Bài tổng quan
Quan Diệu Cầm Quỷ và những chỗ bình dương không thể táng
Hai ngọn gò nhỏ trông chẳng có gì, vậy mà thầy địa lý nhìn thấy trong đó ngôi sao quý nhất của cả một thế đất. Có những mảnh đất bằng phẳng, nước chảy quanh, trông đẹp như tranh mà lại không thể đặt một ngôi mộ nào. Vì sao, và làm sao phân biệt được...
Quan và Diệu: hai ngôi sao quý nhất quanh huyệt
Quan và Diệu vốn là hai ngôi sao, nhìn từ xa lên thấy dáng nhỏ và nhọn. Sao Diệu nằm ở phía trước huyệt, sao Quan nằm ở bên cạnh huyệt. Các nhà phong thủy đời nay vẫn không ngừng nhắc người học phải biết phân biệt Quan, Diệu thật và giả. Huyệt mà Long mạch hư giả thì dù xung quanh có nhiều tinh tú đẹp chiếu rọi cũng chẳng đem lại đại phú đại quý; nhà có chất đầy vàng ngọc, con cháu đời sau cũng khó có ai nổi danh nhờ trí tuệ.
Về hình dạng và vị trí của Quan, Diệu, mỗi nơi nói một cách. Có thuyết bảo hai sao ấy trông như hai cái gò đất. Có thuyết bảo chúng nhọn như đá núi. Có thuyết cho rằng chúng là dải núi nằm phía sau Thanh Long, Bạch Hổ sa; thuyết khác lại bảo phải nằm phía trước Thanh Long, Bạch Hổ sa mới là thật. Điều chắc chắn là Quan, Diệu thuận hay nghịch với thế nước đều được, miễn là đứng ở nơi dòng nước uốn lượn, được nước ôm quanh thì mới đẹp.
Sao Diệu sinh ra thường mang hình xù xì như cái cọc gỗ, nên khi hiện ở trước huyệt nhiều người e ngại, tưởng đó là dao núi, mà không biết giá trị tuyệt vời của nó. Dáng sao Diệu thấp và nhỏ thì chắc chắn xuất hiện nhân vật kiệt xuất; dáng cao và nhọn thì ít nhất cũng là đại quan hiển hách. Quan, Diệu mà như khối đá lớn và nhọn thì chủ nhân nắm binh quyền, chỉ huy thiên binh vạn mã; nếu thành ba khối đá nhọn hoặc nhiều hơn thì hưởng vinh hoa phú quý trong triều đình. Không có ngôi sao nào quý hơn hai sao Quan, Diệu.
Cầm, Quỷ, Thú: giữ của, giữ quyền, sinh thần đồng
Sao Cầm chủ về nhiều tiền tài, sao Quỷ chủ về quyền bính. Sao Cầm có dáng uốn khúc, sao Quỷ giống chiếc đuôi dài. Muốn nhận rõ hình dạng hai sao ấy phải ngắm từ xa. Cầm và Quỷ có ba mươi sáu hình thái, đều ở phía sau Long mạch, tức là phải tìm ở mặt lưng của ngọn núi. Sao Quỷ sinh ra sao Cầm là dấu hiệu nơi ấy sinh cơ thịnh vượng, Long mạch sung mãn. Ngoài Cầm, Quỷ còn có bảy ngôi sao khác ở phương Bắc; nếu chúng có dáng hùng tráng thì sản sinh bậc đế vương uy quyền lớn mạnh.
Người mới học tìm Long mạch trước hết phải nhận ra tam Cầm, tứ Diệu, ngũ Quan, Quỷ và lục Thú.
- Sao Cầm giống như rùa đen hoặc cá vàng sinh ra ở cửa nước.
- Sao Quỷ là phần lưng sau của sơn mạch chính, nơi sinh khí sung mãn.
- Sao Thú có hình như con hổ dữ nằm phục ở cửa nước.
- Sao Diệu là dáng rắn dài hoặc lá cờ lớn nằm sau Thanh Long, Bạch Hổ sa.
