Bài tổng quan
Sống chết, mạch khí, nông sâu và lẽ cảm ứng của đất
Đào quá sâu thì sinh khí chạy xuyên qua phía trên huyệt, đào quá nông thì khí lướt dưới đáy, chỉ lệch vài tấc mà huyệt cát hóa thành huyệt hung. Người xưa còn dặn rằng đất tốt chưa đủ, vì tâm địa thiện lành mới là gốc còn hình thế chỉ là cành lá. Gốc ấy nối với đất bằng sợi dây nào?
Mục lục · 9 phần
- 01Sống và chết: giữ cái sống, bỏ cái chết
- 02Khí vô hình và mạch hữu hình
- 03Phân và hợp: mạch ra và mạch ẩn
- 04Nổi và chìm: mạch dương, mạch âm
- 05Nông và sâu: vài tấc đất quyết định cát hung
- 06Nhiêu và giảm: núi nào đến trước thì huyệt nằm bên nào
- 07Chọn và bỏ: cát hung luôn chia nhau một nửa
- 08Sức người bù chỗ khuyết của tạo hóa
- 09Cảm ứng: tâm địa tốt hơn âm địa tốt
Sống và chết: giữ cái sống, bỏ cái chết
Xét xong thuận nghịch thì phải xét đến sinh tử, tức là nên giữ lại hay bỏ đi một thế đất có lợi hay bất lợi. Long mạch chạy tới từ ngàn dặm cũng chỉ chiếm lấy một chỗ khuất khúc nào đó. Nếu không thẩm xét sinh tử để phân biệt thì lấy gì mà chọn giữ hay bỏ?
Nói đại khái, có khí là sinh, không có khí là tử. Long mạch hoạt bát sinh động là sinh, long mạch thô cứng, thẳng đuột quá mức là tử. Nếu thế long uốn sang bên trái thì bên trái là sinh còn bên phải là tử, uốn sang bên phải thì ngược lại. Nếu phải chọn thịt giữa xương thì xương là sinh, thịt là tử. Nếu phải chọn đói giữa no thì đói là sinh, no là tử. Việc cần làm luôn là chọn sinh mà bỏ tử.
Biết rõ nên chọn gì, bỏ gì thì mới định được cách dựng huyệt, và dựng huyệt đúng cách thì cát hung họa phúc sẽ ứng nghiệm. Gặp chỗ khó phân sinh tử, không biết giữ gì bỏ gì, thì đó không phải nơi tốt lành do tự nhiên tạo nên.
Khí vô hình và mạch hữu hình
Bước kế tiếp là quan sát kỹ chỗ nhỏ nhiệm của núi sông: chính là khí mạch. Khí vô hình thuộc dương, mạch hữu hình thuộc âm. Dương thì trong sáng, âm thì vẫn đục, cho nên khí thì mờ ảo còn mạch thì hiển hiện. Khí không thể tự kết tụ mà phải nhờ long mạch. Mạch cũng phải dựa vào khí mới sinh ra và thành hình. Vì vậy có chỗ có mạch mà không có khí, có chỗ lại có khí mà không có long mạch.
Khí gặp gió thổi thì phân tán, mạch gặp nước chảy thì dừng.
Không có long mạch mà cũng không có sinh khí là hậu quả của dòng nước xâm hại. Có long mạch mà không có sinh khí là hậu quả của thế gió xâm hại.
Người giỏi quan sát khí có thể nhìn hình thể cụ thể mà biết được khí vô hình. Nếu không như vậy thì vật hữu hình sẽ che lấp mất cái vô hình. Tóm lại cái vô hình chỉ nương trong cái hữu hình, và chỉ người có con mắt tinh mới nhận ra, nên họ tìm được điều tốt đẹp ngay ở nơi trông xấu xa. Nên biết rằng nước từ bốn phương tám hướng kết tụ thì thành mạch, còn gió từ bốn phương tám hướng đứng lặng thì sinh ra sinh khí.
