Bài tổng quan
Cổng mở sai hướng, tai họa ứng vào từng người trong nhà
Cùng một ngôi nhà, đổi cổng từ Kiền sang Chấn thì người cha khó sống lâu, đổi sang Ly thì con gái út gặp họa. Người xưa không đoán bừa mà giải từng cặp theo lẽ Kim khắc Mộc, Hỏa đốt Kim, Thổ lấn Thủy. Lần theo những phép giải ấy, mới thấy vì sao một cái cổng lại gánh cả số phận của gia đình...
Khẩu quyết về cổng cao hơn phòng
Người truyền nghề dương trạch thường nhắc bằng những câu ngắn dễ thuộc. Về chuyện cổng và phòng phạm nhau, các câu ấy nói như sau.
- Cổng Tốn mà phòng Khôn cao, mẹ già khó sống lâu.
- Cổng Kiền mà phòng Đoài cao, hoặc cổng Đoài mà phòng Kiền cao, dễ sinh chuyện loạn luân.
- Cổng Ly mà phòng Đoài cao, ở vị Ly Đoài ánh lửa ngút trời, hại con gái út.
- Cổng Kiền mà phòng Chấn cao thì quy về cửa Lôi, hại người con trưởng trong nhà.
- Cổng Khảm mà phòng Chấn cao, cổng lớn ở vị Chấn, con trai giữa phần nhiều chết yểu.
- Cổng Khôn mà phòng Ly cao, phụ nữ thường gặp họa hung.
Còn những chỗ có hai sao Phụ, Bật, không thể quán xuyên suốt, gọi là Mạt Tầng, khỏi cần bàn.
Bệnh theo ngũ hành và dấu hiệu của thế nhà
Mộc và Kim khắc nhau thì sinh bệnh nặng, điên cuồng. Thủy Thổ xung phạm nhau thì gia đình lục đục bất hòa. Mộc Thổ khắc nhau hại tỳ vị, tức lá lách và dạ dày. Thủy Kim tương sinh thì có vi trùng bệnh lao xâm nhập.
Nhà thuần dương thì mỗi năm sinh nhiều bệnh tật; nhà thuần âm thì tài khí rất vượng nhưng không có con cháu nối dõi. Hào bên trong khắc hào bên ngoài thì nhà bị trộm cướp; hào bên ngoài khắc hào bên trong thì chủ nhà thiệt hại. Âm khí tiến vào cung dương thì sinh con gái trước; dương khí tiến vào cung âm thì sinh con trai.
Hai nhóm nhà Đông tứ trạch và Tây tứ trạch
Khẩu quyết lấy "Tùng Lộc chi bàn" của Lại Bố Y làm chuẩn. Hợp với bàn ấy được ba phần cũng coi là được, không hợp thì bỏ. Do đó dùng ba, bảy phần nạp Giáp để phối hợp hai nhóm trạch Đông, Tây, và thành bài khẩu quyết dưới đây.
Những cặp cung không nên cùng mở cổng với nhau
Có những cặp vị trí đứng cạnh nhau mà đặt cổng thì rất xấu. Mỗi cặp mang theo một ngôi sao, và mỗi ngôi sao đem lại một loại tai họa riêng.
- Kiền và Khảm thuộc sao Văn Khúc: tuy chủ phát tài, nhưng khó tránh sảy thai, hỏa hoạn, trộm cướp.
- Kiền và Chấn thuộc Ngũ Quỷ: Kim đến khắc Mộc nên hại con trưởng; Hỏa đến khắc Kim nên hại ông già; nhà còn bị hỏa hoạn, trộm cướp, tù tội, cha con bất hòa.
- Kiền và Tốn thuộc Họa Hại: chủ sảy thai, chết vì khó sinh, đàn ông điên, đàn bà tự vẫn; gia đình dù phát tài cũng nhiều bệnh.
- Kiền và Ly thuộc Phá Quân: cha già chết bệnh, thiếu phụ gặp nạn, bệnh tật và trộm cướp kéo đến, gia nghiệp tiêu tan.
- Khảm và Cấn thuộc Ngũ Quỷ: hại con nhỏ, người trong nhà trầm mình tự vẫn, gặp hỏa hoạn, con lớn ngỗ ngược, con thứ bỏ mạng.
