là núi, trong Tiên Thiên ở hướng tây bắc; Đoài là đầm, trong Tiên Thiên ở hướng đông nam. Cho nên nói núi đầm thông khí.
- Chấn là sấm, trong Tiên Thiên ở phương đông bắc; Tốn là gió, ở hướng tây nam. Cho nên nói sấm gió giao nhau.
- Khảm là nước, trong Tiên Thiên ở phương chính tây; Ly là lửa, ở hướng chính đông. Cho nên nói nước lửa không dung nhau.
Tám quẻ phối hợp với nhau, từ đó hóa sinh vạn vật. Phương vị Hậu Thiên bát quái, đường khói lửa qua lại đổi hướng, hoàn toàn dựa vào Huyền Không mà thành tượng quẻ. Nếu biến được các quẻ Sinh Khí, Diên Niên, Phúc Đức, Thiên Y thì rất cát lợi, có thể dùng. Nếu gặp các quẻ Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh, Họa Hại, Lục Sát thì rất hung hiểm, không thể dùng. Nói Yên Hỏa là chỉ tượng quẻ do Huyền Không tạo thành, hoặc theo hướng đông tây qua lại, hoặc theo hướng nam bắc dời chuyển; đó đều là khẩu quyết dùng Huyền Không tạo quẻ.
Xích Tùng Tử bàn về khói lửa trong nhà
Trước hết nắm khí của nhà, phân biệt âm dương, định rõ nền đất, đường đi lối lại do Huyền Không tạo. Đổi cổng, tu bổ cần rõ phương hướng, mỗi lần vạch thêm một hào. Căn cứ cổng và đường mà nhận ra đúng chỗ cát tường. Phòng ốc hướng đông bắc dùng làm hào dương, phòng ốc hướng tây nam dùng làm hào âm. Số cổng tam môn phải định rõ, tình hình trong ngoài của mỗi phòng phải xét kỹ. Các hào của quẻ trên và quẻ dưới hợp thành Thể; có hợp mới được phú quý bình an. Đường qua lại là chủ và khách, cửa phòng hướng nào cần biết rõ. Gian bếp là hào bốn. Nhập âm xuất dương phải phối theo kiểu tương sinh. Dời nơi ở cần nắm chắc diệu quyết; cát hung họa phúc đều ở trong đó, chẳng thể xem thường.
Dời từ đông nam sang đông bắc, từ đông bắc sang đông nam
Nếu từ hướng đông nam dời sang hướng đông bắc, đó là Kiền trạch. Đường lửa và khí khẩu cùng hướng dương thì thành quẻ Ly: đuôi quẻ là Kiền Kim, thân quẻ là Ly Hỏa, gốc quẻ là Tốn Mộc, hợp thành ba sao Họa Hại, Tuyệt Mệnh, Thiên Ất. Năm tháng Dần, Ngọ, Tuất chủ tổn hại cho người cha già; năm tháng Tỵ, Dậu, Sửu chủ tổn hại cho trưởng nữ và dâu trưởng, lại thêm thị phi kiện tụng, bệnh tật, tự vẫn. Nếu đường lửa và khí khẩu cùng hướng âm thì thành quẻ Cấn: đuôi quẻ là Kiền Kim, thân quẻ là Cấn Thổ, gốc quẻ là Tốn Mộc, hợp thành hai sao Họa Hại, Thiên Ất. Năm Hợi, Mão, Mùi hại con nhỏ; năm Tỵ, Dậu, Sửu hại trưởng nữ và dâu trưởng trước, sau đó tiền tài dư dả, con cháu hiếu thuận.
Nếu từ hướng đông bắc dời sang hướng đông nam, đó là Tốn trạch. Đường lửa và khí khẩu cùng hướng dương thì thành quẻ Đoài: đuôi quẻ là Tốn Mộc, thân quẻ là Đoài Kim, gốc quẻ là Kiền Kim, hợp lại thành ba sao Lục Sát, Họa Hại, Sinh Khí. Năm tháng Tỵ, Dậu, Sửu tổn hại cho trưởng nữ và dâu trưởng, gia đình liên lụy kiện tụng, trộm cướp, bệnh tật (điếc, mù), gia sản rơi vào tay người khác. Nếu đường lửa và khí khẩu cùng hướng âm thì thành quẻ Khảm: đuôi quẻ là Tốn Mộc, thân quẻ là Khảm Thủy, gốc quẻ là Kiền Kim, hợp lại thành ba thần Sinh Khí, Họa Hại, Lục Sát. Năm tháng Tỵ, Dậu, Sửu tổn hại trưởng nữ và dâu trưởng; năm tháng Thân, Tý, Thìn, Hợi, Mão, Mùi thì trước sinh con trai, sau gặp tai họa bệnh tật.
Dời từ chính đông sang chính tây
Nếu từ hướng chính đông dời sang hướng chính tây, đó là Đoài trạch. Đường lửa và khí khẩu cùng hướng dương thì thành quẻ Đoài: đuôi quẻ là Đoài Kim, gốc quẻ là Chấn Mộc, hợp lại thành hai sao Lục Sát, Phục Vị. Năm tháng Tỵ, Dậu, Sửu tổn hại trưởng nữ và dâu trưởng, bệnh tật triền miên. Nếu đường lửa và khí khẩu cùng hướng âm thì thành quẻ Khảm: đuôi quẻ là Đoài Kim, thân quẻ là Khảm Thủy, gốc quẻ là Chấn Mộc, hợp lại thành ba thần Lục Sát, Họa Hại, Sinh Khí. Năm tháng Thân, Tý, Thìn thì sinh quý tử; năm tháng Tỵ, Dậu, Sửu hại cho trưởng nữ và dâu trưởng, sau đó có bệnh tật về gân cốt, ăn uống.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