Phân và hợp: mạch ra và mạch ẩn
Bước tiếp đến là quan sát phân hợp, tức sự xuất hiện và tàng ẩn của núi sông. Mạch không phải bỗng nhiên mà đến, bỗng chốc mà sinh. Mạch đang đi ra thì lúc tới phải uốn lượn êm ái, như thế mới có nước từ bốn phương dẫn đường. Mạch đang ẩn thì cần có nơi dừng chân, như thế mới có nước bốn phương hội tụ để làm giới hạn cho nó.
Quách Phác nói rằng khí tốt lành trên mặt đất tùy theo đất mà sinh ra, và khi khí dừng lại thì bố trí theo dòng nước. Nơi nhánh mạch bắt nguồn, khí sinh ra ở đó. Nơi nhánh mạch tụ hội, khí cũng theo đó mà tụ lại. Đó là lời cổ nhân bàn về cội nguồn và đường chảy của khí mạch.
Khí theo đất mà đi, nên mạch đang xuất hành thì ắt có hình sống lưng nổi lên. Khí theo nước mà vận hành liên tục, nên long mạch đi tới hay trở về thì ắt có dòng nước cùng đi. Khí sinh ra nơi nhánh mạch khởi nguồn, vì thế phía trên có phân mạch. Khí tụ lại nơi nhánh mạch dừng chân, vì thế phía dưới có hợp mạch.
Nếu chỉ có hợp mà không có phân, thì cái thế đi tới của long mạch là hư giả, vì bên trong nó không có khí sinh vượng để nối tiếp. Nếu chỉ có phân mà không có hợp, thì cái thế đi của long mạch sẽ mờ mịt, vì bên ngoài nó không có đường khí để thu nạp. Có phân lại có hợp, có đến lại có đi, đã xuất hành lại có ẩn tàng, thì huyệt của long mạch mới kết tụ, rồi mới thành nơi khí mạch tròn đầy.
Phân hợp cũng có nhiều trường hợp, chẳng hạn đại phân hợp và tiểu phân hợp. Nếu long huyệt chân thật kết ở nơi cát địa thì sẽ có tam phân tam hợp. Tam phân tam hợp trước sau huyệt, từ huyệt đến Long Hổ Sa, là chỗ kết tụ của tam phân tam hợp. Từ tổ long đến núi nước thì ắt là đại tam phân hợp. Tiểu phân hợp có tiểu minh đường, đại phân hợp có đại minh đường, cùng ứng hợp với long. Long Hổ bên trong làm nội minh đường, ứng hợp với Long Hổ bên ngoài thì làm ngoại minh đường.
Nổi và chìm: mạch dương, mạch âm
Nổi (phù) và chìm (trầm) nói về mặt ngoài và mặt trong của núi sông. Vì mạch có khác nhau về âm dương nên cũng có khác nhau về nổi chìm. Mạch dương luôn lộ ra ngoài nên gọi là phù. Mạch âm thường nằm bên trong nên gọi là trầm.
Người xem phong thủy cũng như thầy thuốc bắt mạch. Thầy thuốc giỏi thì xét mạch âm dương để định bệnh và cho thuốc đúng chỗ. Người xem đất giỏi thì xét nổi chìm để định huyệt chủ.
Phong thủy gia nhìn long mạch, thấy chỗ sinh ra có hình nhọn dài thì là dương, biểu hiện thành mạch phù. Cửa ra tròn thì là âm, mạch ẩn chìm bên trong. Nói rộng ra, những mạch nhô cao lên đều thuộc trầm, những mạch lặn thấp xuống đều thuộc phù. Nơi nào xung quanh đều cao mà chỉ có một chỗ lõm xuống thì đó là mạch phù. Nơi nào xung quanh đều lõm thấp mà chỉ có một chỗ nổi lên thì đó là mạch trầm.