- Sao Quan là chiếc đuôi dài ngoặt lại sau lưng ngọn núi chầu.
Sao Cầm chủ tài lộc, sao Diệu chủ quý hiển, sao Thú chủ sinh thần đồng, thiên tài, trạng nguyên.
Nước quyết định đất thật hay giả
Tìm Long mạch chưa đủ, còn phải quan sát dòng nước chảy. Nước cuồn cuộn kéo tới thì ngay đá cứng cũng bị xói mòn tổn thương. Nguồn nước sâu hay nông cho biết khí thế của Long mạch lớn mạnh hay nhỏ yếu. Thế nước uốn lượn hay đâm thẳng cho biết huyệt pháp là chân hay giả.
Thấy một vùng nước lớn mênh mông hội tụ ngoài án sơn, vẫn không bằng có một vũng nước thanh tú, linh động ở ngay trước minh đường. Nước nhỏ mà thanh thì dễ đón nhận, còn nước mênh mang hỗn tạp thì khó đọng lại. Có dòng nước từ tổ tông sơn chia ra rồi cuối cùng tụ hội trước Thanh Long, Bạch Hổ sa; có dòng nước từ thiếu tổ sơn chảy tới. Vì vậy hội tụ ở bên không bằng hội tụ chính diện, hội tụ phía trước không bằng hội tụ phía sau.
Nếu nước uốn lượn như chữ chi, chữ huyền, thì dù Long mạch nhỏ yếu cũng có thể chọn huyệt; huyệt dù hẹp nhưng mạch nào cũng chứa sinh khí. Nước chảy xiên xéo ngang qua thì huyệt nơi ấy không tốt.
Thu phúc, tránh họa: nước đến gần hay xa thì chọn huyệt khác nhau
Chọn huyệt thu được phúc lộc là nhờ đón được dòng nước từ một mạch chảy đến; chọn huyệt tránh được tai họa là nhờ trừ được dòng nước từ một mạch chảy đi. Nước thuận thế chảy đến nhập cục, lại có án sơn bao bọc xung quanh thì rất quý. Nếu Long mạch chắn ngang, ngược dòng nước mà tới, thì không ngại sông lớn từ xa ào ạt kéo đến.
Nước từ xa tới thì có thể chọn gò đống thấp làm huyệt, gần đó còn có đầm sâu. Nước từ gần chảy tới thì chỉ cần một chỗ nổi cao một thước, thậm chí một tấc, cũng đã như ngọn núi cao. Hiểu được chỗ huyền bí của thế nước thì mới hiểu cách chọn huyệt.
Đất bình dương: những chỗ không thể chôn cất
Vùng bình dương, tức đất bằng sông nước phẳng lặng, không có hình thế đặc biệt, chỉ có hình thế trên mặt phẳng. Nơi nào không hợp thành hình thế ngũ hành thì không thể mai táng. Dưới đây gộp lại những trường hợp đã được cổ nhân điểm danh, đều là chỗ không nên đặt huyệt.
Đất không giữ được khí
- Đất mênh mông vô bờ, không có chỗ thắt như cổ họng để thu giữ sinh khí, hình mạch và thế đi không rõ: đó là đất vỏ kén.
- Đất vỡ vụn, phân tán, không có đường nét rõ ràng, thường là bãi phù sa cửa nước.
- Đất tán loạn không hợp, không có sinh khí đọng, nên khô cằn rời rạc.
- Đất bên trong cục như bị đẽo gọt, tỉ mỉ, ngoài cục thì sa thủy hung ác: sinh vượng khí đã bị con người làm mất sạch.
- Đất lõm một chỗ còn các chỗ khác đều nhô cao: độc dương vô âm.
- Đất hình sống lưng con rùa, bên trong cục không có nước đọng.
- Đất ở ven sông lớn, biển lớn, không có chỗ kết tụ khí sinh vượng, lại không có nước bao quanh.
- Đất mà nước chảy qua là cạn ngay (đất Lậu Long); hoặc sau trận mưa lớn mọi nơi khô ráo, chỉ còn một chỗ ẩm ướt (hạ địa).