- Khôn và Khảm thuộc Tuyệt Mệnh: mẹ khắc con, con thứ hai bất hiếu, con nhỏ gặp họa, con gái sảy thai, nhiều bệnh.
- Khảm và Đoài: con thứ hai bất hiếu, đàn ông bị kiện tụng, đàn bà khó sinh nở; con cháu dù phát tài cũng khó tránh có người phải bị giam giữ.
- Cấn và Chấn: đàn ông bị kiện tụng bức hại, đàn bà khó sinh, con trẻ ốm đau mà chết, ôn dịch tràn tới.
- Cấn và Tốn: con nhỏ khó nuôi, con dâu sảy thai, nhà bị trộm cướp, tài sản tiêu tán, con hư hỏng ốm đau.
- Cấn và Ly: vợ con thứ hai bệnh tật, cha con bất hòa, do sự tỉ hòa giữa sao Lộc Dương và sao Thổ Tú.
- Chấn và Khôn thuộc Quan Khắc: mẹ chết trước, con dâu sảy thai, bệnh tật khổ sở, tài sản và nhân đinh đều giảm.
- Chấn và Đoài: hại trưởng nam, trưởng nữ; sinh bệnh về mắt, mù lòa.
- Tốn và Khôn: người mẹ gặp tai họa, bệnh tật, khó sinh, phù thũng; trong nhà dương suy âm vượng, phụ nữ làm chủ.
- Tốn và Đoài: dâu trưởng bị hại, âm suy dương vượng, mẹ chết trước, con cháu mang bệnh.
- Khôn và Ly: Thủy Hỏa tương khắc, bất lợi cho phụ nữ, tài sản giảm sút.
- Ly và Đoài: Kim Hỏa xung khắc, phụ nữ gặp nạn.
Cứ mỗi cặp ấy, bài ca lại thêm một câu ngắn về nước và núi quanh cổng: nước thoát vào Thiên Môn thì trong nhà dâm loạn điên cuồng, hỗn loạn suy bại; nước lọt vào Nhân Môn thì con thứ hư hỏng, nhà gặp họa; nước tới sát Bạch Hổ thì con gái sảy thai, nếu Bạch Hổ bị ngập nước thì lục súc tổn hại; Long đối đầu Quỷ thì con trẻ trong nhà đáng ngại; Địa Hộ gặp Quỷ vị thì con gái sảy thai mà chết; Hỏa đốt nhân hộ thì phụ nữ thiệt hại; Hỏa đốt sao Bạch Hổ thì phụ nữ gặp nạn.
Cổng mở sai chỗ, người nào chịu họa
Có một loạt câu đoán mà mỗi câu đều kèm lời giải thích về lẽ sinh khắc của ngũ hành.
- Kiền khắc Chấn, hại con trưởng: nhà dựng ở Chấn mà mở cổng ở Kiền thì Kim Kiền dao động, thế vượng, khắc Mộc Chấn.
- Hỏa tinh ở Thiên Môn, hại người cha: nhà ở Kiền sơn mà mở cổng ở Ly thì Hỏa khắc Kim Kiền; Kiền là cha nên cha bị hại.
- Mộc khắc Thổ, con nhỏ ốm yếu: Cấn là con trai thứ thuộc Thổ; mở cổng ở Chấn thì Mộc Chấn khắc Thổ Cấn.
- Tốn vị vào cung Khôn, cha mẹ chia ly: Khôn là mẹ thuộc Thổ; mở cổng ở Tốn thì Thổ bị Mộc khắc, người mẹ thiệt hại.
- Đoài khắc Chấn Tốn, hại trưởng nam trưởng nữ: Chấn là trưởng nam, Tốn là trưởng nữ, đều thuộc Mộc; mở cổng ở Đoài thì Kim khắc Mộc.
- Khôn Khảm khắc nhau, con thứ chết yểu: nhà ở Khảm sơn mở cổng ở Khôn thì Thổ Khôn khắc Thủy Khảm.