Nông và sâu: vài tấc đất quyết định cát hung
Nông sâu là chuẩn mực của núi sông. Nông sâu hình thành tự nhiên nhờ khí mạch, nên chọn long huyệt nhất định phải lấy độ nông sâu làm chuẩn để dựng huyệt. Địa mạch hợp với chỗ nông, lộ rõ mà đào xuống quá sâu thì sinh khí chạy xuyên qua phía trên huyệt. Địa mạch hợp với chỗ sâu, tàng ẩn mà đào quá nông thì sinh khí lướt qua bên dưới huyệt. Cho nên dù chọn được nơi cát địa mà hiệu quả vẫn không cao, nguyên do đều ở chỗ này.
Trước hết phải xét âm dương của lai mạch, rồi mới xét sự nâng đỡ của sa sơn bốn mặt. Nếu lai mạch lúc nhập thủ hùng dũng mạnh mẽ, huyệt thành chỗ lõm thấp mà cửa ra nhọn dài thì đó là mạch phù, huyệt cần nông. Nếu lai mạch lúc nhập thủ yếu ớt, huyệt thành chỗ nhô lên mà cửa ra tròn thì mạch thuộc trầm, huyệt thuộc âm, huyệt cần sâu và kín. Vậy nông sâu của núi sông hình thành tự nhiên nhờ khí mạch, và đây là phương pháp quan trọng nhất để tìm độ nông sâu của đất. Phải xét kỹ âm dương của long mạch lúc nhập thủ, cùng đường giới hạn của huyệt có hợp hay không, rồi mới căn cứ vào độ nông sâu hợp lý mà chọn huyệt.
Huyệt cần nông mà đào quá sâu, hay cần sâu mà đào quá nông, thì dù chỉ lệch vài tấc cũng khiến huyệt cát thành hung sát. Kinh Thư viết rằng chọn được một huyệt tốt lành mà độ nông sâu khi táng không thích hợp, dẫn tới hung sát, thì chẳng khác nào đem thây bỏ ngoài ruộng. Còn bây giờ có thuyết cửu tinh dùng thước đo để định độ nông sâu, đó là điều hoàn toàn sai lầm, không có căn cứ.
Nhiêu và giảm: núi nào đến trước thì huyệt nằm bên nào
Nhiêu giảm là thế tiêu và trưởng của núi sông. Thanh Long và Bạch Hổ hai bên trái phải đều có chỗ khác nhau về nhiêu và giảm. Chuyện Long sa, Hổ sa phong phú hay nghèo nàn rốt cuộc là chuyện âm dương tiêu tán hay sinh trưởng. Phép và chuẩn mực của nhiêu giảm lấy bên đến trước làm chủ. Nếu núi bên Long đến trước thì núi Long nghèo nàn mà núi Hổ phong phú, huyệt ắt đóng bên trái. Nếu núi bên Hổ đến trước thì núi Hổ tiêu mà núi Long trưởng, huyệt ắt đóng bên phải.
Cửa ải của núi sông và dòng nước phải giao kết vững chắc thì khí mạch mới tròn đầy. Huyệt đóng bên trái thì chọn sơn mạch bên trái làm cửa khẩu, nước bên trái phải vòng qua cung, bao chặt chỗ đứt đoạn mới là cát. Thế ấy gọi là âm tỏa dương quan. Còn dương tỏa âm quan là huyệt gần bên phải thì chọn sơn mạch bên phải làm cửa khẩu, nước xuyên qua cung cắt ngang chỗ khóa chặn.
Chỉ có núi và nước chảy chầu thuận mới vây được và phá được thế thuận. Nếu nước ngang chảy qua cung thì phải nghịch hướng mà vây phá mới cát. Dù chỉ sai vài phân, cát hung họa phúc cũng khác xa nhau.