- Đất bình dương nằm giữa bốn phía núi cao, tận cùng không có sự chuyển hóa âm dương, sa sơn thủy nghiêng lệch, trong huyệt không có giáp kiềm hay nhũ đột.
Nước chảy sai chỗ
- Đất có lưu thủy hai thế thuận nghịch giao hội nhưng không uốn quanh, không linh hoạt: tử long.
- Nước xối thẳng phía sau huyệt; hoặc cứ quần quanh phía sau huyệt; hoặc xung phá thân Long gần huyệt.
- Đất nằm ven vùng hồ đầm chằng chịt, tức là nước đã từ huyệt mà chảy đi.
- Nước phía trước huyệt thẳng và dài, không có sa ngược hay nước ngang chắn lại.
- Huyệt nằm ở đuôi nước hoặc đầu nguồn của nước.
- Trước và sau huyệt đều có ao hồ, vì sẽ sinh cảnh cô phụ.
- Bên trong cục có hai dòng nước kèm một cù lao nổi, chủ sinh kẻ gian hùng.
- Nước từ bốn mặt tám phương chảy vào huyệt, có hai cửa nước mà không có sa sơn bao bọc, không có thế trải chăn đệm.
- Nước có nhiều cửa, tinh khí bị tán đi; nhất thời hưng vượng, rốt cuộc suy bại.
- Hai dòng nước hộ vệ Long mạch mà tới nhưng không có chi cước thu nạp, không uốn chuyển, như thuyền không người lái: bệnh long.
- Nước ào ào chảy thẳng tới, sa sơn nghiêng lệch, huyệt mơ hồ, khí sinh vượng phân tán.
Mạch và thế đất lệch lạc
- Mô đất đồn thành gò nghịch với thế nước, hướng đi hướng đến của Long mạch không rõ.
- Long mạch phía trước rộng thoáng mạnh mẽ mà phía sau nhỏ hẹp: thối long.
- Đất nhô cao nhọn hoắt, sát khí quá nặng.
- Đất cuối mạch có chi cước tản loạn, không ôm quanh huyệt, như gió nhẹ thổi lá liễu lòa xòa.
- Đất có hình như cánh cung cong phía sau huyệt; hoặc đầu trước cao vút, đầu sau thấp nhỏ.
- Thổ tinh sinh ra mộc nhũ vừa dài vừa thẳng, là khí bội nghịch con khắc mẹ; kim tinh sinh hỏa chùy, mộc tinh sinh kim chùy cũng vậy.
- Có con đường lớn đâm thẳng vào sau lưng huyệt, hoặc cây cầu bắc qua sông đâm thẳng vào huyệt trường.
- Long mạch từ bờ đông vượt sông, lại nhô lên ở bờ tây, như người vừa vượt sông lên bờ: khí sinh vượng đã chuyển về phía tây, không thể chọn huyệt ở bờ đông.
- Sa sơn, hà thủy đều có tình nhưng Long mạch phía sau không dừng lại.
- Thiên Môn không mở, Địa Hộ không đóng.
- Huyệt bị gió bốn phía quét tới, không có ao hồ, cũng không có sa thấp ôm quanh.
- Long mạch già, các ngọn núi không nhô cao, sau huyệt không chỗ dựa, dưới chân huyệt mềm lún.
- Đất thân thẳng và cứng như cây gỗ thô, không có chóp nhọn nhỏ, huyệt không có giáp kiềm, miệng huyệt không có sa thấp che chở.
- Núi cao chắn trước huyệt, Long mạch chạy tới thì chủ mạch lại tách ra thành chi mạch, không sa sơn hộ vệ.
- Đất bằng chỉ nhỏ như bàn tay, trong huyệt không tụ khí, mạch lại thẳng và cứng.
- Long mạch tận cùng là Văn Khúc mà tiểu thần không tới minh đường, có hai cửa nước, sa sơn lạnh nhạt hờ hững.
Nơi mang oán khí và hình thế sát nhân
- Đất từng là chiến trường máu chảy thành sông, oan hồn tụ kết, sát khí dày đặc.