- Chấn Kiền khắc nhau, người cha khó thọ: nhà ở Kiền mà mở cổng ở Chấn; tuy Kim khắc Mộc nhưng Mộc Chấn dao động thế vượng, Kim Kiền không chế nổi, ngược lại bị Mộc đoạt mất chân khí; Mộc vượng sinh Hỏa, Hỏa đốt Kim, nên Kim Kiền thế suy, người cha chẳng sống lâu.
- Tốn Khôn khắc nhau, người mẹ khó thọ: nhà ở Khôn, cổng ở Tốn thì Mộc khắc Thổ, mà Khôn là mẹ.
- Khảm Cấn khắc nhau, con nhỏ bệnh hoạn: Cấn thuộc Thổ vốn khắc Thủy, nhưng nếu mở cổng ở Khảm thì Thủy tràn thành họa, Thổ ngược lại bị Thủy xung phá.
- Cấn Ly khắc nhau, phụ nữ gặp nạn: nhà ở Ly Hỏa mà khai cổng ở Cấn thì Thổ bị Hỏa đốt; tưởng được Hỏa sinh hóa ra bị hại; Ly là trung nữ nên trung nữ bị hại.
- Cấn Chấn khắc nhau, sản phụ bỏ mạng: nhà Chấn thuộc Mộc, mà Mộc phải nhờ Thổ mới sống; mở cổng ở Cấn thì động khí Thổ, Mộc mất chỗ sống nên sản phụ sảy thai mà chết.
- Cấn Tốn khắc nhau, trưởng nữ bị bệnh phong: nhà Tốn thuộc Mộc, mở cổng ở Cấn thì Thổ động, Mộc mất chỗ đứng, mất sinh khí.
- Ly Đoài khắc nhau, lửa bốc lên trời, con gái út bị hại: Đoài là con gái út; nhà ở Đoài mà mở cổng ở Ly thì Hỏa động khắc Kim.
- Tốn Ly khắc nhau, người trong nhà bị bệnh lao nặng: mở cổng ở Ly thì Ly vị động khí, con gái út bị bệnh lao; mở cổng ở Tốn Mộc thì Tốn vị động khí, sinh bệnh ho lao; Hỏa thịnh cũng sinh bệnh lao.
Những điều trên đều chuyên bàn về việc mở cổng tương khắc. Nếu chọn được hướng cổng cho khéo thì khi dựng nhà sẽ không gặp họa hại, mọi người trong nhà không bị thương tổn.
Số tầng: khi một ngôi sao nhà cao áp đảo cung
Có một cách đoán khác, nhìn vào chiều cao các tầng nhà và các ngôi sao đóng ở từng cung.
Tham Lang không nên vào cung Kiền và Đoài
Nếu sao Tham Lang vào cung Kiền hoặc Đoài, trong nhà con trưởng chết trước rồi tới cha, ruộng vườn tài sản không ai quản lý, quả phụ phòng không. Kiền sơn và Đoài sơn đều thuộc Kim. Thủy là con, Mộc là cháu. Mộc tinh cao lớn thì thế Mộc vượng, chiếm mất sinh khí của Thủy tinh, nên con trưởng chết trước; thế Mộc vượng còn làm tiết giảm sinh khí của Kim tinh nên hại tới cha. Đó đều là tác hại của Mộc tinh.
Muốn xem hai cung Kiền, Đoài nên mở cổng ở hướng nào, ví dụ nhà ở vị Đoài mà mở cổng ở Kiền thì tầng thứ hai thuộc Mộc, nên tầng thứ nhất không được cao quá. Nếu nhà ở Kiền mà mở cổng ở Đoài thì tầng thứ tám thuộc Mộc.
Cự Môn, Lộc Tồn không nên vào Tốn và Chấn
Sao Cự Môn không nên vào hai cung Tốn, Chấn: trước hại tôi tớ, sau hại chủ nhân. Cự Môn tới Chấn thì con trưởng chết; Lộc Tồn tới Tốn thì phụ nữ bỏ mạng. Chấn, Tốn thuộc Thổ tinh, Mộc tinh, đối nghịch với Cự Môn, Lộc Tồn. Chấn Thổ là con của Hỏa, Tốn Mộc là mẹ của Hỏa. Thế Thổ ở Chấn vượng thì sinh khí của Hỏa yếu đi, sinh khí của Mộc cũng giảm. Vì vậy Cự Môn tới Chấn hại con trưởng, Lộc Tồn tới Tốn hại phụ nữ trong nhà.
