Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Nhà mang hình ngũ hành nào thì vận người ở như thế

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202613 phút đọc0 lượt đọc
Nhà mang hình ngũ hành nào thì vận người ở như thế

Nhìn từ xa, mỗi ngôi nhà mang một dáng: dáng cuốn cánh của Kim, dáng chúi đầu của Mộc, dáng thấp phẳng như sóng gợn của Thủy. Rồi dáng ấy gặp bản mệnh của cung trạch, và người ở trong nhà bỗng giàu lên hoặc chết non, tùy chuyện sinh hay khắc. Có cả những dạng phòng mà người xưa chỉ nhìn một lần đã dặn phải dỡ ngay...


Xem hình đất trước, rồi mới tính sinh khắc

Trước hết phải xem địa hình cho kỹ. Nếu nhầm lẫn ngũ hành, sinh khắc thì cát hung họa phúc sẽ bị lẫn lộn. Cung của nhà mà khắc địa hình, hoặc hình thế đất khắc cung của nhà, thì nhà cửa và tài sản đều sút kém. Ai xem hình thế giỏi thì có thể coi như bậc thánh.

Một ngôi nhà có thể mang hình của năm hành, và mỗi hình ứng với từng loại cung trạch một điều khác nhau.

Nhà hình Kim: cuốn cánh, kho tàng và những chái nhà

Sao Văn Khúc hình Kim thì gia đạo phú quý; hình Kim cuốn cánh thì tiền tài đầy nhà.

  • Hỏa trạch hình Kim không nên ở: vợ chồng trong nhà tàn tật, chết sớm.
  • Thủy trạch hình Kim: con em thông minh tuấn tú, gia nghiệp hưng vượng, đi làm ăn xa quê mà giàu có.
  • Mộc trạch hình Kim: chủ nhà mù cả hai mắt, gia tài bị kẻ khác cướp đoạt.
  • Kim trạch hình Kim: phụ nữ trong nhà nhiều phúc phận.
  • Thổ trạch hình Kim: Kim Thổ tương sinh, nhân đinh đông đúc, tiền tài vô số, con em giỏi văn chương.

Nhà hình Kim là nhà có hai gian chái (sương phòng) ở bên cạnh, gọi là kho, bất kể mái hiên cao hay thấp. Nếu chỉ dựng bức tường giống như hai gian chái mà bên trong không có phòng thật thì không gọi là hình Kim.

Cuốn cánh nghĩa là hai gian chái phía sau cao hơn chính đường, hai gian chái phía trước thấp hơn chính đường; như vậy cát lợi. Nếu cả hai bên trước và sau đều có chái thì gọi là Tứ Kim tương chiếu, người và của đều vượng cát. Dù vậy vẫn phải xem độ nông sâu của minh đường và cửa mở về hướng nào để biết hung cát của hình Kim, không thể võ đoán rằng cứ có bốn gian chái là tốt.

  • Phía trước một bên có chái, một bên không có: Kim tinh khúc xích, rất hung; phía nào thiếu chái thì họa đến từ phía ấy.
  • Hai chái phía trước thẳng và dài, vượt qua chính đường: gọi là thôi xa (đẩy xe), chủ lưu lạc nơi xa, chết vì đói rét.
  • Hai chái cao hơn chính đường: gọi là giang kiều (khiêng kiệu), chủ trộm cướp, đói rét.

Cho nên phía trước và phía sau đều có chái thì mới cát lợi.

Nhà hình Mộc: cúi đầu thì điên, ngẩng đầu thì phú quý

Sao Tham Lang hình Mộc thì gia đạo phú quý, nhân đinh hưng vượng, văn chương chữ nghĩa nổi bật. Mộc tinh cúi đầu thì trong nhà có người bị điên.

  • Kim trạch hình Mộc không tốt: đàn ông phần nhiều chết ở tuổi trung niên.
  • Hỏa trạch hình Mộc: Mộc Hỏa tương sinh, nhân đinh hưng vượng, tuy phát tài nhưng ruộng vườn không nhiều.
  • Thổ trạch hình Mộc: đề phòng anh em giết hại lẫn nhau, ruộng vườn bỏ phế.
  • Thủy trạch hình Mộc: nhân đinh hưng vượng, chỉ cần đề phòng trong nhà có kẻ gian dối.
  • Mộc trạch hình Mộc: hai Mộc tỉ hòa, ruộng vườn sum suê, phụ nữ đẹp như hoa nhưng dễ tự vẫn.