Chọn và bỏ: cát hung luôn chia nhau một nửa
Kế đó là xét xu tị, tức việc chọn lựa và quyết định. Đạo của trời đất là một chia thành hai, cát hung họa phúc thường chiếm mỗi bên một nửa. Không thể có phúc cát trọn vẹn, cũng không thể có hung họa trọn vẹn. Đời người hay gặp những sai sót bất ngờ, nên ai cũng có khuynh hướng theo phúc thiện, ham điều tốt đẹp, trốn tránh hung họa, rời xa tà ác. Phong thủy cũng vậy. Nơi núi nước hội tụ không hoàn toàn thuần nhất, tốt lành tròn đầy. Không thể có khí mạch mà không lẫn chút tạp nào. Đã không thể không có, thì thiện ác phúc họa đấu tranh mà cùng tồn tại, ấy cũng là đạo lý thường.
Nhưng núi sông biến hóa thiên hình vạn trạng, chỉ lệch vài phân là tình hình đã khác. Có địa mạch nhìn từ thấp thì xấu xí mà lên cao nhìn lại diệu kỳ, đẹp đẽ. Lại có địa mạch đứng bên trái nhìn thấy tốt lành mà nhìn từ bên phải lại thấy xấu ác khó coi.
Sức người bù chỗ khuyết của tạo hóa
Sau đó là xét tài thành, tức phần việc của con người. Sức người và tự nhiên phải ứng nhau: nếu tự nhiên không phối hợp thì sức người cũng không được như nguyện. Từ khi vũ trụ vô biên sinh ra, núi sông thuận theo đó mà có, số lượng không quá nhiều, tác dụng không quá ít, và phải có sẵn tự nhiên rồi mới định được. Vì vậy trời đất tạo hóa cũng có hạn.
Sự kết tụ của núi sông đều nhờ vào tự nhiên, còn việc núi sông vây bọc, vượt qua rồi tạo thành huyệt thì lại hoàn toàn nhờ vào sức người. Nếu hình thế núi sông có chỗ thừa thì cắt bớt để nó hoàn chỉnh. Nếu có chỗ thiếu thì bổ sung vào chỗ khuyết để nó hoàn thiện. Cắt dài thêm ngắn, san cao lấp thấp, thảy đều hợp đạo tự nhiên.
Bởi vậy phong thủy sư giỏi cải tạo địa hình có thể khiến nó hợp chuẩn mực mà vẫn không làm tổn hại dáng vẻ tự nhiên của nó.
Cảm ứng: tâm địa tốt hơn âm địa tốt
Bước cuối cùng là quan sát cảm ứng. Cảm ứng chính là đạo trời. Đạo trời không cần nói ra cũng vẫn ứng nghiệm và phối hợp. Phúc lộc, thiện lương, tai họa, dâm tà đều do đạo trời sinh ra. Tục ngữ có câu âm địa tốt không bằng tâm địa tốt. Cho nên tìm chọn địa mạch, huyệt vị phải lấy việc tích thiện làm gốc. Người có đạo đức, phẩm chất cao đẹp thì trời ứng với đất mà thêm tốt lành. Con cháu đời sau hưởng được phúc là vì tâm địa thiện lương chính trực, và tâm địa trung hậu tự ứng với địa mạch cát lợi.
Tâm là gốc và là nội dung của khí, khí là hình thức và là cành lá của tâm. Trời không hề có ý riêng với người, nhưng tự nhiên cảm ứng với tâm khí của người. Quách Phác nói rằng cát hung cảm ứng với nhau, tai họa và phúc đức tự nhiên mà đến. Người ta lo cho di hài tổ tiên thì ắt chọn nơi địa mạch tốt lành để an táng. Nhưng nếu không gắng sức tu tâm dưỡng tính để cầu cái gốc, mà chỉ chăm chú xem hình thế cành lá thì sẽ tổn hại rất nhiều đến tổ tiên và con cháu đời sau.
Tinh hoa của phong thủy địa lý rốt cuộc dồn lại ở chỗ cảm ứng này. Vì vậy trước bất cứ lựa chọn hay quyết định nào cũng không thể không thận trọng.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