Nếu hai cung Chấn, Tốn mở cổng ở Ly, được sinh khí của Mộc thì Hỏa thế vượng; Hỏa vượng thì Thổ vượng, Thổ vượng ắt Hỏa thịnh, và sinh khí của Mộc giảm dần. Kinh truyện viết: Hỏa nhờ Mộc mà sinh, tai họa phát sinh, nhất định sẽ bị khắc.
Văn Khúc vào Khôn, Cấn
Sao Văn Khúc vào cung Khôn, Cấn thì đàn ông bị hại, đàn bà theo trai. Cung Cấn khắc Văn Khúc thì hại đàn ông, cung Khôn khắc Văn Khúc thì hại đàn bà; Văn Khúc thuộc Thủy tinh. Hai cung Khôn, Cấn đều thuộc Thổ. Nếu nhà vuông vức mà Thủy tinh cao lớn, thế Thổ không chế được Thủy, nước lớn tràn thành họa, nên có chuyện nam nữ bỏ trốn. Thủy tinh ở Cấn hại đàn ông, ở Khôn hại đàn bà. Thủy tinh đặt trong Thổ vị thì không nên quá cao lớn, cũng không nên quá thấp bé.
Cấn, Khảm, Chấn, Kiền, Đoài, Tốn, Ly: mỗi cung một dáng sao
- Thổ khí ở cung Khảm vượng thì con cháu chết yểu, phụ nữ cô quả: nhà ở Khảm mà Thổ tinh cao lớn thì chính Thổ bị khắc; Khảm là trung nam nên con thứ chết; Thổ khí cung Cấn vượng thì Thủy khí bị xung, cha mẹ còn mà con cháu chết non.
- Chấn Kiền cùng cung thuộc dương: Kim tinh cung Chấn thế vượng thì con trưởng khó giữ mạng; Mộc tinh cung Kiền thế vượng thì khí Kim suy giảm, người cha qua đời.
- Kim và Tốn khắc nhau thì mẹ chết, dâu trưởng chết, âm suy dương thịnh, con cháu điên cuồng: Đoài và Tốn thuộc âm, không hợp Mộc Kim giao thác thế vượng; Đoài Kim vượng khắc Tốn là con dâu trưởng; Tốn Mộc vượng thì chiếm sinh khí Thủy làm Kim suy; Mộc vượng sinh Hỏa, Hỏa vượng đốt Kim, hại mẹ và con dâu trưởng.
- Ly Khảm tương khắc: chết chóc, nhân đinh giảm, vợ hại con, vì Thủy thần và Hỏa thần xung khắc. Cung Ly không muốn Thủy vượng, cung Khảm không thích Hỏa vượng.
- Cung Cấn mà Mộc tinh cao lớn thì Thổ suy, con cháu hiếm hoi, sinh mà không nuôi được: Thổ là cơ sở sinh trưởng của vạn vật, sinh khí kém thì con cháu làm sao đông.
- Ngũ Quỷ thuộc Hỏa thần mà cao hiển đột xuất, Văn Khúc là Thủy tinh bằng tệ: con trẻ bệnh tật liên miên, phù thũng; Thủy Hỏa giao chiến, Thủy vị bay lên cao.
- Cung Khảm gặp hào Quỷ thì không tốt: Thủy Hỏa tranh chiến không ngừng, gia đình ly tán, người đi tha hương, người ở lại bị cường đạo hại, con trẻ thương tổn.
- Khôn gặp Mộc tinh quá cao: Thổ bị Mộc tinh khắc mạnh, chủ câm điếc, bệnh tật, hại mẹ và phụ nữ.
Cát tinh cao lớn làm chủ thì khắc chế được hung tinh; hung tinh cao lớn thì nhất định áp chế cát tinh. Cửu tinh trên trời và cửu cung dưới đất phối hợp thuận thì phú quý thịnh vượng, nhà đông người. Dương khắc cung âm thì phụ nữ tổn hại; âm khắc cung dương thì gia đình bất an, gia súc tổn hại, gia nghiệp tiêu tan.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