Nhà hình Mộc cao, phía trước không có chái, như hình chữ nhất, hoặc chính đường hẹp, dài và sâu, hoặc ngang thẳng, đều thuộc hình chúi đầu. Nếu phần đầu không có nóc nhà, lại một bên mở toang ra phía trước, thì gọi là "chủy đãng ốc", rất hung hiểm, chủ con trẻ chết yểu, mắc bệnh đột ngột ở ngoài. Nhà ba gian hướng Chấn cũng gọi là hình Mộc.

Nhà hình Thủy: thấp, phẳng, rộng như mặt nước gợn sóng

Hình Thủy mà hợp cách thì tiền của kéo tới.

  • Kim trạch hình Thủy là tốt nhất, là nhà phú quý số một thiên hạ.
  • Hỏa trạch hình Thủy: Thủy vào cung Hỏa, nhân đinh hưng vượng nhưng các nàng dâu chết sớm.
  • Thổ trạch hình Thủy: Thủy vào cung Thổ, hại con trẻ, có tiền nhưng không quý hiển.
  • Mộc trạch hình Thủy: Thủy Mộc tương sinh, tiền của dồi dào, phát đạt lúc trung niên.
  • Thủy trạch hình Thủy: hai Thủy tỉ hòa, dương suy âm thịnh, phải xem cho kỹ.

Nhà hình Thủy là nhà có địa thế thấp, bằng phẳng, không lầu cao; hoặc thấp hẹp; hoặc chính đường nông mà rộng; hoặc chỉ có một gian chính đường, không gian nào khác, tường xung quanh thấp như gió gợn sóng trên mặt nước. Địa thế rộng rãi, thoáng đãng cũng gọi là hình Thủy.

Nhà hình Hỏa: chữ sơn, chữ hỏa, giữa cao hai bên thấp

  • Kim trạch hình Hỏa không cát lợi: không những tốn tiền mà còn hại con trẻ.
  • Thổ trạch hình Hỏa: gia đình no đủ, nam nữ đều trường thọ.
  • Mộc trạch hình Hỏa: Hỏa vào cung Mộc, nhân đinh không hưng vượng, thời trẻ không phát tài, gia đình bần hàn.
  • Thủy trạch hình Hỏa: Hỏa Thủy vị tế, không tụ được tiền tài, nhà có người mù.
  • Hỏa trạch hình Hỏa: hai Hỏa tỉ hòa, dương thịnh âm suy.

Nhà hình Hỏa giống chữ sơn, chữ hỏa: chính đường ở giữa phải cao, hai bên phải thấp. Nếu phòng ốc phía trước rộng rãi mà phía sau nhỏ hẹp và nhọn, hoặc phòng bên cạnh dài ra như cái đuôi thì hung hiểm.

Nhà hình Thổ: chính đường trọn vẹn, tường vây ngay ngắn

Sao Cự Môn hình Thổ chủ giàu có lâu dài. Nếu hình Thổ mà cửa cao thấp không đều thì trong nhà có cô nhi, quả phụ.

  • Kim trạch hình Thổ là tốt nhất, đầy đủ phú quý vinh hoa.
  • Thủy trạch hình Thổ: nhân đinh không vượng, ruộng vườn ít ỏi.
  • Hỏa trạch hình Thổ: sinh con gái nết na, lấy chồng giàu có.
  • Mộc trạch hình Thổ: đau khổ, bán hết ruộng vườn, hại cho phụ nữ.
  • Thổ trạch hình Thổ: nam nữ đều ít, dù phú quý cũng không lâu dài.

Nhà hình Thổ có chính đường rất hoàn chỉnh, tường vây bốn phía ngay ngắn.

Năm hình biến thể gắn với các ngôi sao

Ngoài năm hình thuần, cổ nhân còn gán hình nhà với từng ngôi sao.