- Đất từng giam giữ phạm nhân, đầy sầu khổ, bi thương, oán thán.
- Đất trước cục có sa sơn lưu thủy thô cứng, lạnh nhạt vô tình.
- Đất trước huyệt không có môi răng hộ vệ, chứng tỏ bên trong cục không có khí sinh vượng nên bên ngoài cũng chẳng giữ được sinh khí.
- Đất mà Long mạch và dòng nước không phối hợp với nhau: âm dương không hợp.
- Trước sau huyệt có những khối đá xấu xí lổn nhổn, bốn phía không sa sơn lưu thủy bao bọc, hai bên huyệt có hố sâu.
- Đất mà người thường xuyên đạp chân xuống là nước trào lên, không khô cũng không ẩm.
- Nơi mối trắng tụ hội: không đạt tới được khí táng mà đất còn không bền chắc.
- Đất thuần dương ở nơi tận cùng của mạch, bản thân Long mạch không linh hoạt, sa thủy hung sát vô tình, huyệt mơ hồ.
- Chủ tinh của vùng ấy tiện hèn, huyệt không mở miệng, trong huyệt không có sa cánh ve hộ vệ, ngoài huyệt có sa sơn ép sát.
- Long mạch của vùng bình dương tản mát, nơi tận cùng không có cốt tiết, nước trước huyệt từ cửa nước chảy thẳng ra không uốn lượn.
- Long mạch không tàng được khí sinh vượng, nước lưu thần không hội tụ bên huyệt.
- Long mạch tuột thoát, sinh khí ly tán, nước không chảy xuống minh đường, huyệt không có tinh thần chủ quản, sa sơn thu nạp không trụ.
Những nơi kể trên tuy có hình tượng, nhưng không có biến hóa phân hợp. Phải có nước chảy xuống minh đường thì mới phát tài giàu có. Ai muốn nhà phát đạt phú quý thì phải dày công tạo huyệt mới được phúc lộc nối tiếp.
Nước dữ không đi cùng mạch thật
Nước hung hiểm ác độc nhất định không chạy cùng Long mạch chân chính; Long mạch chân chính nhất định không đi cùng dòng nước hiểm ác.
Nước uốn quanh như chữ chi, chữ huyền, chảy xuống quanh co, thì khỏi cần xét kỹ hình thái nhà cửa cũng đoán được huyệt tốt.
Đạo lý hàm chứa trong hai câu ấy rất sâu và rõ ràng. Có lúc đường nước vào cửa không hợp mặt huyệt thì còn có thể tu chỉnh cải tạo. Nhưng cải tạo bừa bãi cũng sinh họa lớn, như hai chuyện thực dưới đây.
Chuyện thứ nhất: một người đang làm quan, sau khi khai quật tu sửa huyệt Long, đất đào lên chưa khô thì trong gia tộc đã có ba thế hệ chết. Một nhà quan khác có huyệt Hợi Long hướng Bính, nước Bính chảy tới minh đường, đường nước quá rộng, lại phạm hình trực xung hồi Lộc. Thầy phong thủy đoán rằng năm sau là năm Dần, Thái Tuế xung sát, đến tháng năm trang viện nhất định cháy. Đến tháng năm năm sau, toàn bộ cơ ngơi cháy sạch.
Chuyện thứ hai: một vị quan khác có Tân Long nhập huyệt hướng Bính, nước Tân chảy sang hướng Đông, Dần là cửa nước, Long mạch thanh tú, chủ nhân thi đỗ, quan vận hanh thông. Một thầy phong thủy tầm thường khuyên ông đào một dòng nhỏ bên trái huyệt để hút vượng khí Hợi Long, hứa sẽ được vào Hàn lâm viện, hưởng vinh hoa đời đời. Ông nghe theo, thuê nhiều người đào kênh bên trái. Đào xong thì người nhà chết quá nửa, gia đình suy bại hoàn toàn.
Đó mới chỉ là hai ví dụ trong muôn vàn. Sáu mươi nơi không thể chôn cất ở đất bình dương kể trên là những điều thuộc về cổ động tuyệt diệu, chớ ai coi thường.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