  • Sao Văn Khúc hình Thủy vốn là âm đường; trong nhà mờ tối thì phụ nữ dâm loạn. Đó là nhà không có lầu, mái hiên thấp, hai bên không có chái.
  • Sao Lộc Tồn hình Thổ cũng thuộc âm đường. Chủ nhà không thọ; nếu trước nhà có sa sơn hung hiểm thì có cảnh cô nhi quả phụ. Đó là nhà nền cao thấp không đều, lầu phòng nhấp nhô, hai chái cao hơn chính đường; nếu trên nóc nhà bên cạnh có đầu thú hoặc có con hẻm chạy thẳng tới thì càng hung.
  • Sao Phá Quân hình Kim: chủ nhà khó giữ toàn mạng; nếu trước nhà có sa sơn hung hiểm thì có người phạm pháp bị xử lý hoặc mắc bệnh lao. Đó là nhà nóc cao, nền nhỏ hẹp, tường vây lở loét, nham nhở, mái hiên như tà áo rách.
  • Sao Liêm Trinh hình Hỏa khiến người kinh hãi bất an, chủ nhà ra cửa quan, gặp họa hình ngục. Trước nhà có sa sơn hung hiểm thì nhà bị lửa thiêu, mắc bệnh lao; trong năm xảy ra hỏa tai. Đó là nhà nóc nhọn cao, tường dài nhọn, mái hiên lởm chởm như răng chó.
  • Sao Cự Môn hình Thổ cũng là nhà cát lợi, ruộng vườn ngày một nhiều. Nếu trước mặt có sa sơn hung hiểm chặn đường thì đàn ông trong nhà phần nhiều chết ở tuổi trung niên. Đó là phòng ốc vuông vức, tề chỉnh, mái hiên bốn phía ngang bằng, tường xây không khuyết hãm.
  • Sao Tham Lang hình Mộc rất cát lợi: văn chương khó ai sánh kịp, được phò tá vua chúa trong triều. Nếu trước nhà có sa sơn hung hiểm thì nhân đinh ít ỏi, hay có bệnh tật. Đó là nhà nóc cao, tường vây chỗ cao chỗ thấp, mái hiên bốn phía cùng chầu vào.
  • Sao Vũ Khúc hình Kim là nhà phú quý vinh hiển. Trước mắt có sa sơn hung hiểm thì con trai vợ bé phần nhiều không tốt. Đó là nhà rộng rãi, sáng sủa, tường vây nghiêm chỉnh, mái hiên bốn phía cùng chầu.

Hình thế đặt ở phương vị ngụ tinh: Mộc cúi đầu, Kim khô nửa, Thủy kéo đuôi, Hỏa nâng đầu

  • Mộc tinh cúi đầu: mặt trên vị Mộc có hai đầu cúi xuống, tiểu nhĩ phòng không có Thanh Long ở bên trái. Chủ vợ chồng ly tán, nô bộc bỏ đi, trong nhà đầy chuyện buồn khổ, tiếng khóc oán thán, gia súc cũng thiệt hại.
  • Kim tinh khô một nửa: hai đầu mặt trên vị Kim có hai tiểu hạ; Chu Tước thuộc Hỏa, phía trước có một gian phòng. Chủ gia đình lục đục, nô bộc bỏ đi, cha con cãi vã, có họa kiện tụng đổ máu.
  • Thủy tinh kéo đuôi: hai đầu mặt trên vị Thủy có một tiểu hạ. Chủ con em bất hiếu, gia đạo bất an, con trẻ đau ốm, gia súc chết dịch.
  • Hỏa tinh nâng đầu: trên vị Hỏa có phòng nhỏ. Chủ ruộng vườn, gia súc ít ỏi, người nhà ly tán, bệnh tật, làm quan bị cách chức.

Những dạng phòng đem điềm xấu đến cho chủ nhà

  • Đơn nhĩ phòng: phía đông phòng chính có thêm một phòng nhỏ. Người lớn trẻ con bất an, gia súc tổn thất, tài sản tiêu tan, bệnh tật, tai họa.
  • Cô quả phòng: phía đông phòng chính bị một phòng nhỏ che khuất. Gia đình bất an.
  • Linh đinh phòng: nhà lâu năm không sửa gạch ngói. Gia đình bất an, gặp họa đổ máu; phải xem lại mái ngói ngay.
  • Đơn trắc phòng: góc đông nam nhà có một gian nhỏ; nếu cả hai đầu đều có thì gọi là song trắc phòng. Chủ gia đình thị phi, bất lợi.
  • Ám tiễn phòng: hai gian chái nam bắc mái hiên lởm chởm. Chủ trộm cướp, thị phi; nên mau dỡ bỏ hai chái ấy.
  • Tiêu vĩ phòng: thanh rui nhà mới ở các phía trái phải trước sau. Con cháu không thể phát đạt.
  • Lộ cốt phòng: xà nhà lộ ra hai đầu. Gặp họa hình ngục.
  • Thượng ốc phòng (nhà không mái): nhà đã xây xong mà phía trên chưa che mái. Chủ nhân gặp tai họa; nên che chắn cho tốt.
  • Lộ trửu phòng: bốn góc nhà hở hang, che chắn không chỉnh tề. Phụ nữ bệnh tật, con trưởng chết non, con nhỏ gặp họa, dễ bị hỏa hoạn, trộm cướp.
  • Cô dương phòng: trước, sau, hai bên nhà đều không có phòng nào khác. Chủ cô nhi quả phụ; nếu có hai gian phòng vây kín thì cát lợi.
  • Phòng hình chữ công: trước và sau đều có phòng, ở giữa là một đường đi thẳng nối hai phòng thành chữ công. Gia nghiệp trước giàu sau nghèo, họa ngục hình, bại hoại gia phong.
  • Phòng thắt cổ: nhìn từ xa thấy trong nhà như có sư tử cười nhạo; tường nhà hai bên và phía sau nghiêng lệch cũng vậy. Có người thắt cổ tự vẫn.
  • Phòng nhảy sông: nhìn từ xa thấy cửa nẻo thấp hẳn, lệch lạc. Trong nhà có người nhảy sông tự vẫn.

Số gian nhà đoán cát hung theo ngũ hành

Nhà một gian thuộc Thủy, hai gian thuộc Hỏa, ba gian thuộc Mộc; dựa vào ngũ hành mà đoán. Nếu là sơn Tý hướng Thủy, Tý thuộc Thủy, dựng hai gian: một gian thuộc Thủy, hai gian thuộc Hỏa, gọi là Thủy Hỏa Ký Tế, năm đầu còn cát lợi. Nếu có hai Hỏa, ba Hỏa thì thế Hỏa quá vượng, gặp cổng Tý xung hướng Ngọ, trong nhà ắt có họa. Thêm hai Thủy, ba Thủy thì Thủy khắc Hỏa, gọi là Thủy Hỏa tương tranh, cũng không cát lợi.

Ví dụ sơn Ngọ thuộc Hỏa tinh. Tường vây bốn phía thuộc hình Kim, dựng bốn gian thuộc Kim; xem vị Đoài cũng thuộc Kim phòng. Như thế gọi là Kim nhiều Hỏa tán, Hỏa không khắc nổi Kim, chủ nhà không có gì đáng ngại.

Lại như nhà sơn Mão hướng tây, dựng ba gian Mộc tinh phòng; cửa mở tại Chấn, Tốn cũng thuộc Mộc. Như vậy Mộc quá vượng, chuyển sang thế yếu, đàn ông không thọ; phải mở cửa Kim để khắc chế Mộc, dựng thêm Thủy phòng thì mới cát lợi và bớt hung hiểm.

Nhà hướng Cấn mà dựng từ năm đến mười gian thì Thổ nặng, bất động, âm dương giao chiến, nhà cửa dễ bị người ngoài chiếm đoạt; nên mở cửa ở vị Mộc. Nhà hướng Quý dựng ba tầng thì Thủy Mộc tương sinh; dựng mười bốn gian hoặc bảy gian thì Kim Thủy tương sinh, cửa phải mở ở hướng Nam, vị Ly để Thủy Hỏa không đối chọi; như vậy đại phú đại quý, nhân đinh hưng vượng. Nhà hướng Cấn có thể dựng bốn gian, nhưng bốn là số chẵn, dựng chín gian thì hay hơn.

Tóm lại làm nhà theo hình dàn ngang không bằng làm ba lớp. Cổ nhân dựng sảnh đường, hậu đường, cửa sau, thực ra là muốn trong ngoài có sự khác nhau, theo đúng quy tắc cung thất.

Thủy Thổ, Kim Mộc, Thủy Hỏa, Mộc Thổ, Hỏa Kim giao chiến trong số gian

  • Phía trước dựng một sảnh đường, phía sau dựng dãy phòng năm gian ngang, tổng cộng năm gian: người ở gian mé đông có thể phát tài, người ở gian mé tây bị kiện tụng, lang thang quê người, nhân đinh ít ỏi. Đổi năm gian thành ba gian thì cát lợi. (Thủy Thổ giao chiến)
  • Phía trước dựng ba gian, phía sau dựng năm gian: phía sau khắc phía trước, dù sinh được con trai cũng khó thoát chết yểu và bệnh tật. Người ở gian mé bắc có thể sinh con trai, người ở gian mé tây bất lợi. (Kim Mộc giao chiến)
  • Phía trước một sảnh đường, phía sau hai gian phòng thì gọi là Thủy một Hỏa hai, chủ khắc vợ, gia đình nghèo khó. Nếu nửa trước làm phòng khách, nửa sau làm bốn gian phòng thì người nhà bị án kiện tụng, về sau nghèo khó mà chết, vợ tái giá. (Thủy Hỏa giao chiến)
  • Nhà năm gian, ba tầng thì Mộc khắc Thổ, chủ bệnh tật điên cuồng, có người tự sát. Nếu phía trước ba gian, phía sau năm gian thì thời gian đầu phát đạt, cuối cùng suy bại. (Mộc Thổ tương khắc)
  • Nhà hai tầng, bốn gian; hoặc bốn tầng, mỗi tầng hai gian, thì Hỏa khắc Kim, chủ bệnh tật, nghèo khó. (Hỏa Kim xung khắc)

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia